một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất chè ở việt nam từ nay đến năm 2010

Kira
Kira(23611 tài liệu)
(438 người theo dõi)
Lượt xem 2
0
Tải xuống 5,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 74 | Loại file: DOC
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 19/02/2014, 14:26

Mô tả: Mở đầuChè là cây công nghiệp dài ngày có vai trò quan trọng trong nền kinh tếxã hội nớc ta. Uống chè từ lâu đã trở thành nhu cầu thiết yếu trong cuộc sốnghàng ngày, một tập quán mang nét văn hoá của ngời Việt Nam. Chè còn là sảnphẩm xuất khẩu quan trọng trong ngành nông nghiệp nớc ta. Hiện nay, trênthế giới có 39 nớc trồng và chế biến chè thì Việt Nam đứng thứ 5 về diện tíchvà đứng thứ 8 về sản lợng.Mặt khác cây chè phát triển còn tạo công ăn việc làm cho một lợng laođộng rất lớn ở các vùng nông thôn, đem lại thu nhập cho họ, góp phần xoá đóigiảm nghèo, giúp nông thôn rút ngắn khoảng cách về kinh tế với thành thị,thiết lập công bằng xã hội. Đây là mục tiêu mà Đảng và Nhà nớc ta đang cốgắng thực hiện trong quá trình phát triển kinh tế xã hội đất nớc.Do lợi thế và vị trí quan trọng của cây chè trong nền kinh tế nói chung vàtrong sản xuất nông nghiệp nói riêng nên năm 1995 Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn đã xây dựng Tổng quan phát triển chè ở Việt Nam đến năm2000 và 2010. Ngày 10/3/1999 Thủ tớng Chính phủ đã có quyết định số43/1999/QĐ-TTg về kế hoạch sản xuất chè năm 1999-2000 và định hớng pháttriển chè Việt Nam đến năm 2005-2010. Trong quyết định này đã nêu rõ: Trênđịa hình, thổ nhỡng, khí hậu và quỹ đất đai hiện có ở các địa phơng, quyhoạch vùng theo hớng khai thác lợi thế của từng vùng, có kế hoạch phục hồithâm canh các vờn chè hiện có, đồng thời tập trung trồng mới bằng các giốngcó năng suất và chất lợng cao. Thực hiện những quyết định trên, trong những năm gần đây, sản xuất chècả nớc đã đạt đợc kết quả quan trọng, tổng diện tích và sản lợng chè đều vợtmục tiêu đề ra. Tuy nhiên ngành sản xuất chè ở nớc ta đang đứng trớc nhữngthách thức tiềm ẩn hết sức gay go: năng suất chè của ta thấp hơn so với các n-ớc trên thế giới, chất lợng chè cha tốt, giá xuất khẩu liên tục giảm Vì vậycần có các biện pháp phù hợp để ngành chè khắc phục đợc những khó khăn vàtiếp tục phát huy vai trò của mình. Xuất phát từ yêu cầu phát triển khách quan của ngành chè Việt Nam kếthợp với nghiên cứu thực tiễn trong quá trình thực tập tại Viện Quy hoạch vàThiết kế nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn em chọnđề tài: Một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất chè ở Việt Nam từ nayđến năm 2010 làm luận văn tốt nghiệp của mình. 1Nội dung của đề tài:Chơng I: Một số đặc điểm về phát triển sản xuất chè ở Việt Nam Chơng II: Thực trạng phát triển chè ở Việt Nam giai đoạn 1995-2002Chơng III: Một số giải pháp nhằm phát triển cây chè ở Việt Nam từ nayđến năm 2010Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hớng dẫnTiến sỹ Ngô Thắng Lợi và các thầy cô trong khoa cùng toàn thể các cán bộtrong Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp đã giúp đỡ em hoàn thành luậnvăn tốt nghiệp này.Do thời gian có hạn và kiến thức về lý luận cũng nh thực tiễn còn hạn chếnên luận văn của em không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Emmong đợc sự chỉ bảo giúp đỡ của các thầy cô và các cán bộ trong Viện Quyhoạch và Thiết kế nông nghiệp. 2Ch ơng IMột số đặc điểm phát triển sản xuất chè ở Việt NamI. Vị trí của cây chè trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam 1. Đặc điểm của cây chè Việt Nam Cây chè là cây công nghiệp dài ngày đợc trồng lâu đời trên đất nớc ta vàngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế xã hội đất nớc.Về mặt lịch sử: Cây chè là cây có nguồn gốc từ Trung Quốc truyền bá rakhắp thế giới. Cây chè có lịch sử từ rất lâu đời: từ khi phát hiện, sử dụng,truyền bá và phát triển đến nay đã có gần 4000 năm. Do đặc tính sinh trởngcủa bản thân cây chè, sự giao lu văn hoá giữa các dân tộc nên cây chè đã dunhập vào Việt Nam từ khoảng 3000 năm trớc. Nhân dân vùng biên giới củaViệt Nam đã học đợc cách trồng và chế biến của ngời Trung Quốc để pháttriển các vờn chè trồng phân tán rải rác và hái lá để uống. Ngay từ trớc thế kỷthứ XVII, ở Việt Nam đã hình thành hai vùng sản xuất chè: chè vờn miềntrung du và chè rừng miền núi.-Vùng chè miền trung du chủ yếu sản xuất chè tơi, chè nụ và chè băm,chế biến đơn giản.- Vùng chè miền núi sản xuất loại chè chi, chè mạn, lên men nửa chừngcủa đồng bào dân tộc Mông, Dao, Kỹ thuật trồng chè thời kỳ này chủ yếu là quảng canh, có nơi coi đó làmột cây rừng chế biến đơn giản, mang tính tự cung, tự cấp trong gia đình hoặctrong cộng đồng lãnh thổ phạm vi nhỏ.Đến thế kỷ thứ XIX, một số ngời Pháp bắt đầu kiểm soát việc sản xuất vàbuôn bán chè ở Hà Nội. Đến năm 1980 Paul Chaffajon xây dựng đồn điền đầutiên của Việt Nam tại Tĩnh Cơng (Phú Thọ) nay thuộc huyện Sông Thao tỉnhPhú Thọ với diện tích khoảng 60 ha. Đến năm 1918, thành lập Trung tâmnghiên cứu nông lâm nghiệp Phú Thọ tại Phú Hộ. Từ năm 1925, cây chè bắtđầu phát triển mạnh, cả nớc hình thành ba vùng chè chính: 3-Vùng chè Tây Nguyên: Có diện tích tính đến năm 1939 là 2.759 ha, sảnlợng bình quân mỗi năm đạt 900 tấn. Đã có những đồn điền quy mô 400-500ha. Bắt đầu hình thành một số nhà máy (thiết bị của Anh) có sản phẩm chínhlà loại chè đen truyền thống (OTD) tiêu thụ ở thị trờng Tây Âu và một ít chèxanh xuất khẩu sang Bắc Phi.- Vùng chè Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ: Chè đợc trồng rải rác trong các vờngia đình, một số đồn điền nhỏ (vài chục ha), kỹ thuật trồng và chế biến còn rấtđơn giản, sản phẩm gồm chè đen, chè xanh, chè tơi và chè nụ.- Vùng chè Trung Bộ: Tổng diện tích khoảng 1900 ha, trong đó có mộtđồn điền của ngời Pháp với diện tích khoảng 250 ha. Chế biến chè ở vùng nàycòn thô sơ, sản phẩm chính là chè xanh xuất khẩu sang Bắc Phi.Từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay: Việt Nam phải tiến hành 30năm chiến tranh dành độc lập, các cơ sở nghiên cứu khoa học về chè có ở haimiền Nam, Bắc đều bị ngừng hoạt động, nh Trung tâm nghiên cứu chè ở PhúHộ ở miền Bắc đã ba lần bị quân viễn chinh Pháp chiếm đóng và ném bomphá sạch, đốt sạch. Mặc dù vẫn phải sản xuất lơng thực thực phẩm cho quândân là chính nhng Nhà nớc ta vẫn quan tâm phát triển cây chè và đến ngày naycây chè lại càng đợc chú trọng phát triển.Về mặt tự nhiên: Cây chè là cây trồng nhiệt đới rất thích hợp với điềukiện thổ nhỡng, khí hậu nóng ẩm ma nhiều, hệ số dao động nhiệt độ giữa banngày và ban đêm lớn (8-12 độ C) ở Việt Nam tạo cho cây chè tổng hợp đợcnhiều chất thơm tự nhiên và đặc trng. Ngoài ra độ cao và địa hình cũng có ảnhhởng đến chất lợng chè. Kinh nghiệm sản xuất chè lâu đời của thế giới chothấy các loại danh trà chủ yếu là đợc trồng trên vùng núi cao. Chè Việt Namcó chất lợng cao là chè Shan Tuyết đợc trồng trên núi Tây Côn Lĩnh, chè SuốiGiàng ở Văn Chấn Yên Bái, chè Tà Sùa ở Sơn La. Các vùng này có nhiệt độthấp, độ ẩm cao, ánh sáng tán xạ cao, biên độ ngày đêm cao Về mặt kinh tế: Chè là cây công nghiệp dài ngày, có lợi thế so sánh ở nớcta đặc biệt là ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc. Đảng và Nhà nớc ta coicây chè là cây xoá đói giảm nghèo ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc vàlà cây làm giàu, góp phần lớn vào việc phát triển kinh tế nông thôn ở miềnNam.Trồng chè còn thu hút đợc một lợng lao động đáng kể, góp phần giảiquyết việc làm và là một trong những cây trồng có giá trị kinh tế cao ở Trung 4du Miền núi Bắc Bộ và Tây Nguyên, góp phần thúc đẩy trung du, miền núi cóđiều kiện hoà hợp với miền xuôi về kinh tế, văn hoá, xã hội.2. Vai trò của ngành sản xuất chè Việt Nam Việt Nam là nớc có tiềm năng về đất đai, khí hậu thuận lợi cho phát triểncây chè. Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, theo phân công trong khốiSEV (Hội đồng tơng trợ kinh tế) Việt Nam là nớc sản xuất chè cho các nớcXHCN. Trong những năm qua, ngành chè đã góp phần sử dụng hiệu quả đấtđai ở vùng trung du, miền núi, đặc biệt là Trung du Miền núi Bắc Bộ, đã tạocông ăn việc làm cho hàng vạn ngời lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo,chuyển nền kinh tế tự cấp tự túc của đồng bào dân tộc miền núi bằng một nềnkinh tế sản xuất hàng hoá, góp phần phân công lao động giữa miền ngợc vàmiền xuôi. Chè cũng đem lại nguồn lợi tơng đối lớn cho Ngân sách Nhà nớc.Chè có vai trò to lớn trong nhiều lĩnh vực:2.1. Sản xuất chè với phát triển nông nghiệp: Chè là cây trồng rất lâu đời ở Việt Nam, đến nay xác định đợc 33 tỉnh cókhả năng thích hợp nhất để trồng chè, tập trung chủ yếu ở Trung du Miền núiBắc Bộ và Tây Nguyên. Bên cạnh u thế về khí hậu, đất đai của tự nhiên nhiệtđới Việt Nam có lợi cho sinh trởng cây chè (mùa hái chè dài, thời gian kiếnthiết ngắn) và các nguồn gen phong phú (chè rừng miền núi), cây chè còn cónghĩa to lớn đối với ngời dân:- Những năm gần đây, việc triển khai giao đất và khoán chè cho ngời laođộng theo Nghị định 01 của Chính phủ cùng với những giải pháp của ngànhchè Việt Nam đợc giải quyết tốt việc làm cho ngời lao động. Cùng với cơ chếvà phơng thức mua chè thuận lợi cho ngời lao động đã tạo động lực khuyếnkhích ngơì lao động phấn khởi chủ động đầu t thâm cạnh chè để đạt năng suất,chất lợng cao. ở trung du miền núi ngời dân có tập quán trồng lúa nơng vớithu nhập trung bình là 1-2 triệu đồng/ha trong khi đó 1 ha chè trên vùng đồinúi khô cằn thu đợc 10-12 triệu đồng. Điều này dẫn tới quan điểm chuyểnsang trồng chè thay vì lúa nơng trong nhân dân miền núi.- Chè là mặt hàng có thị trờng và giá cả ổn định với mức dao động về giáở thời điểm biến động cao nhất không quá 8% đối với loại chè trung bình sovới các ngành kinh tế công nông nghiệp khác, chè cũng đã khẳng định đợc vịtrí của mình. Trồng chè đúng kỹ thuật sẽ tạo ra một thảm thực vật có tác dụngphủ xanh đất trống đồi núi trọc. 5- Cây chè là cây không kén đất nh cà phê, ca cao, hồ tiêu, năng suất lại t-ơng đối ổn định, ít biến động hàng năm không lớn ngay cả những năm thiêntai, hạn hán. Nhìn chung đây là loại đất trồng đứng về mặt kinh doanh tơngđối ổn định. - Cây chè có tác dụng chống xói mòn, bảo vệ môi sinh. Hiện nay bìnhquân độ che phủ trong cả nớc chỉ còn 29,1%, trong đó nếu không kể hai vùngĐồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long chỉ đạt 4,7% và 6,1% còn ở vùngnúi nh vùng Tây Bắc chỉ còn 20,7%, Đông Bắc 19,4% Bởi vậy, ở những nơinày nếu đợc trồng chè chắc chắn sẽ nâng cao hệ số che phủ tốt hơn. -Trồng chè thu hút một lợng lao động đáng kể (mỗi ha trồng chè bìnhquân cần 2,2 lao động) ngoài ra cha kể lao động cho chế biến và tiêu thụ.2.2. Sản xuất chè với phát triển ngành công nghiệp chế biến Phát triển cây chè Việt Nam luôn gắn liền với sự phát triển của ngànhcông nghiệp chế biến nớc ta. Trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, sản xuất chècông nghiệp bắt đầu bằng việc xây dựng nhà máy chè đầu tiên vào năm 1923.Chế biến chè thời kỳ này bộ phận cối vò chè, máy sấy và máy phát điện.Những năm 60, ở miền Bắc đã xây dựng hàng loạt nhà máy chè đen OTD lớn(12-43 tấn/ ngày) với thiết bị công nghệ chè đen và chè xanh của Trung Quốcvà Liên Xô. Những năm 90 lại có chè túi nhúng của ý, thiết bị chế biến chèCTC của ấn Độ, chè xanh dẹt bán tự động của Nhật Bản. Hiện nay ngànhcông nghiệp chế biến của ta đã phát triển theo hớng không ngừng đổi mớithiết bị và công nghệ chế biến chè, đặc biệt là chế biến chè đặc sản và nghiêncứu các sản phẩm mới theo dự báo của thị trờng tiêu thụ chè tơng lai. 2.3. Sản xuất chè với ngành xuất khẩuCây chè Việt Nam đã có chỗ đứng trên thị trờng của hơn 40 nớc trên thếgiới, gồm có Liên Xô cũ và Đông Âu, Trung Cận Đông, Bắc Phi và gần đây b-ớc đầu đa vào các thị trờng khó tính nh Tây Âu và Nhật Bản, do đó đã đem lạimột nguồn kim ngạch nhập khẩu đáng kể cho đất nớc. Mỗi năm bình quânchúng ta xuất khẩu đợc khoảng 50 nghìn tấn đem lại cho đất nớc khoảng 50triệu USD. 2.4. Sản xuất chè với việc giải quyết các vấn đề xã hội Chè chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi gắn sự phát triển của nó với việcphát triển kinh tế xã hội các vùng sâu, vùng xa của đồng bào dân tộc khaihoang ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. ở đây cây chè gần gũi với từnggia đình, góp phần định c, ổn định cuộc sống và xoá đói giảm nghèo cho đồng 6bào dân tộc ít ngời. Hơn nữa cây chè đã tạo công ăn việc làm cho hơn 20 vạnlao động góp phần ổn định đời sống cho 10 vạn hộ gia đình. Việc quy hoạchcác vùng sản xuất chè tập trung bao gồm sản xuất nông - công nghiệp -dịchvụ, hình thành các cụm dân c đã góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinhthần của nhân dân.Cây chè là cây công nghiệp lâu năm, có chu kỳ kinh tế dài nhng nhanhcho sản phẩm thu hoạch, là cây trồng xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tếở vùng núi và trung du Việt Nam, góp phần thúc đẩy trung du miền núi cóđiều kiện tiến kịp với các vùng khác trong cả nớc. Cây chè là cây trồng có thểáp dụng rộng rãi vào các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế trang trại.Trồng chè sẽ mở rộng diện tích canh tác ở vùng cao cho ngời dân ở đây.Ngoài ra, về mặt y học, từ xa đến nay nớc chè là thứ nớc uống giải khátphổ biến của nhân dân ta có tác dụng chống lại đợc lạnh, khắc phục sự mệtmỏi của cơ bắp và hệ thần kinh trung ơng, kích thích vỏ đại não, làm cho tinhthần minh mẫn, sảng khoái, hng phấn trong thời gian lao động căng thăng vềtrí óc và chân tay. Ngoài ra còn có tác dụng bảo vệ sức khoẻ. Chất catesin củachè xanh có chức năng phòng ngừa bệnh ung th bằng cách củng cố hệ thốngmiễn dịch, phòng ngừa bệnh cao huyết áp, chống lão hoá. Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc giai đoạn 2000-2010,và do giá trị dinh dỡng, kinh tế, xã hội, văn hoá và bảo vệ sức khoẻ con ngờinên cây chè đã đợc ghi vào Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nớcViệt Nam, trong chơng trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và ch-ơng trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi. II. các nhân tố ảnh hởng đến phát triển sản xuất chè ởViệt Nam 1. Điều kiện tự nhiên Nhân tố điều kiện tự nhiên có ảnh hởng rất lớn đến phát triển sản xuấtchè. Các yếu tố nh lợng ma, khí hậu, nhiệt độ, đất đai, là các yếu tố quantrọng có tác động đến chất lợng chè. ở Việt Nam cây chè đang có mặt trên 4vùng sinh thái lớn : Trung du Miền núi Bắc Bộ, Duyên hải Miền Trung, Đồngbằng sông Hồng, Tây Nguyên. Trên cơ sở phân tích các chỉ tiêu về khí hậu,đất đai, địa hình, nguồn nớc của từng vùng cho thấy khả năng thích nghi củatừng vùng nh sau : 71.1. Vùng Trung du Miền núi Bắc Bộ Đây là vùng có địa hình phức tạp, đợc chia cắt bởi những cánh đồng hoặcthung lũng xen giữa những đồi núi. Núi ở đây thờng cao và dốc, vùng này cómùa đông lạnh và khô. Nhiệt độ trung bình từ 18-23 độ C. Đất đai vùng nàychủ yếu là đỏ nâu trên đá vôi, đỏ vàng trên đá đất sét và biến chất. Đất đaiphần lớn có bề dầy trên 100 cm, hàm lợng dinh dỡng trung bình. Nhìn chungvùng này rất thích hợp với phát triển cây chè. Hạn chế chính ở vùng này chínhlà mùa đông có sơng muối, mùa hè chịu ảnh hởng của gió Lào. Có thể khắcphục hiện tợng này bằng cách tác động vào các biện pháp kỹ thuật nh ủ gốc,trồng cây che bóng mát.1.2. Vùng Duyên hải Miền Trung Đây là dải đất chạy dài ven biển, mang đặc tính của loại hình khí hậu cậnnhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23-25 độ C. Có mùa makéo dài từ tháng 7 đến tháng 12 hàng năm, kèm theo bão lụt là chịu ảnh hởngrõ rệt của gió Lào. Nh vậy xét về yếu tố khí hậu thì chỉ có ba tỉnh là ThanhHoá, Nghệ An, Hà Tĩnh là cây chè có thể sinh trởng và phát triển bình thờng.Đất đai các tỉnh này chủ yếu là đất đợc hình thành trên đá phiến sét, đâylà loại đất có hàm lợng dinh dỡng tơng đối cao, cấu tợng tốt. So với yêu cầusinh thái của cây chè thì vùng này cũng có những đặc điểm rất thích hợp.1.3. Vùng Duyên hải Miền Trung Đây là vùng không có nhiệt độ thấp, bình quân từ 25-27 độ C, không cómùa đông lạnh. Lợng ma ảnh hởng phân bố theo đất đai và vĩ tuyến. Đất đaicó thể trồng chè là nhóm vàng đỏ trên đất bazan, có nhiều tầng mỏng, độ dốclớn. Đây là vùng có khí hậu không thuận lợi, đất đai nghèo dinh dỡng vàkhông có độ dốc phù hợp với phát triển sản xuất chè nên năng suất và chất l-ợng thấp. Chế độ ma của vùng cũng chịu ảnh hởng của gió mùa phía Bắc,phân bố không đều và trái với mùa sinh trởng của chè. Ngợc lại ma thiếu vàomùa xuân, thời điểm lá chè và búp chè hình thành lá non.1.4. Vùng Tây Nguyên Là vùng mang khí hậu nhiệt đới gió mùa. Độ cao từ 700 đến 1.500 m sovới mặt nớc biển. Nhiệt độ bình quân hàng năm là 23 độ C, lợng ma trungbình hàng năm là 2000 mm. Đất đai có thể trồng chè chủ yếu là đất bazan, đặcbiệt là đất nâu vàng trên đá bazan ở Bảo Lộc, Di Linh khá tốt, hàm lợng maphùn và độ ẩm cao. Đất ở vùng này có kết cấu và tầng dày tốt. 82. Khả năng nguồn vốnĐể phát triển sản xuất chè, việc huy động vốn đầu t là rất quan trọng.Hiện nay có rất nhiều nguồn vốn có thể huy động, nhng nguồn vốn quan trọngnhất là Nhà nớc đã giao quyền sử dụng đất lâu dài cho ngời trồng chè. ở cácnông trờng công nghiệp cũng đợc giao khoán vờn chè và giao đất để trồng chèmới.Huy động nguồn vốn tự có trong nhân dân: Đây là nguồn vốn rất quantrọng, nó có tác dụng thúc đẩy ngời nông dân tham gia vào qúa trình phát triểncây chè, mặt khác khi ngời dân tự bỏ vốn ra kinh doanh thì họ sẽ có tráchnhiệm với nguồn vốn mà mình đã bỏ ra.Vốn vay ngân hàng Nhà nớc: Đây là nguồn vốn không thể thiếu. Thôngqua các dự án phát triển, trong những năm qua ngân hàng Nhà nớc đã đầu tcho nhiều cơ sở kể cả khu vực quốc doanh và t nhân, góp phần ổn định, đảmbảo lợng chè tăng trởng ổn định. Tuy nhiên so với một số cây chè khác nh càphê, cao su, chè vẫn là cây đợc đầu t thấp nhất.Vốn dự trữ ở các doanh nghiệp : Thông qua hoạt động điều tiết ở cácdoanh nghiệp đã mở ra khả năng khuyến khích các doanh nghiệp tồn tại vàphát triển.Vốn liên doanh, hợp tác với nớc ngoài: Mấy năm gần đây, Nhà nớc tachủ trơng khai thác mạnh nguồn này, thực tế đã có nhiều tổ chức, nhiều quốcgia muốn hợp tác với Việt Nam nh: WB, ADB, ACB, các công ty của ĐàiLoan, Hông Kông, 3. Nhân tố khoa học kỹ thuậtĐây là nhân tố ảnh hởng trực tiếp tới năng suất, chất lợng của cây chè.Nếu áp dụng khoa học kỹ thuật tốt sẽ tạo điều kiện tăng năng suất, nâng caochất lợng sản phẩm chè. Khả năng ứng dụng khoa học công nghệ có liên quantới trình độ tay nghề, những hiểu biết của ngời làm chè về những kỹ thuậttrong trồng, chế biến chè. Các tiến bộ kỹ thuật đó là:Giống chè: Hiện nay ở phía Bắc có 17 giống chè, trong đó hai giống chèchủ yếu là chè Shan Tuyết và chè trung du, còn các giống khác đợc nhập từ ấnđộ, Trung Quốc. Phía Nam, ngoài các giống ở phía Bắc nhập vào còn có cácgiống từ Nhật Bản. ở Phú Hộ hiện nay đang có một tập đoàn giống gồm 60giống thu thập từ các nớc: Việt Nam, ấn Độ, Srilanca, Trung Quốc, đang đ- 9ợc khảo nghiệm, chọn lọc, thuần hoá và lai tạo. Trong thời gian tới khả năngcung cấp giống chè tốt đợc đảm bảo.Nhân giống chè: ở Viện nghiên cứu chè bắt đầu nghiên cứu từ năm1959, bằng các phơng pháp nhân giống bằng hạt, bằng cành Đến nay thuậtgiâm cành bắt đầu hoàn thiện và bắt đầu phổ biến đến từng hộ gia đình.Kỹ thuật canh tác: Đã có nhiều công trình nghiên cứu và tổng kết từ thựctiến về kỹ thuật trồng chè. Để đảm bảo chống xói mòn, trồng đợc nhiều câychè đồng đều, cho năng suất cao, chất lợng tốt và vờn chè thuận lợi cho việc đilại phải thực hiện một loạt các biện pháp nh trồng theo kiểu nông lâm kết hợp,trồng theo kiểu bình độ Về phân bón nhiều công trình nghiên cứu và thựcnghiệm đã tiến hành, nhìn chung muốn đạt năng suất chè 5 tấn/ha chè búp tơicần bón theo đúng quy cách, ngoài phân chuồng, phân xanh cũng đợc tăng c-ờng.Kỹ thuật chế biến: Trên cơ sở kinh nghiệm đã tích luỹ đợc trong nhiềunăm sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè, ngành chè nớc ta đã rút ra đợc nhữngthế mạnh và tồn tại chủ yếu trong khâu chế biến chè. Mặt khác trong nhữngnăm gần đây, nhiều tổ chức, công ty liên doanh nớc ngoài đã sẵn sàng ký kếthợp đồng với ta không chỉ ở vốn đầu t cho các nhà máy mà còn cả quy trìnhcông nghệ tiên tiến, bao gồm cả hớng dẫn kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm Nhvậy, khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật của nớc ta trong chế biến biến sảnphẩm chè không có gì trở ngại.4. Hệ thống chính sách hỗ trợ của Nhà nớc Để việc phát triển sản xuất chè đạt đợc mục tiêu mà ngành chè đã đặt rathì cần phải có một hệ thống các chính sách hỗ trợ phát triển chè. Nh vậy yếutố chính sách là yếu tố không thể thiếu đợc trong phát triển sản xuất chè ởViệt Nam. Thực tế cho thấy rằng những nớc phát triển cha ban hành các chínhsách tơng xứng với vai trò và tiềm năng của cây chè. Nếu các chính sách nàychỉ tập trung chú trọng đến mặt cầu tức là chú trọng đến việc trồng và chế biếnchè mà không có các chính sách thúc đẩy thị trờng tiêu thụ thì sau một thờigian sẽ không tìm đợc đầu ra cho sản phẩm và do đó ngành chè sẽ gặp nhiềukhó khăn. Vì vậy, khi tiến hành phát triển sản xuất chè Nhà nớc cần ban hànhmột hệ thống chính sách hỗ trợ cần thiết cho việc phát triển chè. Sau đây làmột số chính sách tiêu biểu: 10 . Một số đặc điểm về phát triển sản xuất chè ở Việt Nam Chơng II: Thực trạng phát triển chè ở Việt Nam giai đoạn 1995-2002Chơng III: Một số giải pháp nhằm. thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn em chọnđề tài: Một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất chè ở Việt Nam từ nay đến năm 2010 làm luận văn tốt

— Xem thêm —

Xem thêm: một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất chè ở việt nam từ nay đến năm 2010, một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất chè ở việt nam từ nay đến năm 2010, một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất chè ở việt nam từ nay đến năm 2010

Lên đầu trang

Mục lục

-- Xem thêm --

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.22076392173767 s. Memory usage = 17.69 MB