Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay

mat_hoa_da_phan
mat_hoa_da_phan(5274 tài liệu)
(38 người theo dõi)
Lượt xem 331
4
Tải xuống 8,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 113 | Loại file: DOC
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 27/11/2012, 15:38

Mô tả: Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay Mở đầu1. Tính cần thiết của đề tàiThất nghiệp là một hiện tợng kinh tế - xã hội mà hầu hết các nớc trên thế giới phải đơng đầu. Trong nền kinh tế thị trờng, thất nghiệp là một hiện tợng khách quan và nó đợc biểu hiện nh một đặc trng vốn có của kinh tế thị trờng. Tác động của thất nghiệp đến sự phát triển, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi quốc gia là rất lớn, nó đẩy ngời lao động bị thất nghiệp vào tình cảnh túng quẫn, lãng phí nguồn lực xã hội, là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình trệ. Thất nghiệp gia tăng làm cho tình hình chính trị xã hội bất ổn, các tệ nạn xã hội và tội phạm gia tăng làm băng hoại các giá trị đạo đức, văn hóa của gia đình và xã hội. Thất nghiệp dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng về thu nhập kinh tế quốc dân, sự lãng phí nguồn nhân lực do tỷ lệ thất nghiệp cao đi liền với sự giảm sút thu nhập do không sản xuất. Đồng thời, thất nghiệp còn làm tăng chi tiêu của Chính phủ, của doanh nghiệp và xã hội cho các trợ cấp thất nghiệp và các chi phí có liên quan nh chi phí đào tạo, đào tạo lại, bồi dỡng, dịch vụ việc làm. Vì vậy, hạn chế thất nghiệp và đảm bảo ổn định đời sống ngời lao động trong trờng hợp bị thất nghiệp là mục tiêu chung của các quốc gia và các tổ chức quốc tế và khu vực. Nớc ta, tuy mới bớc vào nền kinh tế thị trờng nhng thất nghiệp đã, đang và sẽ là vấn đề cấp thiết mà Đảng, Nhà nớc và toàn xã hội phải tập trung giải quyết. Nhận thức đợc điều này, khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng, ngay từ rất sớm, Đảng ta đã khẳng định "Từng bớc hình thành quỹ bảo trợ thất nghiệp ở thành thị, đảm bảo công ăn việc làm cho dân là mục tiêu hàng đầu, không để thất nghiệp trở thành căn bệnh kinh niên " (Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII, năm 1996). Tiếp đó, vấn đề thất nghiệp và bảo trợ thất nghiệp đã đợc khảng định lại trong nhiều văn kiện của Đảng và đợc cụ thể hoá bằng nhiều chính sách đối với vấn đề này. Đặc biệt, Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) ra đời là những văn bản pháp lý quan trọng của chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) ở Việt Nam. Từ 01/01/2009, Việt Nam chính thức thực hiện BHTN. Qua gần hai năm thực hiện, chính sách BHTN đã đạt đợc những kết quả bớc đầu. Tuy nhiên, chính sách đó đang còn những bất cập và gặp khó khăn trong quá trình thực hiện. điều đó cho thấy việc nghiên cứu, hoàn thiện chính sách BHTN ở Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết hiện nay. Chính vì vậy đề tài "Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay" đợc nghiên cứu với mong muốn góp phần giải quyết yêu cầu thực tế về hoàn thiện chính sách BHTN ở nớc ta hiện nay.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn- Tình hình nghiên cứu ngoài nớcThất nghiệp và lạm phát là hai vấn đề có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đồng thời cũng là hai vấn đề nan giải và khó giải quyết đối với chính phủ các nớc. Bởi vậy, ngay sau khi ra đời ILO đã phê chuẩn công ớc thất nghiệp và những vấn đề có liên quan đến thất nghiệp nh phần trên đã trình bày. Có hai loại chính sách mà nhiều nớc đã hoạch định và tổ chức thực hiện đó là: chính sách BHTN và chính sách BHXH (trong đó có chế độ trợ cấp thất nghiệp). Để hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách này là hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội của từng nớc. Tuy nhiên có một số nhà khoa học đã công bố những công trình nghiên cứu của mình liên quan đến BHTN và trợ cấp thất nghiệp, điển hình nh: ở Cộng hòa Liên bang Đức có Schmid; ở Mỹ có Wernev và Wayne Nafziger; ở Anh có David và Pearce; ở Nga có V.Paplốp; .Nhìn chung những công trình nghiên cứu của các tác giả mới chỉ tập trung chủ yếu vào phản ánh thực trạng thất nghiệp, nguyên nhân và hậu quả thất nghiệp trong một giai đoạn nào đó, ở những nớc và những khu vực nào đó trên thế giới. Có một số nghiên cứu đã tiếp cận với BHTN và trợ cấp thất nghiệp, song mới chỉ đa ra những định hớng về đối tợng tham gia, mức trợ cấp và thời gian hởng trợ cấp thất nghiệp. Do đây là một vấn đề kinh tế - xã hội đặc thù của từng nớc, cho nên những nghiên cứu của các tác giả kể trên có chăng chỉ để tham khảo trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách BHTN ở Việt Nam.- Tình hình nghiên cứu trong nớcở Việt Nam, trong thời kỳ bao cấp vấn đề thất nghiệp đợc coi nh không tồn tại và quan niệm thất nghiệp không gắn với chủ nghĩa xã hội mà chỉ chủ nghĩa t bản mới có thất nghiệp. Sở dĩ chúng ta quan niệm nh vậy là vì xuất phát từ luận điểm: Mọi công dân đều có quyền có việc làm, có nghĩa vụ phải làm việc và Nhà nớc sẽ bảo đảm đầy đủ chỗ làm việc cho ngời lao động. Do đó, trong thực tế cũng nh trong khoa học và lý luận không đặt ra để nghiên cứu.Chỉ từ khi chúng ta chuyển đối cơ chế quản lý kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa và đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1998 thì vấn đề nghiên cứu thất nghiệp và BHTN mới thực sự đợc đặt ra. BHTN là vấn đề mới cho nên các công trình nghiên cứu cha nhiều mà chủ yếu là những bài viết khoa học về thất nghiệp, xây dựng chế độ BHTN, hoặc liên quan đến vấn đề này dới góc độ lý luận và kinh nghiệm của các nớc trên thế giới nh: "Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trờng", của TS Nguyễn Văn Định và các cộng sự của bộ môn Kinh tế Bảo hiểm - Trờng đại học Kinh tế Quốc dân thực hiện, 2000; Cuốn sách "Bảo hiểm xã hội - những điều cần biết", do Nhà xuất bản Thống kê phát hành năm 2001; PGS.TS Nguyễn Văn Kỷ đã có một bài viết "Luật Bảo hiểm xã hội và vấn đề bảo hiểm thất nghiệp"; "Những vấn đề lý luận và thực tiễn để xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp" (thực hiện năm 1999) và "Cơ chế tạo nguồn và tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp" (thực hiện năm 2003), của Vụ Chính sách Lao động và Việc làm, Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội; "Nghiên cứu xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo Luật Lao động sửa đổi, bổ sung", của Vụ Bảo hiểm xã hội, Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội (thực hiện năm 2002); "Nghiên cứu những nội dung cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp hiện đại - vấn đề lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam" (thực hiện năm 2004), do TS. Nguyễn Huy Ban và các cộng sự tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam; "Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam", của PGS.TS. Nguyễn Văn Định, Trờng Đại học Kinh tế quốc dân, 2008 .Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu, bài viết nhìn chung mới chỉ đề cập tới từng khía cạnh riêng lẻ, bức xúc trong lĩnh vực việc làm, thất nghiệp và BHTN trong điều kiện nớc ta cha thực hiện chính sách BHTN. Vì thế cha có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện và đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách BHTN ở Việt Nam, do đó có thể nói đề tài "Chính sách Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay" là luận văn thạc sĩ đầu tiên nghiên cứu về chính sách BHTN đã đợc triển khai thực hiện ở Việt Nam. Tuy nhiên chính sách BHTN là vấn đề khó, mới đợc triển khai thực hiện ở Việt Nam và là đối t-ợng nghiên cứu của cả khoa học pháp lý và khoa học kinh tế, cho nên trong luận văn cũng có sử dụng những t liệu, những bài viết, những công trình nghiên cứu của các tác giả, các nhà khoa học đi trớc. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn- Mục đích Đề tài có mục đích phân tích và làm rõ thêm một số cơ sở lý luận, thực tiễn về thất nghiệp và chính sách BHTN ở Việt Nam. Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện chính sách BHTN ở Việt Nam trong thời gian tới. - Nhiệm vụĐể thực hiện mục đích trên đề tài có nhiệm vụ sau:- Hệ thống hóa và phân tích làm rõ thêm cơ sở lý luận về thất nghiệp và chính sách BHTN.- Phân tích thực trạng thất nghiệp và chính sách BHTN ở Việt Nam.- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện chính sách BHTN của Việt Nam hiện nay.4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu- Đối tợng nghiên cứu của đề tài là chính sách BHTN.- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Chính sách BHTN ở đây bao gồm hỗ trợ về tài chính khi mất việc làm, hỗ trợ đào tạo nghề và cung cấp thông tin tìm kiếm việc làm mới. Chính sách này áp dụng đối với những ngời lao động làm công ăn lơng, có tham gia vào quan hệ lao động, có giao kết hợp đồng lao động và ngời thất nghiệp ở đây là ngời Việt Nam.Về không gian: trên phạm vi toàn quốc.Về thời gian: đề tài nghiên cứu chính sách BHTN ở Việt Nam (chính sách hỗ trợ ngời thất nghiệp trớc năm 2009) từ sau khi Luật Lao động đợc sửa đổi, bổ sung và có hiệu lực từ năm 2002 đến nay. 5. Phơng pháp nghiên cứuĐể giải quyết đề tài, phép biện chứng duy vật của triết học Mác-Lênin và t tởng Hồ Chí Minh đợc sử dụng với t cách là phơng pháp luận cho việc nghiên cứu. Ngoài ra, những phơng pháp nghiên cứu khoa học kinh tế, xã hội phù hợp với từng vấn đề của đề tài cũng đợc vận dụng nh: tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, đối chiếu, diễn giải, quy nạp .6. Đóng góp của luận văn- Hệ thống hóa lý luận về thất nghiệp, BHTN và chính sách BHTN.- Làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, xây dựng chính sách BHTN và nghiên cứu về BHTN.7. Kết cấu của luận vănNgoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chơng, 8 tiết.Chơng 1Những Vấn Đề Lý Luận CHUNG Về Chính Sách bảo hiểm thất nghiệp1.1. Khái Quát Về Thất Nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp1.1.1. Khái niệm, phân loại, nguyên nhân và ảnh hởng của thất nghiệp1.1.1.1. Khái niệm thất nghiệpLao động đợc hình thành và phát triển cùng với xã hội loài ngời. Lao động luôn đợc coi là nhu cầu cơ bản nhất, chính đáng nhất của con ngời đồng thời cũng là nghĩa vụ cao cả của mọi công dân. Nh vậy, mỗi ngời chúng ta muốn sống, tồn tại thì đều phải lao động hay nói cách khác là phải có việc làm. Tuy nhiên, ở mọi xã hội, không phải lúc nào nhu cầu làm việc của các cá nhân đều đợc đáp ứng đợc đầy đủ. Trong xã hội luôn có một bộ phận ngời không có việc làm, bị mất việc làm, thiếu việc làm. Tuy nhiên, tất cả những ngời đó có đ-ợc coi là thất nghiệp hay không?Có rất nhiều quan niệm về thất nghiệp:Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số ngời trong độ tuổi lao động, muốn làm việc nhng không thể tìm đợc việc làm với mức lơng phổ biến trong thị trờng lao động. Còn ngời thất nghiệp là ng-ời trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhng không có việc làm, không làm kể cả một giờ trong tuần lễ điều tra, đang đi tìm việc làm, có điều kiện là họ làm ngay.Tại Việt Nam, Bộ Luật lao động (sửa đổi năm 2002), ngoài việc quy định về việc làm, ngời có việc làm, ngời thiếu việc làm, đã quy định về thất nghiệp và ng-ời thất nghiệp.Ngời không có việc làm là ngời hoàn toàn không làm công việc gì để h-ởng lơng, tiền công hay lợi nhuận vì nhiều lý do khác nhau nh không tìm đợc việc làm, không muốn làm việc, không có nhu cầu làm việc mặc dù trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động.Ngời lao động có việc làm là ngời trong độ tuổi lao động, đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân, với thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho ngời lao động có việc làm trong tuần lễ điều tra. Tùy theo tình hình kinh tế-xã hội và đặc điểm của từng nhóm ngành nghề, Nhà nớc quy định mức thời gian làm việc chuẩn để đợc coi là có việc làm.Ngời lao động thiếu việc làm là ngời trong khoảng thời gian điều tra, có thời gian làm việc dới mức quy định chuẩn cho ngời có đủ việc làm và có nhu cầu làm việc thêm. Mức thời gian chuẩn tùy thuộc vào ngành nghề và tính chất công việc do Nhà nớc quy định cụ thể cho từng thời kỳ. Hiện tợng thất nghiệp tạm thời thờng xảy ra đối với lao động làm việc trong các ngành nông nghiệp, ng nghiệp.Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi có một số ngời trong lực lợng lao động, có khả năng lao động, muốn làm việc nhng không thể tìm đợc việc làm ở mức tiền lơng tối thiểu.Ngời thất nghiệp là những ngời từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam, đến 55 tuổi đối với nữ, làm việc theo hợp đồng lao động, có nhu cầu làm việc, vì những lý do khác nhau không có việc làm và đang đi tìm việc làm trong tuần lễ điều tra.Theo định nghĩa này, ở Việt Nam ngời đợc coi là thất nghiệp bao gồm:- Ngời lao động đang làm việc bị mất việc vì các lý do sau: Doanh nghiệp phá sản; Doanh nghiệp sắp xếp lại sản xuất hoặc áp dụng công nghệ mới; Doanh nghiệp giải thể theo quy định của pháp luật; Ngời lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động trớc thời hạn, bị sa thải, hợp đồng lao động hết thời hạn mà doanh nghiệp thôi không tiếp tục ký hợp đồng.- Ngời lao động mới đến tuổi lao động, học sinh, sinh viên mới tốt nghiệp hoặc thôi học nhng cha tìm đợc việc làm.- Bộ đội xuất ngũ, thanh niên xung phong hết nghĩa vụ quân sự, ngời lao động đi xuất khẩu lao động về nớc cha có việc làm.- Những đối tợng sau thời gian quản giáo hoặc chữa trị bệnh đang có nhu cầu về việc làm.- Những ngời nghỉ việc tạm thời, không có thu nhập do tính thời vụ sản xuất.Những ngời không bị coi là ngời thất nghiệp bao gồm:- Những ngời có việc làm nhng hiện tại không làm việc vì một lý do nào đó nh nghỉ phép, nghỉ ốm, tai nạn .- Những ngời trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhng đang đi học hoặc đang thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nớc, làm nội trợ hoặc không có nhu cầu về việc làm.Nh vậy, không phải tất cả những ngời không có việc làm đều là ngời thất nghiệp. Chỉ những ngời không có việc làm, trong độ tuổi lao động, có nhu cầu tìm việc làm, mới đợc coi là ngời thất nghiệp. Ngời thất nghiệp đợc quy định trong Bộ luật Lao động của Việt Nam bao gồm cả những ngời lao động đã từng đi làm và cả những ngời cha từng đi làm, có nhu cầu tìm việc nhng hiện không có việc làm.Ngời lao động thiếu việc làm theo quy định của Bộ luật Lao động (năm 2002) không đợc coi là ngời thất nghiệp.Luật BHXH (năm 2006) của Việt Nam cũng quy định ngời thất nghiệp là: "Ngời đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhng cha tìm đợc việc làm".Đối tợng của BHTN chỉ bao gồm những ngời thất nghiệp, đã từng làm việc có hợp đồng lao động (theo Bộ luật Lao động) và những ngời thất nghiệp đợc quy định trong Luật BHXH.Nh vậy, ngời thất nghiệp chịu sự điều chỉnh của Luật BHXH là công dân Việt Nam, làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng, làm việc trong các đơn vị sử dụng lao động có sử dụng từ 10 lao động trở lên, có đóng BHTN theo quy định và vì các lý do khác nhau mà bị mất việc làm, chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, nhng vẫn có nhu cầu làm việc và cha tìm đợc việc làm.1.1.1.2. Phân loại thất nghiệpCó nhiều tiêu chí để phân loại thất nghiệp.a. Căn cứ vào loại hình thất nghiệp, có thể phân chia thất nghiệp thành những loại sau- Thất nghiệp theo giới tính.- Thất nghiệp theo lứa tuổi.- Thất nghiệp theo vùng lãnh thổ.- Thất nghiệp theo ngành nghề.- Thất nghiệp theo dân tộc, chủng tộc.b. Căn cứ vào lý do thất nghiệp, có các loại thất nghiệp sau- Thất nghiệp do bỏ việc, họ là những ngời tự ý xin thôi việc vì những lý do khác nhau nh tiền công thấp, công việc không phù hợp, địa điểm làm việc xa, .- Thất nghiệp do mất việc, là ngời lao động không có việc làm do chủ sử dụng lao động cho thôi việc vi một lý do nào đó.- Thất nghiệp do mới vào, họ là những ngời lần đầu tiên tham gia vào lực l-ợng lao động, nhng cha tìm đợc việc làm, đang tích cực tìm kiếm việc làm.- Thất nghiệp do quay lại, họ là những ngời lao động đã rời khỏi lực l-ợng lao động, nay muốn quay lại làm việc nhng cha tìm đợc việc làm.c. Căn cứ vào nguồn gốc thất nghiệp, có thể thấy những loại thất nghiệp dới đây- Thất nghiệp dai dẳng, là mức thất nghiệp tối thiểu không thể giảm đợc trong một nền kinh tế năng động. Dạng thất nghiệp này gồm những ngời tạm thời không có việc làm trong thời gian chuyển công việc trong một nền kinh tế mà lực lợng lao động và các công việc tìm ngời luôn thay đổi.- Thất nghiệp do cơ cấu, là thất nghiệp do không có sự đồng bộ giữa tay nghề, trình độ đợc đào tạo với cơ hội có việc làm khi nhu cầu và sản xuất thay đổi. Nó xảy ra khi có sự thay đổi cơ cấu kinh tế làm mất cân đối giữa cung và cầu cục bộ trên thị trờng lao động.- Thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi cầu chung về lao động giảm xuống. Nguyên nhân chính của hiện tợng này là do nền kinh tế suy thoái, tổng cầu giảm, kéo theo cầu lao động giảm.- Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trờng xảy ra khi tiền công bị ấn định cao hơn mức tiền lơng cân bằng, nhằm đảm bảo quyền lợi cho bộ phận lao động yếu thế trên thị trờng. Mức tiền lơng này do Chính phủ ấn định hoặc do sức ép của công đoàn, nghiệp đoàn.- Thất nghiệp do công nghệ do áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất, máy móc thiết bị thay thế con ngời, chỉ cần một số ít ngời vận hành, một bộ phận ngời lao động trong các dây chuyền sản xuất bị dôi ra, trở thành thất nghiệp công nghệ.- Thất nghiệp chu kỳ. Xuất hiện do kinh tế phát triển mang tính chu kỳ. Trong giai đoạn suy thoái, mức cầu chung về lao động giảm và do vậy làm gia tăng thất nghiệp. Loại thất nghiệp này diễn ra theo chu kỳ và mang tính quy luật.d. Phân loại thất nghiệp theo quan điểm hiện đại- Thất nghiệp tự nguyện là thất nghiệp do không chấp nhận mức lơng hiện hành của thị trờng nên không đi làm, mặc dù họ vẫn có nhu cầu làm việc. . thực trạng việc thực hiện chính sách BHTN ở Việt Nam, do đó có thể nói đề tài " ;Chính sách Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay& quot; là luận văn. Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) ra đời là những văn bản pháp lý quan trọng của chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) ở Việt Nam. Từ 01/01/2009, Việt Nam chính

— Xem thêm —

Xem thêm: Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay, Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay, Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Lên đầu trang

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.30701899528503 s. Memory usage = 17.66 MB