Tài liệu Báo cáo " Các loại tài sản trong luật dân sự Việt Nam " docx

tailieuhay_2889
tailieuhay_2889(15366 tài liệu)
(7 người theo dõi)
Lượt xem 4
0
Tải xuống 8,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 12 | Loại file: PDF
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 22/02/2014, 12:20

Mô tả: nghiên cứu - trao đổi 14 Tạp chí luật học số 1/2009 Ths. Nguyễn Minh Oanh * i sn l vn trung tõm, ct lừi ca mi quan h xó hi núi chung v quan h phỏp lut núi riờng. Khỏi nim ti sn ó c cp t rt lõu trong thc tin cng nh trong khoa hc phỏp lớ. Ti sn trờn thc t tn ti rt nhiu dng khỏc nhau, vụ cựng phong phỳ v a dng. Tuy nhiờn, mi loi ti sn li cú nhng c tớnh khỏc bit cn thit phi cú quy ch phỏp lớ iu chnh riờng. Chớnh vỡ vy, vic phõn loi ti sn l cn thit khụng ch cú ý ngha trong hot ng lp phỏp m cũn cú ý ngha trong thc tin ỏp dng phỏp lut. Vic phõn loi ti sn theo quy nh ca B lut dõn s nm 2005 ti Phn th hai, Chng IX t iu 174 n iu 181 cũn hn hp, cha a ra c y nhng loi ti sn c bn nht nờn ó gõy khú khn cho vic tỡm hiu v ỏp dng. Rừ rng, mi gúc khỏc nhau, mt s vt, hin tng s c nhỡn nhn, ỏnh giỏ mt cỏch khỏc nhau. Do ú, mi tiờu chớ khỏc nhau, ti sn cng s c phõn thnh cỏc loi c th khỏc nhau. Mi ti sn tiờu chớ ny s tn ti dng ny nhng khi c phõn loi theo tiờu chớ khỏc nú s c tn ti dng khỏc. Bi vit ny phõn tớch v nhng loi ti sn c cp trong BLDS v mt s loi ti sn c bn thng c s dng trong khoa hc phỏp lớ, cú ý ngha i vi lut dõn s t ú lm rừ hn c tớnh phỏp lớ ca tng loi nhm gúp phn hon thin hn na cỏch hiu v cỏc loi ti sn trong lut dõn s Vit Nam. 1. Vt, tin, giy t cú giỏ v quyn ti sn Cn c vo iu 163 BLDS nm 2005 thỡ ti sn bao gm vt, tin, giy t cú giỏ v quyn ti sn. õy l cỏch phõn loi cng ng thi l cỏch nh ngha ti sn ca B lut. Theo quy nh ny thỡ ti sn c lit kờ khộp kớn ch tn ti mt trong bn loi: Vt, tin, giy t cú giỏ hoc quyn ti sn. Vt l b phn ca th gii vt cht, tn ti khỏch quan m con ngi cú th cm giỏc c bng cỏc giỏc quan ca mỡnh. Vt ch cú ý ngha khi nú tr thnh i tng trong quan h phỏp lut nờn nu b phn ca th gii vt cht m con ngi khụng th kim soỏt, chim hu c nú thỡ cng ng ngha vi vic con ngi khụng th tỏc ng c vo nú. Do ú, khụng khớ, giú, ma thuc v vt cht nhng khụng th c coi l ti sn v mt phỏp lớ. Hn na, l i tng trong quan h phỏp lut nờn vt phi ỏp ng c li ớch ca cỏc bờn ch th trong quan h. Nh vy, mun tr thnh vt trong dõn s phi tho món nhng iu kin sau: - L b phn ca th gii vt cht; - Con ngi chim hu c; - Mang li li ớch cho ch th; T * Ging viờn Khoa lut dõn s Trng i hc Lut H Ni nghiªn cøu - trao ®æi T¹p chÝ luËt häc sè 1/2009 15 - Có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai. Tiền, theo kinh tế chính trị học là vật ngang giá chung được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác. Một tài sản được coi là tiền hiện nay khi nó đang có giá trị lưu hành trên thực tế. Với việc BLDS năm 2005 đã bỏ quy định tiền thanh toán phải là tiền Việt Nam như quy định tại BLDS năm 1995 thì về mặt pháp lí tiền có thể được hiểu là nội tệ hoặc ngoại tệ.(1) Tuy nhiên, ngoại tệ là loại tài sản hạn chế lưu thông chứ không được lưu hành rộng rãi như tiền Việt Nam. Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự.(2) Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kì phiếu, công trái Khác với tiền chỉ do cơ quan duy nhất là Ngân hàng nhà nước ban hành thì giấy tờ có giá có thể do rất nhiều cơ quan ban hành như Chính phủ, ngân hàng, kho bạc, các công ti cổ phần ; nếu tiền luôn có mệnh giá nhất định thể hiện thước đo giá trị của những loại tài sản khác, luôn lưu hành không có thời hạn, không ghi danh thì giấy tờ có giá có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá, có thể có thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng, có thể ghi danh hoặc không ghi danh và việc thực hiện quyền định đoạt về số phận thực tế đối với giấy tờ có giá cũng không bị hạn chế như việc định đoạt tiền. Cần lưu ý là các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy đăng kí ô tô, sổ tiết kiệm không phải là giấy tờ có giá. Nếu cần phải xem xét thì đó chỉ đơn thuần được coi là một vật và thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó. Quyền tài sản theo định nghĩa tại Điều 181 BLDS năm 2005 thống nhất viết tắt là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ. Theo đó thì quyền tài sản trước tiên phải được hiểu là xử sự được phép của chủ thể mang quyền. Quyền ở đây chính là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền này phải trị giá được thành tiền hay nói cách khác là phải tương đương với một đại lượng vật chất nhất định. Quyền tài sản thì có rất nhiều nhưng chỉ những quyền tài sản nào có thể trở thành đối tượng trong các giao dịch dân sự thì mới được coi là tài sản tại Điều 163 BLDS. Hiện nay, pháp luật dân sự Việt Nam công nhận một số quyền tài sản là tài sản như quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản bị xâm phạm, quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng.(3) nghiªn cøu - trao ®æi 16 T¹p chÝ luËt häc sè 1/2009 Đây là cách phân loại mang nhiều ý nghĩa trong luật dân sự cũng như trong các ngành luật khác. Trong luật dân sự, có nhiều trường hợp đối tượng của quan hệ không thể là tiền hoặc giấy tờ có giá ví dụ như hợp đồng thuê, hợp đồng mượn. Hơn nữa, khi đối tượng của giao dịch là các loại tài sản khác nhau thì phương thức thực hiện cũng sẽ được áp dụng khác nhau (ví dụ phương thức thực hiện nghĩa vụ giao vật khác với thực hiện nghĩa vụ có đối tượng là tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Đối với tiền khi thực hiện chậm sẽ bị tính lãi tương ứng với thời gian chậm trả còn đối với vật chỉ có thể là buộc phải giao vật và/hoặc bồi thường thiệt hại. Đối với quyền tài sản thì vấn đề cung cấp thông tin và chuyển giao giấy tờ là yêu cầu bắt buộc). Trong luật hình sự, việc xác định được đúng loại tài sản theo Điều 163 BLDS sẽ có ý nghĩa trong việc xác định đúng một số tội danh như tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 154 BLHS năm 1999); tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều 180); tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác (Điều 181); tội hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có (Điều 251). 2. Bất động sản và động sản Khái niệm bất động sản và động sản đã được quy định tại Điều 174 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau: “Bất động sản là các tài sản bao gồm: - Đất đai; - Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; - Các tài sản khác gắn liền với đất đai; - Các tài sản khác do pháp luật quy định. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản”. Cũng giống như cách định nghĩa tài sản, BLDS đã sử dụng phương pháp liệt kê để định nghĩa bất động sản. Căn cứ vào quy định đó thì hiện nay đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai như nhà, công trình xây dựng, cây cối, tài nguyên sẽ được coi là bất động sản. Tuy nhiên, ở đây pháp luật đã liệt kê mở chứ không liệt kê khép kín như Điều 163 BLDS. Do đó, cả những tài sản khác do pháp luật quy định cũng sẽ được coi là bất động sản. Ví dụ như theo quy định của Luật kinh doanh bất động sản thì quyền sử dụng đất là bất động sản.(4) Cách phân loại tài sản thành động sản và bất động sản là cách phân loại chủ yếu dựa vào đặc tính vật lí của tài sản là có thể di dời được hay không thể di dời được (một số nước còn dựa vào cả công dụng của tài sản như luật của Pháp coi cả hạt giống, máy móc nông cụ là bất động sản). Cách phân loại này là tiêu chí mà hầu hết pháp luật của các nước trên thế giới đều sử dụng bởi việc xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến hai loại tài sản này rất khác nhau cần phải có quy phạm điều chỉnh riêng đối với từng loại. Theo pháp luật dân sự Việt Nam, việc phân loại tài sản thành bất động sản và động sản có rất nhiều ý nghĩa. Có thể liệt kê một số ý nghĩa cơ bản sau đây: - Xác lập thủ tục đăng kí đối với tài sản: Theo quy định tại Điều 167 BLDS thì quyền nghiªn cøu - trao ®æi T¹p chÝ luËt häc sè 1/2009 17 sở hữu đối với bất động sản được đăng kí theo quy định của BLDS và pháp luật về đăng kí bất động sản còn quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng kí trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. - Xác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản: Khoản 1 Điều 168 BLDS quy định việc chuyển giao quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng kí quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Còn khoản 2 quy định việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. - Xác định được các quyền năng của chủ thể quyền đối với từng loại tài sản nhất định: Đối với bất động sản do đặc tính vật lí của nó là khó có thể di dời nên việc thực hiện các quyền năng của quyền sở hữu đối với loại tài sản này sẽ gặp những hạn chế nhất định. Chính bởi vậy, pháp luật đã ghi nhận cho các chủ thể có những quyền năng nhất định đối với tài sản của người khác để bất động sản có thể khai thác được công dụng một cách tốt nhất như quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề (từ Điều 273 đến Điều 278 BLDS). - Xác định địa điểm thực hiện nghĩa vụ đối với các giao dịch có đối tượng là bất động sản trong trường hợp các bên không có thoả thuận. Theo quy định tại Điều 284 BLDS thì trong trường hợp các bên không có thoả thuận khác thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ là nơi có bất động sản nếu đối tượng của nghĩa vụ là bất động sản. Nếu đối tượng không phải là bất động sản thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ là nơi cư trú của người có quyền. - Xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu: Ví dụ nếu vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu là động sản sẽ thuộc sở hữu của người phát hiện còn nếu vật là bất động sản sẽ thuộc sở hữu nhà nước (Điều 239 BLDS). Hoặc theo Điều 247 BLDS thì một người chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu. - Xác định hình thức của hợp đồng: Theo quy định tại Điều 467 thì hợp đồng tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng kí nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng kí quyền sở hữu. Hoặc theo quy định tại Điều 459 thì việc mua bán đấu giá bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải được đăng kí nếu pháp luật có quy định - Là căn cứ để xác định thời hạn, thời hiệu và các thủ tục khác: Ví dụ thời hạn thông báo công khai tài sản bán đấu giá chậm nhất là bảy ngày đối với động sản, ba mươi ngày đối với bất động sản (Điều 457); thời hạn chuộc lại đối với tài sản đã bán trong hợp đồng mua bán có chuộc lại đối với động sản là một năm và đối với bất động sản là năm năm (Điều 462); việc bán đấu giá bất động sản được thực hiện tại nơi có bất động sản, sau khi có thông báo về việc bán đấu giá nghiªn cøu - trao ®æi 18 T¹p chÝ luËt häc sè 1/2009 bất động sản, những người muốn mua phải đăng kí mua và phải nộp một khoản tiền đặt trước (Điều 459) - Xác định phương thức kiện dân sự: Theo Điều 257, 258 BLDS thì điều kiện để chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu kiện đòi lại tài sản đối với động sản và bất động sản là khác nhau. Do đó, nếu không áp dụng được phương thức kiện đòi lại tài sản thì chủ thể sẽ phải áp dụng phương thức kiện khác như kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. - Xác định toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự: Theo Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thì toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự là toà án nơi có bất động sản đó. 3. Tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức Dựa vào nguồn gốc và cách thức hình thành tài sản mà tài sản có thể được phân thành tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức. Tài sản gốc được hiểu là tài sản khi sử dụng, khai thác công dụng thì sinh ra lợi ích vật chất nhất định. Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại như con bê con do con bò đẻ ra, hoa quả thu hoạch từ cây cối Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản mà không phải là do tài sản tự sinh ra ví dụ như tiền lãi, tiền thuê nhà Như vậy, cả hoa lợi và lợi tức đều là những tài sản sinh ra từ việc khai thác, sử dụng tài sản gốc. Khi xem xét tài sản là hoa lợi, lợi tức hay tài sản gốc chúng ta cần lưu ý một số điểm sau đây: - Cần phải sử dụng phương pháp so sánh vì tài sản sẽ là tài sản gốc so với với tài sản này nhưng nó lại trở thành hoa lợi hoặc lợi tức của tài sản khác. Ví dụ con ngựa có thể là hoa lợi được sinh ra từ con ngựa mẹ nhưng lại là tài sản gốc khi nó sinh ra ngựa con. - Cần phân biệt hoa lợi, lợi tức với một bộ phận của tài sản: Chỉ khi tài sản được tách khỏi tài sản gốc nó mới được coi là hoa lợi, lợi tức của tài sản đó còn nếu nó vẫn gắn liền với tài sản gốc thì nó được coi là một bộ phận không thể tách rời của tài sản đó. Ví dụ hoa quả vẫn ở trên cây, con bê con vẫn trong bụng con bò mẹ - Cần phân biệt hoa lợi, lợi tức với sản phẩm: Chỉ được gọi là hoa lợi, lợi tức những tài sản sinh ra từ tài sản gốc mà không làm giảm sút, ảnh hưởng đến trạng thái ban đầu của tài sản gốc. Trong trường hợp để thu được một lợi ích vật chất của tài sản mà tài sản gốc bị giảm sút không thể tái tạo bằng cách khai thác khả năng sinh sản của tài sản gốc hoặc chỉ có thể tái tạo bằng cách lặp lại chu kì đầu tư nhằm khôi phục trạng thái ban đầu của tài sản gốc thì lợi ích vật chất thu được gọi là sản phẩm chứ không phải hoa lợi. Ví dụ: Cây trồng trên đất thì cây được thu hoạch là sản phẩm chứ không phải hoa lợi. Quả của cây được thu hoạch lại được coi là hoa lợi. Việc phân loại tài sản thành tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức có ý nghĩa pháp lí trong một số trường hợp nhất định: - Có ý nghĩa trong việc xác định chủ sở hữu của tài sản: Về nguyên tắc thì hoa lợi sẽ thuộc chủ sở hữu của tài sản, lợi tức sẽ thuộc về người có quyền sử dụng hợp pháp tài sản nghiªn cøu - trao ®æi T¹p chÝ luËt häc sè 1/2009 19 đó. Do đó, khi thuê, mượn tài sản thì hoa lợi thuộc chủ sở hữu của tài sản, lợi tức thuộc về người sử dụng tài sản đó. - Xác định trong một số trường hợp người chiếm hữu tài sản gốc chỉ được hưởng hoa lợi sinh ra từ tài sản mà không được khai thác công dụng của tài sản để thu lợi tức, ví dụ như trường hợp chiếm hữu hợp pháp gia súc, gia cầm thất lạc thì người chiếm hữu được hưởng một nửa số gia súc hoặc toàn bộ số gia cầm được sinh ra (Điều 242, 243 BLDS); trường hợp cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ thì bên cầm giữ tài sản có quyền thu hoa lợi từ tài sản cầm giữ và được dùng để bù trừ nghĩa vụ (Điều 416 BLDS). 4. Tài sản có đăng kí quyền sở hữu, tài sản không đăng kí quyền sở hữu Căn cứ vào giá trị của tài sản, vai trò và ý nghĩa của tài sản đối với chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, quản lí nhà nước mà pháp luật có quy định về việc đăng kí quyền sở hữu đối với một số tài sản nhất định. Tài sản có đăng kí quyền sở hữu là tài sản mà pháp luật quy định bắt buộc phải đăng kí, nếu không đăng kí sẽ không được công nhận quyền sở hữu đối với tài sản đó. Tài sản có đăng kí quyền sở hữu hiện nay như nhà, máy bay, tàu biển, ô tô, súng săn, súng thể thao Tài sản không đăng kí quyền sở hữu là tài sản mà theo quy định của pháp luật không buộc phải đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc phân loại tài sản thành tài sản có đăng kí quyền sở hữu và tài sản không đăng kí quyền sở hữu có những ý nghĩa cơ bản sau đây: - Xác định thời điểm phát sinh, chuyển giao quyền sở hữu: Đối với tài sản có đăng kí quyền sở hữu thì theo quy định của pháp luật quyền sở hữu chỉ phát sinh khi hoàn thành thủ tục đăng kí, không phụ thuộc vào tài sản đó là động sản hay bất động sản (Điều 439 BLDS). - Xác định phương thức kiện dân sự: Đối với động sản là tài sản phải đăng kí quyền sở hữu thì chủ thể có quyền kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình trừ trường hợp người đó có được tài sản đó thông qua bán đấu giá hoặc với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu của tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa (Điều 258 BLDS). Còn đối với tài sản là động sản không phải đăng kí quyền sở hữu thì chủ thể có quyền đòi lại từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được tài sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm đoạt ngoài ý chí của chủ sở hữu (Điều 257 BLDS). - Xác định hình thức của hợp đồng: Theo quy định của Điều 467 BLDS thì tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng kí, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng kí quyền sở hữu. nghiên cứu - trao đổi 20 Tạp chí luật học số 1/2009 5. Ti sn cm lu thụng, hn ch lu thụng, t do lu thụng Cn c vo ch phỏp lớ i vi ti sn, ngi ta phõn chia ti sn thnh ba loi: Ti sn cm lu thụng, ti sn hn ch lu thụng v ti sn t do lu thụng. - Ti sn cm lu thụng l ti sn m vỡ li ớch ca nú i vi nn kinh t quc dõn, an ninh quc phũng, li ớch quc gia m Nh nc cm giao dch nh v khớ quõn dng, ma tuý, cht phúng x, ng vt quý him - Ti sn hn ch lu thụng l ti sn khi dch chuyn trong giao dch dõn s nht thit phi tuõn theo nhng quy nh riờng ca phỏp lut. Trong mt s trng hp phi c s ng ý, cho phộp ca c quan nh nc cú thm quyn. Vớ d v khớ th thao, thanh toỏn bng ngoi t vi s lng ln - Ti sn t do lu thụng l nhng ti sn m khụng cú quy nh no ca phỏp lut hn ch vic dch chuyn i vi ti sn ú. Nu cú s dch chuyn thỡ cỏc ch th khụng cn phi xin phộp. Hu ht cỏc ti sn tn ti trờn thc t hin nay u l ti sn t do lu thụng nh xe mỏy, ti vi, t lnh, lng thc, thc phm Vic xỏc nh ỳng loi ti sn ny cng cú ý ngha rt ln trong vic xỏc nh hiu lc phỏp lớ ca giao dch dõn s, c th: Ti sn cm lu thụng khụng th tr thnh i tng trong giao dch dõn s. Chớnh vỡ vy, nu cỏc bờn vn xỏc lp nhng giao dch ny thỡ giao dch ú s l giao dch vụ hiu tuyt i do cú ni dung vi phm iu cm ca phỏp lut; v khi ú ti sn giao dch, hoa li, li tc thu c s b tch thu sung qu nh nc. Cũn i vi ti sn hn ch lu thụng thỡ khi xỏc lp giao dch cỏc bờn phi tuõn th cht ch v iu kin giao dch, nu phỏp lut cú quy nh phi ng kớ hoc xin phộp thỡ cỏc bờn phi tuõn theo th tc ú. 6. Ti sn hin cú, ti sn hỡnh thnh trong tng lai Cú th núi khỏi nim ti sn hin cú v ti sn hỡnh thnh trong tng lai ch c phỏp lut dõn s cp trong phn liờn quan n giao dch bo m mc dự c lớ lun v thc tin u tha nhn rng loi ti sn ny cú th tr thnh i tng ca nhiu loi giao dch nh hp ng mua bỏn, trao i, tng cho, cho thuờ Cn c vo thi im hỡnh thnh ti sn v thi im xỏc lp quyn s hu cho ch s hu, ti sn c phõn loi thnh ti sn hin cú v ti sn hỡnh thnh trong tng lai. Ti sn hin cú l ti sn ó tn ti vo thi im hin ti v ó c xỏc lp quyn s hu cho ch s hu ca ti sn ú. Vớ d nh ó c xõy, dõy chuyn sn xut ó c lp rỏp hon thin. Ti sn hỡnh thnh trong tng lai c hiu l ti sn cha tn ti hoc cha hỡnh thnh ng b vo thi im xem xột (thng l thi im xỏc lp ngha v hoc giao dch c giao kt) nhng chc chn s cú hoc c hỡnh thnh trong tng lai vớ d tin lng s c hng, v mựa s c thu hoch, tu ang c úng, nh, cụng trỡnh xõy dng ang hỡnh thnh theo h s, d ỏn, thit k bn v thi cụng v tin nghiªn cøu - trao ®æi T¹p chÝ luËt häc sè 1/2009 21 cụ thể Ngoài ra, tài sản hình thành trong tương lai còn bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch tài sản đó mới thuộc sở hữu của các bên,(5) ví dụ như tài sản có được do mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, thừa kế nhưng chưa hoàn thành thủ tục chuyển giao quyền sở hữu. Việc xác định được đúng tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai có một số ý nghĩa nhất định: Xác định đối tượng được phép giao dịch: Chỉ những tài sản hiện có hoặc những tài sản hình thành trong tương lai được xác định ở trên mới có thể trở thành đối tượng của giao dịch còn những tài sản các chủ thể nghĩ rằng nó có thể sẽ có trong tương lai mà không có căn cứ để xác định nó chắc chắn sẽ có thì không được coi là đối tượng của bất kì giao dịch cũng như quan hệ nghĩa vụ nào. Điều 282 BLDS có quy định đối tượng của nghĩa vụ dân sự phải được xác định cụ thể và theo quy định tại điều 411 BLDS thì trong trường hợp ngay từ khi kí kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lí do khách quan thì hợp đồng này bị vô hiệu. Xác định hình thức, thủ tục xác lập: Vào thời điểm xem xét thì tài sản hình thành trong tương lai chưa tồn tại, chưa hoàn thiện hoặc chủ sở hữu chưa được xác lập quyền sở hữu. Chính vì vậy, về tính chất, vào thời điểm hiện tại thì quyền sở hữu của người sở hữu đối với tài sản sẽ hình thành trong tương lai thực chất là quyền tài sản. Do đó, việc xác lập giao dịch liên quan đến đối tượng là tài sản sẽ có trong tương lai buộc các bên phải bàn giao những giấy tờ chứng minh mình là người có quyền sở hữu đối với tài sản sẽ hình thành trong tương lai đó. 7. Tài sản chung, tài sản riêng Căn cứ vào số lượng chủ sở hữu đối với tài sản mà tài sản có thể được phân chia thành tài sản chung và tài sản riêng. Tài sản riêng là tài sản của một chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình. Chủ sở hữu ở đây có thể là cá nhân hoặc các chủ thể khác như Nhà nước, hợp tác xã, tổ chức chính trị, chính trị xã hội Tài sản chung là tài sản của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản. Sở hữu của các chủ sở hữu đối với tài sản chung có thể tồn tại dưới hình thức sở hữu chung hợp nhất hoặc sở hữu chung theo phần. Việc xác định được tài sản riêng hay tài sản chung có ý nghĩa trong việc xác định được các quyền năng của chủ sở hữu, quyền ưu tiên của chủ thể cũng như xác định hiệu lực của các giao dịch dân sự: - Trong việc thực hiện các quyền năng của quyền sở hữu: Đối với tài sản riêng thì chủ sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản của mình theo quy định của pháp luật. Còn đối với tài sản thuộc sở hữu chung của nhiều chủ sở hữu thì việc thực hiện các quyền năng của quyền sở hữu đối với mỗi loại sở hữu chung là khác nhau. Đối với sở hữu chung theo phần thì mỗi chủ sở hữu chung có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có nghiªn cøu - trao ®æi 22 T¹p chÝ luËt häc sè 1/2009 thoả thuận khác. Đối với tài sản chung hợp nhất thì các bên đều có quyền ngang nhau đối với tài sản chung nên khi thực hiện các quyền năng của quyền sở hữu các bên phải thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật hoặc theo tập quán. - Trong việc xác định hiệu lực của giao dịch: Vì tài sản chung khi đưa vào giao dịch cần phải có sự thống nhất ý chí của các chủ sở hữu chung nên nếu không thoả mãn điều kiện này thì giao dịch sẽ không phát sinh hiệu lực. Ví dụ thế chấp, mua bán tài sản chung của vợ chồng mà không có sự đồng ý của một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch sẽ vô hiệu. - Xác định quyền ưu tiên cho các chủ thể: Điều 223 BLDS quy định: “Trong trường hợp một chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác có quyền ưu tiên mua Trong trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu toà án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.” 8. Tài sản xác định được chủ sở hữu, tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu Căn cứ vào mối liên hệ giữa đối tượng với chủ thể quyền, tài sản được phân thành tài sản xác định được chủ sở hữu, tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu. Tài sản xác định chủ sở hữu là tài sản vào thời điểm xem xét có chủ sở hữu đối với tài sản đó. Tài sản vô chủ là tài sản mà vào thời điểm xem xét thì chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản đó và chưa có ai được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó. Tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu là tài sản mà vào thời điểm xem xét không xác định được chủ sở hữu và cũng không có căn cứ chứng minh rằng chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản đó. Hiện nay, trong BLDS Việt Nam không đề cập các loại tài sản kể trên mà cách phân loại này chỉ được hiểu gián tiếp thông qua các quy định về vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu. Chính vì vậy mà hiện nay, BLDS chỉ quy định xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu, vật đánh rơi, bỏ quên chôn giấu, chìm đắm mà không xác định đối với tài sản nói chung (Điều 239, 240, 241 BLDS). Quy định đó đã dẫn đến những cách hiểu khác nhau như sau: Trong trường hợp tiền, giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản mà chủ sở hữu từ bỏ quyền sỏ hữu của mình hoặc không xác định được ai là chủ sở hữu thì người phát hiện có thể được xác lập quyền sở hữu theo các điều luật trên hay không? Hay đối với những loại tài sản đó sẽ thuộc sở hữu nhà nước? Có thể nói, vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu là một loại tài sản và trong nghiªn cøu - trao ®æi T¹p chÝ luËt häc sè 1/2009 23 trường hợp này các tài sản khác vô chủ, không xác định được chủ sở hữu cũng mang bản chất giống như vậy. Do đó, đối với loại tài sản khác cũng nên áp dụng quy định này làm căn cứ xác lập quyền sở hữu cho người phát hiện được. Chính vì vậy, trong thời gian tới, nếu BLDS được sửa đổi bổ sung thì những quy định đó cũng cần phải được xem xét, sửa đổi cho phù hợp. 9. Tài sản chia được, tài sản không chia được BLDS Việt Nam hiện nay chỉ phân loại vật thành vật chia được và vật không chia được mà không xem xét việc chia được hay không chia được đối với các loại tài sản khác như giấy tờ có giá và quyền tài sản. Chính vì vậy khi cần phải phân chia những tài sản đó sẽ dẫn đến câu hỏi là có cần phải bán đi và tính thành tiền để chia hay không? Trên thực tế thì trong trường hợp này nếu chia được bằng tài sản đó thì toà án sẽ phân chia luôn chứ không nhất thiết phải bán để chia (ví dụ, chia quyền sử dụng đất có diện tích lớn). Hơn nữa, trong BLDS tại Điều 300 có quy định về thực hiện nghĩa vụ dân sự phân chia được theo phần như sau: “Nghĩa vụ dân sự phân chia được theo phần là nghĩa vụ mà đối tượng của nghĩa vụ là vật chia được hoặc công việc có thể chia thành nhiều phần để thực hiện. Bên có nghĩa vụ có thể thực hiện từng phần nghĩa vụ trừ trường hợp có thoả thuận khác”. Điều 301 quy định: “Nghĩa vụ dân sự không phân chia được theo phần là nghĩa vụ mà đối tượng của nghĩa vụ là vật không chia được hoặc là công việc phải thực hiện cùng một lúc. Trong trường hợp nhiều người cùng phải thực hiện nghĩa vụ không phân chia được thì họ phải thực hiện nghĩa vụ cùng một lúc”. Vậy nếu đối tượng của nghĩa vụ không phải là vật mà là các tài sản khác thì trong trường hợp này có được xem xét là nghĩa vụ dân sự phân chia được theo phần hay không? Nếu câu trả lời là không thì nghĩa vụ đó có luôn được hiểu là nghĩa vụ dân sự không phân chia được theo phần và nếu có nhiều chủ thể nghĩa vụ thì các chủ thể đó phải thực hiện nghĩa vụ cùng một lúc hay không? Việc BLDS định nghĩa cả hai loại nghĩa vụ này và không dùng phương pháp loại trừ dẫn đến có loại nghĩa vụ không thể xếp vào loại này hoặc loại kia. Điều này dẫn đến sự không thuận lợi cho các chủ thể trong khi thực hiện nghĩa vụ nếu nghĩa vụ ở đây là nghĩa vụ trả tiền hay giao giấy tờ có giá. Như vậy, BLDS Việt Nam trong thời gian tới cũng cần xem xét đến cách phân loại tài sản này. Theo tác giả thì trong trường hợp này, tài sản chia được có thể được hiểu là những vật khi chia thành nhiều phần nhỏ vẫn giữ nguyên được hình dáng, tính năng sử dụng ban đầu hoặc là những tài sản khác mà khi cần chia thì có thể chia được bằng chính tài sản đó mà không cần trị giá thành tiền để chia. 10. Tài sản hữu hình, tài sản vô hình Tài sản hữu hình và tài sản vô hình là hai khái niệm được nhắc đến rất nhiều trong khoa học pháp lí cũng như trong thực tiễn. Tuy nhiên, những khái niệm này cũng chưa . luËt häc sè 1/2009 Đây là cách phân loại mang nhiều ý nghĩa trong luật dân sự cũng như trong các ngành luật khác. Trong luật dân sự, có nhiều trường hợp. hai loại tài sản này rất khác nhau cần phải có quy phạm điều chỉnh riêng đối với từng loại. Theo pháp luật dân sự Việt Nam, việc phân loại tài sản thành

— Xem thêm —

Xem thêm: Tài liệu Báo cáo " Các loại tài sản trong luật dân sự Việt Nam " docx, Tài liệu Báo cáo " Các loại tài sản trong luật dân sự Việt Nam " docx, Tài liệu Báo cáo " Các loại tài sản trong luật dân sự Việt Nam " docx

Lên đầu trang

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.633396863937 s. Memory usage = 14.02 MB