NGUYỄN DU THƠ CHỮ hán và TRUYỆN KIỀU

Sneaking Love1502
Sneaking Love1502(87 tài liệu)
(9 người theo dõi)
Lượt xem 20
5
Tải xuống 20,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 24 | Loại file: DOCX
2

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 07/03/2014, 21:40

Mô tả: NGUYỄN DU THƠ CHỮ hán và TRUYỆN KIỀU NGUYỄN DU – THƠ CHỮ HÁN VÀ TRUYỆN KIỀUMỤC LỤCBất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?Thương thay một bậc tài hoa nhưng "sinh bất phùng thời"! Câu hỏi khắc khoải của Nguyễn Du chứa đựng biết bao trăn trở cũng như mong mỏi tri âm, khát khao đồng điệu gửi tới hậu thế. Mỗi lần lật trang thơ của bậc đại thi hào như thấy có một tấm lòng đang đau đáu, thiết tha muốn giãi bày, muốn tâm sự với cuộc đời, người viết mạnh dạn trình bày một vài suy nghĩ về thơ Nguyễn Du để phần nào bày tỏ tấc lòng tri âm của hậu thế.1. Tiểu sử Nguyễn Du1.1. Thời đạiNguyễn Du sinh trưởng trong một triều đại lịch sử có nhiều biến cố dữ dội (nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX): các triều đại phong kiến liên tiếp thịnh suy, đặc biệt là sự khủng hoảng trầm trọng của triều đình phong kiến nhà Nguyễn, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ để lật đổ triều đình phong kiến thối nát. Sinh trưởng trong thời đại đó, Nguyễn Du là một nhân chứng lịch sử điển hình, những biến cố lịch sử đó ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng cũng như sáng tác của ông. Hơn nữa đây cũng là thời đại mà ý thức cá nhân có sự thức tỉnh, các nhà văn, nhà thơ có thể mạnh dạn nói lên những tâm sự, những suy nghĩ của chính bản thân mình.1.2. Quê hương, gia đình Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình có hai truyền thống lớn là truyền thống làm quan và truyền thống văn học. Người dân Hà Tĩnh truyền tụng nhau câu ca về truyền thống quan lại của dòng họ này như sau: "Bao giờ ngàn Hống hết cây/ Sông Rum hết nước họ này hết quan". Cha Nguyễn Du từng làm quan đến chức Tể tướng, người anh Nguyễn Khản làm đến chức Tham tụng. Gia đình lại có nhiều người viết sách, làm văn, làm thơ chữ Nôm. Mẹ Nguyễn Du là người Bắc Ninh, có tài hát xướng Xuất thân trong một gia đình như vậy, Nguyễn Du được thừa hưởng tư chất thông minh và đặc biệt được nuôi dưỡng trong một môi trường văn hoá, văn học nên sớm nảy nở năng khiếu văn học và sớm chiếm lĩnh được vốn tri thức đồ sộ về văn hoá, văn học, sử học, triết học Đó là một nền tảng tốt để tạo nên một đại thi hào Nguyễn Du sau này.1.3. Những sự kiện chính trong cuộc đờiMười ba tuổi, Nguyễn Du mồ côi mẹ, đến sống với người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản đang làm quan ở kinh thành. Trong thời gian này ông có điều kiện dùi mài kinh sử và có dịp hiểu biết sâu sắc cuộc sống phong lưu, xa hoa của giới quan lại, quý tộc, chứng kiến số kiếp tài hoa bạc mệnh của những người ca nhi, kĩ nữ với tiếng đàn, giọng hát trong các cung vua, phủ chúa. Chính vì vậy nên đề tài người ca nữ ám ảnh trong các sáng tác của ông.Năm 1789 quân Tây Sơn kéo ra Thăng Long lần thứ 2 phá tan 20 vạn quân Thanh, vua Lê Chiêu Thống chạy theo quân Thanh, triều đại Tây Sơn được lập nên. Nguyễn Du bất hợp tác với triều đại Tây Sơn, về quê vợ ở Thái Bình, một thời gian sau trở về sống dưới chân núi Hồng Lĩnh. Khoảng thời gian 10 năm gió bụi, khổ cực này đã giúp ông có vốn sống thực tế phong phú. Nguyễn Du đã suy ngẫm nhiều về xã hội, về thân phận con người và tiếp thu được vốn ngôn ngữ dân gian. Chính hoàn cảnh này đã chắp cánh cho tài năng và bản lĩnh sáng tạo của Nguyễn Du thực sự nở rộ.Năm 1802, Nguyễn Du ra làm quan cho triều đình nhà Nguyễn. Sau đó ông được cử đi sứ Trung Quốc, được tiếp xúc với một nền văn hoá, một đất nước mà từ nhỏ ông đã được làm quen qua sử sách, thơ văn. Những tư tưởng về xã hội và thân phận con người của ông được nâng lên tầm khái quát rộng lớn (không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn được nâng lên tầm nhân loại).Song tựu chung lại ta thấy, Nguyễn Du đã sống một cuộc đời đầy bi kịch. Bi kịch lớn nhất là ông từng có hoài bão, khát khao một sự nghiệp lẫy lừng, vẫy vùng cho phỉ chí nhưng gặp lúc thay đổi sơn hà, thời đại sụp đổ nên bao nhiêu tài năng, hoài bão của ông bị bỏ phí, ông phải sống cuộc đời triền miên, buồn chán, vô vị. Ông tự cho mình là kẻ "sinh bất phùng thời", tài hoa bạc mệnh. Chính vì vậy, thơ văn của Nguyễn Du đặc biệt bày tỏ sự cảm thông với số phận của những người tài hoa bạc mệnh: "Cổ kim hận sự thiên nan vấn/ Phong vận kì oan ngã tự cư".2. Sự nghiệp văn học của Nguyễn DuTên tuổi đại thi hào Nguyễn Du dường như đã gắn liền với kiệt tác Truyện Kiều. Song bên cạnh Truyện Kiều còn một viên ngọc quý cần được "mài cho sáng" để hiểu và yêu thơ Nguyễn Du hơn. Đó chính là bộ phận: thơ chữ Hán.2.1. Về thơ chữ Hán của Nguyễn Du Nguyễn Du để lại 3 tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục. Tổng cộng 250 bài, trong đó có những bài thơ xứng đáng là kiệt tác của văn học Việt Nam như Độc Tiểu Thanh kí, Sở kiến hành, Phản chiêu hồn Thơ chữ Hán của Nguyễn Du được đánh giá là những "áng văn chương trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa. Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của cha ông ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa".Nhận định của nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên đã đánh giá một cách ngắn gọn những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của thơ chữ Hán Nguyễn Du.2.1.1. Một số đặc sắc về nội dung thơ chữ Hán Khác với Truyện Kiều và Văn chiêu hồn, thơ chữ Hán của Nguyễn Du là những vần thơ tâm tình. Hình ảnh nhân vật trữ tình – tác giả trực tiếp xuất hiện để bày tỏ tâm sự, tình cảm, nỗi niềm trước thời cuộc, trước cuộc đời đầy bi kịch của chính mình và của những kiếp người khốn khổ nói chung. Nội dung đó có thể tìm hiểu qua một vài khía cạnh biểu hiện sau đây: a. Tâm sự phức tạp của Nguyễn Du đối với các triều đại phong kiến đương thời. Sinh trưởng trong một tiều đại lịch sử có nhiều biến động dữ dội với sự thịnh- suy, hưng - phế của các triều đại phong kiến Lê – Tây Sơn - Nguyễn, nhân sinh quan và tư tưởng của Nguyễn Du khá phức tạp. Nguyễn Du vốn là tôi nhà Lê và đã từng vì nhà Lê mà chống lại Tây Sơn, cuối cùng lại ra làm quan triều Nguyễn. Vậy thái độ của ông đối với từng triều đại như thế nào? Sau khi triều đại Lê - Trịnh bị lật đổ, Nguyễn Du đã bày tỏ tâm sự nhớ tiếc nhà Lê và trong sự nhớ tiếc có cả nỗi đau đớn, xót xa, tủi nhục cho tình cảnh "sảy đàn tan nghé" của tập đoàn phong kiến này. Quá khứ hưng thịnh của triều đại này luôn ám ảnh và sống dậy trong tâm trí khi ông trở lại Thăng Long nay đã có nhiều thay đổi: Cù hạng tứ khai mê cựu tích, Quản huyền nhất biến tạp tân thanh. (Đường phố mở mang ngang dọc làm mờ cả dấu vết cũ Tiếng đàn, tiếng sáo cũng đổi thay vì lẫn với những âm điệu mới). Mặc dù nhớ tiếc nhà Lê, song Nguyễn Du cũng đã nhận thức rất rõ thời mạt nhà Lê đã hết. Chính vì thế trong thơ ông nghe như có âm hưởng tiếng cười nhạo thời buổi Nguyễn sơ Lê mạt khi viết những câu thơ về Phạm Tăng - chỉ biết giữ lòng trung với nước Sở mà không chịu hiểu rằng "mệnh trời" đã hoàn toàn thuộc về nhà Hán: Đa thiểu nhất tâm trung sở sự Mỗi vi thiên hạ tiếu kỳ ngu. (Bao nhiêu kẻ hết lòng trung với người mình thờ Thường bị thiên hạ cười là ngu). (Á phủ mộ) Như vậy cười Phạm Tăng phải chăng cũng là Nguyễn Du đang cười chính lòng trung của mình với triều Lê - một triều đại sụp đổ như một tất yếu lịch sử? Còn đối với triều đại Tây Sơn, với tư tưởng "tôi trung không thờ hai chủ", ông đã dứt khoát bất hợp tác với triều đại này, thậm chí còn tính chuyện phù Lê chống Tây Sơn. Song điều lạ lùng là mặc dù chống Tây Sơn nhưng Nguyễn Du không hề tỏ thái độ oán hận, hằn học với triều đại đó nếu không muốn nói là có chút ít thiện cảm khi ông vẽ lên hình ảnh quan tướng Tây Sơn hào hoa phong nhã mà ông đã bắt gặp thoáng qua trong một lần ghé thăm người anh ruột ở Thăng Long: Tây Sơn chư thần mãn toạ tận khuynh đảo Triệt dạ truy hoan bất tri bão. Tả phao hữu trịch tranh triền đầu, Nê thổ kim tiền thù thảo thảo. (Các quan Tây Sơn trong tiệc rượu đền nghiêng ngả, Mải vui suốt đêm không biết chán. Phía tả hữu tranh nhau gieo thưởng, Tiền bạc coi rẻ như đất bùn.) (Long thành cầm giả ca). Và khi Tây Sơn bị sụp đổ, chính Nguyễn Du lại cất lên tiếng thở dài bùi ngùi, xót xa: Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong, Ca vũ không di nhất nhân tại. (Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu vong đâu hết, Mà còn sót lại một người trong làng ca múa). (Long thành cầm giả ca) Có thể nói, chính sự lừng lẫy của chiến thắng Tây Sơn, sự anh minh một thời của triều đại này đã khiến cho tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Du ít nhiều đã thay đổi. Đến khi ra làm quan cho triều Nguyễn, bước chân vào vòng "bể hoạn" của Gia Long, Nguyễn Du cũng không lấy gì làm thoả mãn. Ông nghĩ rằng mình đã tự trói buộc mình vào lồng cũi, mất tự do: Thử thân dĩ tác phàn lung vật, Hà xứ trùng tầm hãn mạn du. (Thân này đã là vật trong lồng cũi, Còn tìm đâu được cuộc đời phóng khoáng, tự do nữa?) (Tân thu ngẫu hứng) Vẫn làm quan nhưng vẫn khổ sở, Nguyễn Du thấy hiện thực xung quanh mình ngột ngạt, bế tắc: Cưỡng khởi thôi song vọng minh nguyệt Lục âm trùng diệp bất di quang. (Gắng dậy mở cửa sổ xem trăng sáng Bóng râm lớp lớp không để lọt tia sáng nào). (Ngẫu hứng) Qua sự phức tạp trong tư tưởng của Nguyễn Du đối với các triều đại phong kiến đương thời ta nhận thấy bi kịch của một người "sinh bất phùng thời", "hoài tài bất ngộ" cũng là tấn bi kịch lịch sử của chế độ phong kiến ở giai đoạn khủng hoảng, tan rữa. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du không chỉ bày tỏ tâm sự về thời cuộc mà nó còn là một cuốn nhật kí đời sống, nhật kí tâm hồn ghi lại trung thực cuộc sống của chính nhà thơ. b. Tâm sự về cuộc đời của chính mình. Như đã nói trong phần tiểu sử, cuộc đời của Nguyễn Du là một cuộc đời đầy bi kịch. Phần lớn cuộc đời ông phải sống trong cảnh lưu lạc, nghèo đói, khổ cực. Hai tập thơ Nam trung tạp ngâm và Thanh Hiên thi tập đã bộc lộ trực tiếp một tâm trạng buồn đau, một nỗi niềm u uất, một tiếng thở dài não nuột cho cuộc đời, số phận của một bậc tài hoa. Nguyễn Du đã từng cất lên câu hỏi đầy đau xót và bất lực: Tráng sĩ bạc đầu bi hướng thiên, Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên? Cái hùng tâm muốn mưu đồ nghiệp chung và cái sinh kế cho tấm thân mình đều mờ mịt cả, người tráng sĩ bạc đầu vẫn buồn ngẩng mặt lên trời! Hình ảnh mái đầu bạc xuất hiện khá nhiều trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Lúc bấy giờ ông mới 30 mà đã thấy nói đến đầu bạc rồi: "Đầu bạc đáng buồn vì không có cách giấu mình; Bạc đầu buồn chẳng trở về quê; Mấy sợi tóc bạc lòng thòng xuống vạt áo; Bạc đầu còn được thấy Thăng Long; Tóc bạc phơ phơ trước gió chiều ". Tại sao lại như vậy? Phải chăng những vất vả, sương gió cuộc đời đã làm cho mái tóc phôi pha? hay những trăn trở, suy nghĩ về cuộc đời, con người, thời thế đã khiến cho một thi nhân mới ba mươi đã bạc đầu quá sớm? Thực tế trong mười năm gió bụi, Nguyễn Du đã phải sống một cuộc đời cùng quẫn. Nhà thơ đã sống trong một hoàn cảnh muôn phần thương cảm. Mấy chục năm trời ôm chí lớn, phiêu bạt hết nơi này đến nơi khác mà túi vẫn rỗng không (Giang nam giang bắc nhất nang không) đến nỗi đau ốm không có tiền mua thuốc, rét mướt không có áo mặc, nghèo túng, ăn nhờ ở đậu:Lạnh sơ đã khổ vì không áo Chày vải nhà ai chiều nện đưa (Đêm thu- bài II) Tình cảnh đó làm cho Nguyễn Du khổ tâm, đau xót vô cùng phải viết lên những câu thơ đứt ruột: Văn tự hà tằng vi ngã dụng, Cơ hàn bất giác thụ nhân liên. (Văn tự nào đã dùng được việc gì cho ta, Đâu ngờ đói rét phải để cho người ta thương) Hoàn cảnh cuối đời của Nguyễn Du càng cùng quẫn hơn nữa. Đã có lúc thân nằm bệnh một nơi, con cái đói một ngả: Thập khẩu đề cơ Hoành lĩnh bắc Nhất thân ngoạ bệnh đế thành đông. (Gào rã non Hồng mười miệng đói Ốm co thành Huế một thân trơ).Bất lực, bế tắc trước hoàn cảnh thực tại, có lúc nhà thơ mong được trở về tuổi thơ vô tư, không âu lo, suy nghĩ: Bạc đầu cơm áo luôn cùng quẫn Sao được ngày xanh cứ hát tràn. (Ngồi đêm). Từ những nỗi thương mình, ta hiểu được phần nào nỗi thương người của Nguyễn Du. c. Nỗi thương cảm đối với những cuộc đời bất hạnh. Là một kẻ tài hoa bạc mệnh nên Nguyễn Du có sự đồng cảm sâu sắc đối với những con người tai hoa. Đó là nỗi niềm thương cảm xót xa cho Tiểu Thanh - một người con gái xinh đẹp, tài hoa nhưng phải chịu một cuộc đời oan trái, phũ phàng: Chi phấn hữu thần liên tử hậu Văn chương vô mệnh luỵ phần dư. (Son phấn có thần chôn vẫn hận Văn chương không mệnh đốt còn vương) (Độc Tiểu Thanh kí). Nguyễn Du cảm phục tài năng văn chương của bậc Thánh thơ - Đỗ Phủ nhưng lại xót thương cho một số phận nghèo khổ, bất hạnh, bạc bẽo. Cả một đời tài hoa cuối cùng phải chết trên chiếc thuyền nan rách nát trôi dạt trên sông: Văn chương nghìn đời, là bậc thầy nghìn đời, Cùng khổ đến thế này, có phải tại thơ hay đâu? ( Lỗi Dương Thiếu Lăng mộ). Đó còn là sự ngợi ca và cảm thông sâu sắc đối với Khuất Nguyên - một nhân cách cao thượng nhưng lỡ thời phải trầm mình xuống sông Mịch La: Nỗi lòng Khuất Nguyên và nước sông Tương Nghìn năm vạn năm vẫn trong suốt tới đáy. Càng xót thương cho Khuất Nguyên bao nhiêu, Nguyễn Du càng căm ghét và lên án xã hội ấy bấy nhiêu. Ông đã viết bài "Phản chiêu hồn" để phơi bày cái xã hội thối nát, "ăn thịt người" ấy: Hồn ơi! Hồn ơi! Sao không về? Đông, tây, nam, bắc không có nơi nào nương tựa. Đời sau người đều là thượng quan, Mặt đất này đâu đâu cũng là sông Mịch La Cá rồng chẳng nuốt, hùm sói cũng ăn, Hồn ơi! Hồn ơi! Hồn làm thế nào? Việc Nguyễn Du thương cho những kẻ tài tử đa cùng cũng là điều dễ hiểu. Song cuộc sống 10 năm gió bụi còn giúp Nguyễn Du thấu hiểu và đồng cảm với cuộc sống cực khổ của những người dân lao động. Trong bài thơ Sở kiến hành, bằng ngòi bút hiện thực xuất sắc, tác giả đã dựng lên hai bức tranh đối lập. Mở đầu bài thơ tác giả ghi lại hình dáng của một người mẹ với ba đứa con và kết thúc là cảnh tiệc tùng của bọn quan lại: Có người mẹ dắt 3 con Đêm qua ở trạm Tây Hà Ngồi với nhau bên vệ đường Mâm cỗ cúng đốn sao mà linh đình Đứa bé ẵm trong lòng Nào là gân hươu, vây cá Đứa lớn xách giỏ tre Đầy bàn thịt lợn, thịt dê. Trong giỏ đựng những gì Các quan lớn không chọc đũa Mớ rau lẫn tấm cám Đồ bỏ đi không hề tiếc Trưa rồi mà vẫn chẳng có gì ăn Chó hàng xóm cũng chán thức ăn ngon Rõ ràng hai bức tranh hoàn toàn đối lập. Một bên tái hiện cảnh sống cực khổ, thiếu thốn, đói, khát, cái chết đang rình rập, một bên là cuộc sống xa hoa, thừa phứa đến vô nghĩa trong bữa tiệc tiếp sứ. Một bên thức ăn của người khác chi thức ăn của súc vật còn một bên đến con vật cũng chán thức ăn ngon của con người. Đúng là một nghịch lí, một cảnh tượng trớ trêu, một hiện thực bất công, cay đắng. Kết thúc bài thơ này, Nguyễn Du viết: Ai vẽ bức tranh này Dâng lên nhà vua rõ? Câu hỏi đầy chua chát, vừa thể hiện nỗi đau, nỗi xót của tác giả trước cảnh sống bần cùng của những người "dân đen", vừa là lời lên án mạnh mẽ đối với bọn tham quan, vô trách nhiệm. Trong bài thơ Thái Bình mại giả ca, nhà thơ cũng vẽ lên những cảnh trớ trêu tương tự. Mặc dù Nguyễn Du viết về những con người, những số phận ở Trung Quốc nhưng cảm xúc của ông bao giờ cũng bắt nguồn từ những vấn đề, những con người trên quê hương, xứ sở mình. Tình cảm của nhà thơ đã vượt qua giới hạn thời gian, không gian – đó là biểu hiện của một trái tim nhân đạo lớn!2.1.2. Về nghệ thuật thơ chữ Hán Thơ chữ Hán của Nguyễn Du đạt đến mức tự nhiên, nhuần nhị, tài hoa (xây dựng những câu thơ đối nghịch, sử dụng thùân thục cú pháp tiếng Hán, cách chơi chữ). Các nhà nghiên cứu khi nghiên cứu thơ chữ Hán của ông đã gọi đó là thơ của cây đại bút.2.2. Về Truyện Kiều của Nguyễn Du2.2.1. Nguồn gốc cốt truyện và sự sáng tạo của Nguyễn Du Truyện Kiều là cách gọi vắn tắt kiệt tác văn chương của Nguyễn Du có tên là Đoạn trường tân thanh (Một tiếng kêu mới đứt ruột) dài 3254 câu thơ lục bát. Cốt truyện của tác phẩm được lấy từ một tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc tên gọi Kim Vân Kiều truyện (Truyện kể về Kim Trọng, Thuý Vân, Thuý Kiều) của tác giả Thanh Tâm tài nhân, gồm 20 hồi. Tuy vay mượn cốt truyện nhưng Nguyễn Du không làm công việc dịch thuật mà ông đã sáng tạo nên một tác phẩm có chất lượng tư tưởng và nghệ thuật hoàn toàn . nội dung và nghệ thuật của thơ chữ Hán Nguyễn Du. 2.1.1. Một số đặc sắc về nội dung thơ chữ Hán Khác với Truyện Kiều và Văn chiêu hồn, thơ chữ Hán của Nguyễn. sáng" để hiểu và yêu thơ Nguyễn Du hơn. Đó chính là bộ phận: thơ chữ Hán. 2.1. Về thơ chữ Hán của Nguyễn Du Nguyễn Du để lại 3 tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên

— Xem thêm —

Xem thêm: NGUYỄN DU THƠ CHỮ hán và TRUYỆN KIỀU, NGUYỄN DU THƠ CHỮ hán và TRUYỆN KIỀU, NGUYỄN DU THƠ CHỮ hán và TRUYỆN KIỀU

Lên đầu trang

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.150933027267 s. Memory usage = 17.57 MB