nguồn gốc của lợi nhuận và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế của việt nam

Kira
Kira(23338 tài liệu)
(386 người theo dõi)
Lượt xem 1
0
Tải xuống 5,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 26 | Loại file: DOC
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 19/02/2014, 09:31

Mô tả: Lời mở đầuDân tộc Việt Nam đợc thế giới đánh giá là một trong những dân tộc cótruyền thống yêu nớc sâu sắc. Nhân loại đã biết đến chúng ta với những kỳtích chặn đứng vó ngựa trờng chinh bách chiến bách thắng của quân MôngCổ, với chiến công Điện Biên Phủ với chiến dịch Hồ Chí Minh. Đó là nhữngtrang sử hào hùng của dân tộc ta trong lịch sử hàng nghìn năm xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc. Còn hiện nay - trớc ngỡng cửa thế kỷ XXI - Việt Nam làmột đất nớc thuộc nhóm nghèo nhất thế giới thu nhập bình quân đầu ngời ch-a đầy 300 USD chúng ta đang đứng trớc nguy cơ tụt hậu. Sự thật đó để lạitrong lòng mỗi chúng ta những cảm xúc sâu sắc. Tại sao vậy? Đó là vì kinhtế có những yêu cầu và quy luật riêng của nó. Những chiến thắng trên mặttrận không thể làm ra đợc những chiến công về kinh tế, sách lợc chiến trờngkhông thể là chiến lợc về kinh tế. Một thời gian chúng ta đã ngộ nhận xemlợi nhuận là cái gì xấu xa, là phạm trù không có ở CHXH. Sản xuất là chỉ đểphục vụ chứ không vì mục tiêu lợi nhuận. Ngày nay, trong thời kỳ quá độ lênCHXH, chúng ta đang vận hành đất nớc theo cơ chế thị trờng trong nền kinhtế hàng hoá nhiều thành phần có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nớc thì lợi nhuậnchính là quan toà công minh nhất là để phán xét sự tồn tại phát triển của mọidoanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì thị trờng sẽ loại doanh nghiệp đó ra khỏi sânkhấu kinh tế, và nếu ngợc lại thì doanh nghiệp đợc tiếp tục phát triển, lợinhuận phải thực sự từ năng suất chất lợng - hiệu quả trong sản xuất - kinhdoanh chân chính từ tài năng quản lý sản xuất kinh doanh hiện đại mà tạo ragiá trị lợi nhuận cả về kinh tế văn hoá - một truyền thống và cốt cách ngờiViệt Nam. Hơn bao giờ hết, lợi nhuận là sự sống còn của doanh nghiệp, làđộng lực phát triển, bởi thế em chọn đề tài :"Nguồn gốc của lợi nhuận và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam" Đây là một tiểu luận nhỏ song đó cũng là một bài viết có tính khoahọc và logic cao. Tuy nhiên với kiến thức ít ỏi của mình em không thể tránhkhỏi những khiếm khuyết trong tiểu luận nên em mong nhận đợc sự bổ sung,phê phán của thầy. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo đã cung cấp phầnlớn kiến thức và phơng pháp luận để em hoàn thành tiểu luận này.1phần inguồn gốc của lợi nhuậni. các quan điểm trớc mác về lợi nhuận:1. Quan điểm của trờng phái trọng thơng:Trờng phái này ra đời từ giữa thế kỷ 15 đến giữa thế kỷ 17 trong điềukiện chế độ phong kiến bị tan rã và chủ nghĩa t bản thực hiện tích luỹ nguyênthuỷ của t bản. Họ là những nhà kinh tế học đầu tiên đi tìm nguồn gốc, đi tìmlợi nhuận trong lu thông. Họ đã sống trong thời đại t bản t nhân và ngoài tbản t nhân ra, họ không biết một hình thái t bản nào khác, họ cũng khôngbiết một hình thức lợi nhuận nào khác ngoài lợi nhuận thơng nghiệp. Vì t bảnthơng nghiệp chỉ hoạt động trong lu thông nên không thấy làm lạ gì họ chỉchú ý đến lu thông. Theo họ lợi nhuận thơng nghiệp là kết quả do lu thông,mua bán trao đổi sinh ra, là do kết quả của việc mua rẻ bán đắt mà có.2. Quan điểm của trờng phái trọng nông:Trờng phái trọng nông đã chuyển việc nghiên cứu các hiện tợng kinhtế từ lĩnh vực lu thông sang lĩnh vực sản xuất. Đây là một bớc tiến bộ so vớitrọng thơng. Trong phái trọng nông là các nhà kinh tế học Pháp thế kỷ 18 nh-ng họ vẫn nêu ra đợc một lý luận đúng đán về lợi nhuận. T tởng của họ là:sản phẩm thặng d, do đó cả lợi nhuận nữa cũng đợc tạo ra trong nông nghiệp.Vì vậy, họ chỉ coi lao động trong nông nghiệp là lao động sản xuất, còn mọilao động khác - không những trong thơng nghiệp mà cả trong nông nghiệpđều bị họ coi là lao động không sinh lợi.3. Quan điểm của trờng phái cổ điển Anh:Các nhà kinh tế chính trị cổ điển anh nh: Adam Smith và DavidRicardo đều phân tích lý luận về lao động. Trene thực tế họ coi lợi nhuận làkết quả của lao động thặng d. Nhng họ không trình bày nguyên lý đó mộtcách rõ ràng, cha nêu ra đợc một lý luận hoàn chỉnh về lợi nhuận.+ Theo Adam Smith, lợi nhuận tham gia vào việc hình thành giá trị vớit cách một nhân tố hình thành giá cả nhng cha nêu đợc nguồn gốc của lợinhuận.+ Ricardo đã đi xa hơn Smith. Theo ông, lợi nhuận và tiền công là 2bộ phận của giá trị lao động tạo nên. Ông đã đa ra một số kết quả quan trọnglà: lợi nhuận và tiền công đối lập nhau. Sự tăng hay giảm của một trong haiyếu tố đó đều sẽ gây ra sự giảm hay tăng của yếu tố kia. Từ đó, Ricardo cũngkhẳng định việc tăng hay giảm lợi nhuận hoặc tiền công không có ảnh hởng2gì đến giá cả mà chỉ ảnh hởng đến sự phân phối giá trị giữa công nhân vớicác nhà t bản. Vậy, Ricardo đã quy lợi nhuận thành giá trị thặng d. Tuynhiên, Ricardo vẫn không nêu ra đợc khái niệm giá trị thặng d. Khi nói đếnnăng suất lao động, ông không coi đó là nguyên nhân quyết định của lợnggiá trị thặng d mà thôi. Nh vậy, Ricardo đã bỏ qua giá trị thặng d và chỉ quantâm đến hình thái học của nó: lợi nhuận, lợi tức, lợi tô, những cái mà ông đãquy về nguồn gốc của chúng, về lao động không đợc trả công. Sai lầm củaRicardo ở chỗ coi chủ nghĩa t bản là một hình thức t bản của nền sản xuất xãhội nên ông đã có nhiều luận điểm sai lầm và mâu thuẫn. 1 - Mức tăng củalợi nhuận phụ thuộc vào mức tăng của năng suất lao động, nhng Ricardolại hoàn toàn không hiểu rõ thực chất của lợi nhuận ở chỗ: Một mặt lợinhuận là hình thái biến tớng của giá trị thặng d, mặt khác nó là hình tháiđặc biệt của giá trị thặng d. 2 - Lợi nhuận và tiền công là hai bộ phận củacùng một giá trị do lao động quyết định.Nhìn chung, các nhà kinh tế cổ điển đã chuyển việc nghiên cứu cáchiện tợng kinh tế từ lĩnh vực lu thông sang lĩnh vực sản xuất nên họ đã xâydựng khoa kinh tế chính trị học với t cách là một môn khoa học. Do khônghiểu đợc đặc điểm của nền sản xuất t bản chủ nhgiã nên họ không thể giảiquyết cả vấn đề t bản lẫn vấn đề lợi nhuận. Chỉ có Mác, sau khi nghiên cứunền sản xuất t bản chủ nghĩa nh là sự thống nhất giữa hai giai đoạn sản xuấtt bản chủ nghĩa và gia đoạn lu thông t bản chủ nghĩa mới quy đợc lợi nhuậnthành giá trị thặng d tức là nghiên cứu lợi nhuận dới hình thái chung nhất củanó.ii. học thuyết giá trị thặng d và lý luận lợi nhuận củac.mác1. Sự tạo ra giá trị thặng d:Trong nền sản xuất hàng hoá sựa trên chế độ t hữu về t liệu sản xuất,giá trị sử dụng không phải là mục đích. Giá trị sử dụng đợc sản xuất chỉ vì nólà vật mang giá trị trao đổi. Nhà t bản muốn sản xuất ra một giá trị sử dụngcó một giá trị trao đổi, nghĩa là một hàng hoá. Hơn nữa, nhà t bản muốn sảnxuất ra một hàng hoá có giá trị lớn hơn tổng giá trị những t liệu sản xuất vàgiá trị sức lao động mà nhà t bản đã bỏ ra để mua, nghĩa là muốn sản xuất ragiá trị thặng d. Để hiểu rõ quá trình sản xuất ra giá trị thặng d, ngời ta nghiêncứu bài toán sau đây:Chi phí TBCH để sản xuất, gồm có chi phí về t bản bất biến và t bảnkhả biến, tức là những chi phí về t liệu sản xuất và tiền lơng công nghiệp.Đối với t bản hàng hoá đáng giá bao nhiêu là tính theo t bản đã chi phí, đối3với xã hội hàng hoá đáng giá bao nhiêu là tính theo lao động đã hao phí. Bởivậy, những chi phí TBCN để sản xuất ra hàng hoá, thấp hơn giá trị của hànghoá ấy, tức là thấp hơn những chi phs sản xuất thực tế. Chỗ chênh lệch giãgiá trị hay chi phí sản xuất thực tế và chi phí sản xuất TBCN, là giá trị thặngd mà nhà t bản chiếm không. Để hiểu rõ hơn quá trình này, ta nghiên cứu bàitoán sau:Giả định để sản xuất 10kg bông, giá trị 10.000đ. Để biến số bông đóthành sợi, một công nhân phải làm việc trong 6 giờ và hao mòn máy móc là2.000đ. Giá trị sức lao động trong một ngày của công nhân là 6.000đ, trongmột giờ lao động công nhân tạo ra một giá trị là 1.000đ, cuối cùng ta giảđịnh rằng: "Trong quá trình sản xuất toàn bộ bông biến thành sợi". Vậy nếungời công nhân làm việc trong 6 giờ thì không tạo ra giá trị thặng d. Tuynhiên, sức lao động mà nhà t bản phải trả khi mua và giá trị mà sức lao độngcó thể tạo ra cho nhà t bản là hai đại lợng khác nhau mà nhà t bản đã tính đếntrớc khi mua sức lao động trong ngày. Việc sử dụng sức lao động trong ngàyđó thuộc về nhà t bản. Trên thực tế, nhà t bản bắt công nhân làm việc hơn 6giờ, giả sử là 12 giờ trong 1 ngày.Chi phí sản xuất TBCN Giá trị của sản phẩm mới (20 kg sợi)- Tiền mua bông là 2.000đ- Hao mòn máy móc 4.000đ- Tiền mua sức LĐ trong 1 ngày- Giá trị của bông đợc chuyển vào sợi- Giá trị máy móc đợc chuyển vào sợi 4.000đ- Giá trị LĐ của CN tạo ra trong 12 giờ LĐ:1 ngày 6.000đ30.000đ1.000đ x 12 = 12.000d36.000đNh vậy, toàn bộ chi phí của nhà t bản để mua t liệu sản xuất và sức laođộng là 30.000đ. Trong 12h lao động, công nhân tạo ra một sản phẩm mới(20 kg sợi) có giá trị bằng 36.000đ, lớn hơn giá trị ứng trớc của nhà t bản.36.000đ - 30.000đ = 6.000đ. Vậy 30.000đ ứng trớc chuyển hoá thành36.000đ, đợc một giá trị thặng d là 6.000đ. Vậy tiền đã biến thành t bản.Phần giá trị mới dôi ra so với giá trị sức lao động gọi là giá trị thặng d.Thông qua việc nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng d trên, tathấy rằng giá trị sản phẩm mới đợc sản xuất ra có 2 phần:+ Giá trị cũ: Giá trị những t liệu sản xuất nhờ lao động cụ thể của ngờicông nhân mà đợc bảo tồn và duy chuyển vào giá trị của sản phẩm mới(24.000đ).+ Giá trị mới: Giá trị do lao động trừu tợng của công nhân tạo ra trongquá trình lao động (6.000đ).4Nh vậy, giá trị thặng d là giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao độngdo công nhân tạo ra và bị nhà t bản chiếm không.Nhận xét về học thuyết giá trị thặng d của C.Mac: Lênin đã từng đánhgiá học thuyết giá trị thặng d là "Hòn đá tảng" của toàn bộ học thuyết kinh tếcủa Mác, ở trong học thuyết giá trị thặng d , Mác đã vạch rõ bản chất bóc lộtcủa nhà t bản, đã chứng minh công thức của nhà và giá trị thặng d là do côngnhân sáng tạo ra bị nhà t bản chiếm không. Nếu xét trên góc độ kinh tế, giátrị thuộc về nhà t bản nhng giá trị sử dụng lại thuộc về xã hội. Do đó, côngnhân càng tạo ra nhiều giá trị thặng d thì xã hội càng nhiều của cải. Nếucông nhân không tạo ra giá trị thặng d ngời t bản không đợc gì, sản phẩm xãhội không tăng lên, kinh tế không phát triển. Chính vì thế, giai cấp t bản timthấy lao động thặng d là một phát minh vĩ đại để tạo ra bớc tăng trởng kinh tếvà chính lòng khao khat lao động thặng d bằng mọi cách đã làm cho nềnkinh tế phát triển nhảy vọt từ khi họ lên nắm địa vị thống trị. ở bề ngoài xãhội thì không có giá trị thặng d mà chỉ có lợi nhuận thôi.2. Lợi nhuận.Giá trị của hàng hoá sản xuất tong xã hội TBCN, ba gồm ba bộ phận:1- Giá trị của t bản bất biến (c) (một phần giá trị máy móc, nhà xởng, giá trịcủa nhiên liệu, ). 2- Giá trị khả biến(v). 3- Giá trị thặng d (m): Lợng giá trịcủa hàng hoá là do số ngời lao động xã hội cần thiết đẻ sản xuất ra hàng hoáquyết định. Nhng nhà t bản không hao phí lao động vào sản xuất hàng hoá,mà chỉ bỏ t bản vào đó thôi. Chi phí t bản chủ nghĩa đẻ sản xuất hàng hoá, gồm có những chi phí vềđầu t bản bất biến và t bản khả biến (c+v), tức là những chi phí về t liệu sảnxuất và tiền lơng công nhân. Đối với nhà t bản, hàng hoá đánh giá bao nhiêulà tính theo t bản đã chi phí, đối với xã hội, hàng hoá đánh giá bao nhiêu làtính theo lao động đã hao phí. Bởi vậy những chi phí t bản chủ nghĩa đẻ sảnxuất hàng hoá, thấp hơn giá trị sản xuất thực tế (c+v+m). Chỗ chênh lệchgiữa giá trị hay chi phí sản xuất thực tế và chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa, làgiá trị thặng d (m) mà nhà t bản chiếm không. Khi nhà t bản hàng hoá do xí nghiệp của mình sản xuất ra, thì giá trịthặng d biểu hiện bằng số thừa ngoài chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa. Khixác định mức thu nhập của xí nghiệp, nhà t bản so sánh số thừa đó với số tbản ứng trớc tức là tổng t bản đã bỏ vào sản xuất. Giá trị thặng d, khi so sánhvới tổng t bản, thì biểu hiện thành hình thức lợi nhuận. Vì giá trị thặng d bịđem so sánh không phải với t bản khả biến mà với toàn bộ t bản cho nên chỗ5khác nhau giữa t bản bất biến dùng vào việc mua t liệu sản xuất và t bản khảbiến dùng vào mua sức lao đọng bị xoá mờ đi. Do đó mà sinh ra cái bề ngoàigiả dối khiến cho ngời ta tởng lầm rằng: lợi nhuận là do t bản đẻ ra. Nhng sựthật thì nguồn gốc của lợi nhuận là giá trị thặng d, và giá trị thặng d chỉ là dolao động của công nhân sáng tạo ra trong quá trình sử dụng lao động, mà giátrị của nó thể hiện ở t bản khả biến. Lợi nhuận là giá trị thặng d so sánh vớisố t bản đã bỏ vào sản xuất; nhìn bề ngoài giá trị thặng d có vẻ là kết quả củasố t bản ấy. Vì vậy Mác gọi lợi nhuận là hình thức biến tớng của giá trị thặngd. Và nh vậy, hình thức lợi nhuận đã che dấu quan hệ bóc lột bằng cách tạora quan niệm sai lầm rằng: lợi nhuận là do chính bản thân t bản đẻ ra. Chínhcác hình thức quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa đã lam lu mờ và che giấuthực chất bóc lột của nó. Nếu gọi lợi nhuận là p, thì công thức GT = c + v + m = k + m sẽchuyển hoá thành GT = k + p hay giá trị hàng hoá = chi phí sản xuất + lợinhuận vậy, lúc thoạt nhìn ta thấy rằng p và m cùng là một. Tuy nhiên giữa lợinhuận và giá trị thặng d không phải là hoàn toàn thống nhất mà giữa chúngcũng có sự khác nhau.Về mặt chất: giá trị thặng d phản ánh nguồn gốc sinh ra từ t bản luđộng, là biểu hiện của lao động thặng d; còn lợi nhuận đợc xem là toàn bộ tbản ứng trớc đề ra. Giá trị thặng d là biểu hiện của quan hệ giai cấp; còn lợinhuận biểu hiện mối quan hệ giữa vật với vật.Về mặt l ợng: nếu hàng hoá bán đúng giá trị của nó thì ngời ta đã thựchiện đợc một lợi nhuận rồi. Lợi nhuận đó bằng giá trị thừa ra ngoài chi phísản xuất hàng hoá, tức là bằng toàn bộ giá trị thặng d chứa đựng trong giá trịcủa hàng hoá (m = p). Nhng nhà t bản có thể bán hàng hoá dới giá trị của nómà vẫn có lợi nhuận. Bởi vì chừng nào có giá bán của hàng hoá còn cao hơnchi phí sản xuất của nó, dù giá bán thấp hơn giá trị của nó thì bao giờ cũngvẫn thực hiện đợc một bộ phận giá trị thặng d chứa đựng trong đó. Nh vậy,lợi nhuận là một phạm trù trong lu thông. Nhà t bản thu đợc lợi nhuận nhiềuhay ít phụ thuộc vào giá trị hàng hoá. Lợi nhuận xoay quanh giá trị thặng dcũng nh giá cả dao động quanh giá trị nhng tổng giá trị thặng d bằng tổng lợinhuận cũng nh tổng giá trị bằng tổng giá cả.Tóm lại, sự khác nhau giữa lợi nhuận giá trị thặng d cũng giống nh sựkhác nhau giữa giá trị và giá trị trao đổi. Lợi nhuận là sự thể hiện, tức là"hình thái biến tớng" của giá trị thặng d. Và cũng nh khi nghiên cứu giá trị,thoạt tiên Mác gạt bỏ hình thái giá trị của nó, tức giá trị trao đổi. Chỉ sau khi6lần mò vết tích của giá trị, Mác mới trở lại giá trị trao đổi. ở đây cũng thế,thoạt tiên Mác nghiên cứu giá trị thặng d mà không đả động gì đến các hìnhthái của nó, Mác chỉ giải thích thực chất của giá trị thặng d, xét xem nó đợcsản xuất nh thế nào và ai sản xuất nó. Chỉ sau khi nghiên cứu nh thế, Mácmới chuyển sang nghiên cứu hình thái của nó tức là nghiên cứu lợi nhuận.Nhng lúc này phạm vi sản xuất sang một bên và chuyển sang phạm vi luthông, vì giá trị thặng d chỉ chuyển hoá thành lợi nhuận trong lu thông. Nhvậy, Mác đã chỉ ra rằng: giá trị thặng d biểu hiện thực chất của phơng thứcsản xuất TBCN. Còn lợi nhuận là một trong những "hình thái cụ thể" mà dớihình thái đó t bản hiện ra ở bề mặt của xã hội.3. Tỷ suất lợi nhuận:Đối với ngời chủ xí nghiệp thì mức lãi của xí nghiệp TBCN cao haythấp là do tỷ suất lợi nhuận quyết định. Tỷ suất lợi nhuận là biểu hiện tỷ sốgiữa giá trị thặng d và tổng t bản (P' = m/k.100%). Ví dụ: nếu t bản ứng trớclà 20.000$, nếu lợi nhuận hàng năm là 40.000$ thì tỷ suất lợi nhuận là40.000/20.000 x 100% = 20%,Sự chuyển hoá giá trị thặng d thành lợi nhuận đợc hoàn thành ở sựchuyển hoá tỷ suất giá trị thặng d thành tỷ suất lợi nhuận. Sự chuyển hoá giátrị thặng d thành lợi nhuận đã nằm trong việc chia giá trị của hàng hoá thànhchi phí sản xuất kinh tế tăng thêm ngoaì chi phí sản xuất, nhng sự chuyểnhoá đó đợc biểu hiện một cách độc lập và đặc thù trong tỷ suất lợi nhuận. Tỷsuất lợi nhuận biểu hiện tỷ số giữa số tăng thêm nói trên với tổng t bản. Dođó, nó củng cố ấn tợng cho rằng lợi nhuận là "con đẻ" của TBCN.Dới chế độ TBCN, mức độ bóc lột lao động của ngời khác mang hìnhthức tăng giá trị, biểu hiện ở tỷ suất giá trị thặng d, nh vậy sẽ không tránhkhỏi việc phải chuyển tỷ suất giá trị thặng d thành tỷ suất lợi nhuận bởi vì cảbản thân giá trị lẫn mức tăng giá trị đều chỉ có thể hiện trong lu thông. Nhngtỏng lu thông còn có sự khác nhau giữa t bản khả biến và t bản bất biến, giátrị của hàng hoá chia ra thành chi phí sản xuất và số tăng thêm ngoài chi phísản xuất. Do đó trong biểu thức về mức độ, bóc lột tỷ số giữa giá trị thặng dvới t bản khả biến (m/v), đã chứa đựng sự chuyển hoá tỷ số ấy thành tỷ sốgiữa giá trị thặng d với tổng t bản (m/(c/v)) hay (m/không trên thực tế, cácnhà t bản không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn quan tâm nhiều hơn đếntỷ suất lợi nhuận. Bởi vì tỷ suất lợi nhuận cho biết nhà t bản đầu t vào đâu thìcó lợi. Đối với nhà t bản nếu P' = 100% thì đầu t khắp nơi, nếu P' = 200% thì7sẽ bất chấp cả pháp luật và còn nếu P' = 300% thì treo cổ nhà t bản vẫn cứlàm.Do đó, tỷ suất lợi nhuận không chỉ là mục tiêu theo đuổi mà còn làđộng lực chính, là yếu tố để cạnh tranh, là sự thèm khát vô hạn. Trên thực tếthì tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp tuỳ thuộc vào nhiều nhana tố khách quannh tỷ suất giá trị thặng d, tiết kiệm t bản bất biến, cấu tạo hữu cơ, tốc độ chuchuyển, Bởi thế, các nhà t bản đầu t vào Việt Nam đang tập trung vàonhững ngành có tỷ suất lợi nhuận cao, thu lợi nhuận nhanh nh chủ nghĩa khaithác, du lịch.3. Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.Trong cuộc đấu tranh giành chỗ đầu t có lợi nhất, các nhà t bảnh cạnhtranh với nhau kịch liệt. Họ muốn đầu t vào những ngành sản xuất có triểnvọng thu đợc nhiều lợi nhuận hơn trong khi theo đuổi lợi nhuận cao, t bảnchuyển từ ngành này sang ngành khác, kết quả là hình thành nên tỷ suất lợinhuận bình quân và tiến hành phân phối lao động và t bản sản xuất giữa cácngành sản xuất TBCN.Giả sử trong xã hội có ba ngành: Ngành da, ngành dệt và ngành chếtạo máy móc, với số t bản bằng nhau, nhng cấu tạo hữu cơ thì khác nhau. Tbản ứng trớc trong mỗi ngành ấy là 100 đơn vị (thí dụ là 100 triệu đồng đôla). T bản của ngành da gồm 70 đơn vị là t bản bất biến và 30 đơn vị là t bảnkhả biến; t bản của ngành dệt gồm có 80 đơn vị là t bản bất biến và 20 đơn vịlà t bản khả biến; và t bản của ngành chế tạo máy móc gồm có 90 đơn vị là tbản bất biến và 10 đơn vị là t bản khả biến. Giả sử tỷ suất giá trị thặng dtrong cả ba ngành đều nh nhau: 100%. Nh thế thì giá trị thặng d tạo ra trongngành da sẽ là 30 đơn vị, trong ngành dệt là 20 và tỏng ngành chế tạo máymóc là 10. Giá trị của hàng hoá trong ngành thứ nhất sẽ là 130, trong ngànhthứ hai là 120, trong ngành thứ ba là 110, và trong toàn bộ cả ba ngành là 360đơn vị.Nếu hàng hoá bán ra theo giá trị của nó, thì tỷ suất lợi nhuận trongngành da sẽ là 30% ((30/100).100), trong ngành dệt là 20% ((20/100).100),trong ngành chế tạo máy móc là 10% ((10/100)/100). Phân phối lợi nhuậnnh thế thì sẽ rất có lợi đối với các nhà t bản thuộc ngành da, nhng không cólợi đối với các nhà t bản thuộc ngành chế tạo máy móc. Khi ấy thì các chủ xínghiệp ngành chế tạo máy móc sẽ đi tìm nơi đầu t có lợi hơn. Và họ sẽ thấyngành da là nơi có lợi hơn cả. Thế là họ chuyển t bản ở ngành chế tạo máymóc sang ngành da. Kết quả là số lợng hàng hoá sản xuất ra trong ngành da8sẽ tăng lên, sự cạnh tranh tất nhiên sẽ sâu sắc thêm và sẽ bắt buộc các chủ xínghiệp của ngành này phải giảm giá hàng hoá của họ xuống, điều đó sẽ điđến chỗ hạ thấp tỷ suất lợi nhuận. Trái lại, trong ngành chế tạo máy móc, sốlợng hàng hoá sản xuất ra sẽ ít đi, và sự thay đổi tơng quan giữa cung và cầusẽ giúp cho các chủ xí nghiệp nâng cao đợc giá hàng cuả họ lên và do đó tỷsuất lợi nhuận cũng tăng lên.Tình trạng sụt giá trong ngành da và lên giá trong ngành chế tạo máymóc, sẽ tiếp diễn cho đến khi nào tỷ suất lợi nhuận trong cả ba ngành xấp xỉbằng nhau mới thôi. Điều đó sẽ xảy ra khi mà hàng hoá của cả ba ngành đềubán theo giá 120 đơn vị (130 + 120 + 110)/3).Lợi nhuận bình quân của mỗi ngành, trong những điều kiện ấy, sẽ là20 đơn vị. Lợi nhuận bình quân là một lợi nhuận bằng nhau của những số tbản bằng nhau bỏ vào các ngành sản xuất khác nhau.Việc bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận và việc biến giá trị thành giá cảsản xuất càng che dấu thêm quan hệ bóc lột, càng che dấu thêm nguồn gốclàm già thực sự của bọn t bản. thực ra thì sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bìnhquân có nghĩa là phân phối lại giá trị thặng d giữa các nhà t bản trong cácngành sản xuất khác nhau. Nhà t bản thuộc ngành có cấu tạo hữu cơ t bảncao, chiếm đoạt đợc một phần giá trị thặng d do các ngành có cấu tạo hữu cơt bản thấp sáng tạo ra. Bởi vậy, công nhân không những bị nhà t bản thuêmình bóc lột, mà còn bị toàn bộ giai cấp các nhà t bản bóc lột. Toàn bộ giaicấp các nhà t bản đều quan tâm đến việc nâng cao mức độ bóc lột công nhân,vì điều đó làm tăng thêm tỷ suất lợi nhuận bình quân. Nh Mác đã vạch rõ, tỷsuất lợi nhuận bình quân thay đổi tuỳ theo mức độ bóc lột của toàn bộ t bảnđối với toàn bộ lao động.iii. quan điểm của các nhà kinh tế t sản hiện đại về lợinhuận:1. Quan điểm của các nhà kinh tế t sản hiện đại về lợi nhuận:Các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng: Lợi nhuận là lợng dôi ra củadoanh thu so với chi phí. Trong đó, doanh thu của một hãng là số tiền mà nókiếm đợc qua việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ trong một giai đoạn nhất định,vì dụ nh một nặm. Chi phí của hãng là những phí tổn phải chịu khi sản xuấtra hàng hoá hoặc dịch vụ trong thời kỳ đó.Lợi nhuận là mục tiêu cao nhất, là điều kiện tồn tại và phát triển củadoanh nghiệp. Để cung cấp hàng hoá cho thị trờng, các nhà sản xuất phải bỏtiền vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh. Họ mong muốn chi phí chocác đầu vào thấp nhất và bán hàng hoá với giá cao nhất để sau khi trừ đi các9chi phí còn số d dôi ra không chỉ sản xuất giản đơn mà còn tái sản xuất mởrộng, không ngừng tích luỹ phát triển sản xuất, củng cố và tăng cờng vị trícủa mình trên thị trờng.+ Ngày nay, để thu đợc nhiều lợi nhuận, nhà t bản sẽ không đầu tnhiều vốn để thuê lao động mà đầu t vào máy móc hiện đại, tự động khi màlợi nhuận thu đợc phải tong xứng với lợi nhuận bình quân xã hội, mặc dù giátrị đợc tạo ra trong đó có giá trị thặng d nhỏ hơn nhiều so với giá trị của hànghoá. Vì vậy lợi nhuận nhà t bản thu đợc trong điều kiện tiến bộ kỹ thuật, tựđộng hoá là do sự chuyển hoá giá trị thặng d đợc tạo ra trong xã hội dới hìnhthức giá trị thặng d siêu ngạch đợc sau đi bù lại giữa các nhà t bản.Việc áp dụng rộng rãi máy móc hiện đại, tự động trong điều kiện ngàynay đã khiến không ít ngời đặt câu hỏi rằng: "Phải chăng trong các dâychuyền sản xuất tự động đó không còn bóc lột t bản và chính máy móc đãsáng tạo ra lợi nhuận?".2. Lý luận về máy móc tạo ra lợi nhuận:Trớc hết, ta cần khảng định rằng, máy móc và hệ thống máy móc dùcó tinh vi, hiện đại đến đâu cũng chỉ là sản phẩm lao động của con ngời. Conngời không thể chế tạo đợc một động cơ vĩnh cửu. Trong dây chuyền sảnxuất tự động, giá trị thặng d đợc tạo ra không chỉ là sản phẩm của lao độngquá khứ mà vẫn cần tới lao động hiện tại. Mác viết rằng: "Lao động biểuhiện ra không phải chủ yếu với t cách là lao động đợc nhập vào quá trình sảnxuất nữa, mà là chủ yếu với t cách là một loại lao động trong đó con ngờingày càng đứng sang bên cạnh với chức năng giám sát, điều khiển, sáng tạomà máy móc không làm nổi".Lợi nhuận siêu ngạch mà nhà t bản thu đợc khi áp dụng máy móc hiệnđại hơn so với các nhà t bản khác chẳng qua chỉ là sự phân phối lại giá trịthặng d sẵn có trên phạm vi toàn xã hội. Do áp dụng máy móc hiện đại nênlao động ở đây có năng suất cao hơn thì giá thành sản phẩm sẽ thấp hơn.Song trên thị trờng giá bán hàng hoá cùng lại vẫn theo giá thị trờng nên nhàt bản có máy móc hiện đại hơn sẽ thu đợc nhiều lợi nhuận siêu ngạch hơn.Thực tế, trên quy mô thị trờng thế giới, các nhà t bản phát triển sản xuất bằngmáy móc hiện đại và đem bán hàng hoá tại các nớc kinh tế chậm phát triểnđã thu đợc lợi nhuận khổng lồ khó có thể hình dung đợc. Lợng lợi nhuận siêungạch mà một nhà t bản thu đợc là do phần lợi nhuận của các nhà t bản khácmất đi mà thôi. Nếu mọi cơ sở sản xuất đều trang bị máy móc hiện đại nhnhau thì hiện tợng lợi nhuận siêu ngạch sẽ biến mất và ngời tiêu dùng đ-10 . phần lợi nhuận bìnhquân của nhà t bản kinh doanh ruộng đất.Phần ii Vai trò đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam i. vai trò của lợi nhuận đối với sự. của doanh nghiệp, làđộng lực phát triển, bởi thế em chọn đề tài :" ;Nguồn gốc của lợi nhuận và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế của Việt

— Xem thêm —

Xem thêm: nguồn gốc của lợi nhuận và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế của việt nam, nguồn gốc của lợi nhuận và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế của việt nam, nguồn gốc của lợi nhuận và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế của việt nam

Lên đầu trang

Mục lục

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.434772968292 s. Memory usage = 14.01 MB