Vận dụng cặp phạm trù triết học Nguyên nhân – Kết quả

bocapdangiu
bocapdangiu(2173 tài liệu)
(7 người theo dõi)
Lượt xem 276
3
Tải xuống 8,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 13 | Loại file: DOC
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 27/01/2013, 15:10

Mô tả: Vận dụng cặp phạm trù triết học Nguyên nhân – Kết quả Phân tích vấn đềô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay thông qua cặp phạm trù triết học Nguyên nhân – Kết quảLời nói đầu Hiện nay trên thế giới vấn đềô nhiễm môi trường là vấn đềđang được hết sức quan tâm , đặc biệt làở những nước đang phát triển. Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế nước ta cũng gặp phải vấn đề này. Nhất là trong những năm gần đây do nền kinh tế nước ta đang đi lên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoáđãđẩy mạnh quá trình đô thị hoá dẫn tới tình trạng môi trường ngày càng bịô nhiễm. Do vậy việc bảo vệ môi trường là một trong nhưng vấn đềđược Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế xã hội,vì nếu không có một chính sách đúng đắn về bảo vệ môi trường thì sẽ gây ra những hậu quả to lớn về kinh tế và xã hội. Nên trong khuôn khổ bài tiểu luận Triết học này em xin dựa vào cặp phạm trù triết học : Nguyên nhân – Kết quảđểphân tích một số vấn của viêc ô nhiễm môi trường tại nước ta hiện nay, tình hình ô nhiễm,các nguyên nhân chính gây ô nhiễm và một số biện pháp khắc phục, hạn chế vấn đề này.Bài tiểu luận của em được triển khai thông qua kết cấu như sau:Phần I : Lời nói đầu. Phần II: Nội dung .I . Vận dụng lý luận thực tiễn triết học. 1 . Cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả. 2 . Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân – kết quả.II . Vận dụng vào thực tế:1. Hiện trạng môitrường,tình hình ô nhiễm và các nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay. 2 . Một số mâu thuẫn trong công tác quản lý, bảo vệ môi trường.3 . Các biện pháp giải quyết và hạn chếô nhiễm ở nước ta hiện nay.Phần III: Kết luận chung .2I . Vận dụng lý luận thực tiễn triết học:(Cặp phạm trù nguyên nhân kết quả và mối quan hệ biện chứng giữa Nguyên nhân và Kết quả)1. Cặp phạm trù Nguyên nhân – Kết quả : Nguyên nhân là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong sự vật hoặc các sự vật với nhau gây ra những biến đổi nhất địnhở sự vật đó.Kết quả lànhững biến đổi xuất hiện ở sự vật do nguyên nhân tạo ra. 2. Mối quan hệ biện chứng giữa Nguyên nhân và Kết quả:Mối quan hệ nhân quả có tính khách quan, tính khách quan nàyquy định mối quan hệ nhân quả dựa trên lập trường duy vật.Do tính phổ biến của mối liên hệnhân quả nên một nguyên có thể sinh ra nhiều kết quả và ngược lại. Ta có thể lấy ví dụ trên thực tế như là: sựô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người,nhưng kết quảcủa sựô nhiễm môi trường do nhiều yếu tố gây nên như: con người, công nghiệp, chất thảiđộc hại…và cũng chính những nguyên nhân này lại gây ra nhiều kết quả khác… Do vậy muốn cóđược một kết quả tốt thì cần phải biết phát hiện và hạn chế những tác động của nguyên nhân ngược chiều tạo điều kiện cho nguyên nhân cùng chiều, phải chú trọng đến nguyên nhân chủ yếu,nguyên nhân bên trong. Chẳng hạn như trong quá trình bảo vệ môitrường hiện nay thì mọi người cùng cóý thức bảo vệ thìta sẽ thu được nhiều kết quả tốt hơn.Khi xác định một mối liên hệ nhân quả cụ thể trong một thời gian xác định thì nguyên nhân có trước kết quả vì chỉ cósựtác động lẫn nhau mới gây ra sự 3biến đổi. Nhưng khi xét cả quá trình gồm nhiều mối liên hệ nhân quả nối tiếp nhau thì nhân và quả có thể chuyển đổi vị trí cho nhau một cách biện chứng.Phân loại nguyên nhân : Không phải các nguyên nhân đều sinh ra kết quả giống nhau vì nguyên nhân có tính chất và vai trò khác nhau. Do vậy, trong thực tiễn cần phân biệt : * Nguyên nhân tác động cùng chiều và tác động ngược chiều . * Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài . * Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu . * Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan .II . Vận dụng vào thực tế :1. Hiện trạng môi trường, tình hình ô nhiễm và các nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay.1.1 Hiện trạng môi trường nước:Theo số liệu thống kê:“năm 2005,cả nước ta có khoảng 240 nhà máy nước với tổng công suất là 3,4 triệu m3/ngày. Tỷ lệ dân đô thịđược cấp nước sạch tăng lên từ 47% năm 1995, năm 2000 là 60% và năm 2005 là 67%. ởnông thôn, cung cấp nước sạch chủ yếu vẫn là do nhân dân tự giải quyết, chủ yếu là sử dụng giếng khoan, nước ao,hồ… nguồn nước cung cấp cho đô thị và nông thôn chủ yếu là lấy từnước mặt khoảng 70%,nước ngầm khoảng 30%”(1)(cục môi trường báo cáo trắc quan môi trường 12-2005). Nguồn nước mặt (1) Cục Môi trường báo cáo trắc quan môi trường 12-20054bao gồm : ao, hồ, sông,suối.Đây là nguồn nước rất phong phú,song do đô thị hoá và công nghiệp hoá phát triển nhanh đãgây ô nhiễm nguồn nước này. Theo báo cáo mới nhất của bộ Tài Nguyên và Môi Trường thì hầu hết nguồn nước ở các sông,rạch ao hồởđô thị cũng nhưở nông thôn đều bịô nhiễm nghiêm trọng đặc biệt làở các đô thị. Điều này có thể do các nguyên nhân: Trước tiên nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường nước là nước thải sinh hoạt trong nước thải sinh hoạt thường gặp các hợp chất hữu cơ như : Cacbon, Albumin có nguồn gốc đông vật các chất béo, các chất dầu… Còn các chất vô cơ chủ yếu thường gặp là các muối dễ hoà tan ở dang ionnhư : Na, K, Ca, Mg, Cl …nước thải sinh hoạt thường xuyên chứa các loại vi khuẩn gây bệnh. Hàm lượng oxy hoà tan (DO) ở các sông kênh,rạch thoát nước ở các đô thị thường rất nhỏ, hàm lượng DO < 2mg/l. Một nguyên nhân khác cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường nước là nước thải công nghiệp ở các khu đô thịvà khu công nghiệp. Các loại nước thải công nghiệp với thành phần gồm nhiều chất độc hại như: thuốc tẩy rửa, chất dung môi, thuốc nhuộm,các chất có chứa clo… thường không được xử lý màđược đổ trực tiếp ra các sông, ngòi thoát nước gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Ngoài ra các loại nước thải khác như nước thải y tế,nước thải nông nghiệp…cũng đang góp phần lớn vào việc gây ô nhiễm nguồn nước.Ta có thể lấy ví dụ: “Tại Hà Nội, 4 con sông tiêu chính gồm : s.Tô Lịch, s.Sét, s.Lừ và s.Kim Ngưu đều bịô nhiễm nặng do nước thải sinh hoạt, nước thải của các cơ sở sản xuất công nghiêp, nước thải của các bệnh viện và các cơ sở dịch vụ chưa được xử lýđều đổ ra các sông này gây ô nhiễm nguồn nước mặt của thành phố’’(trích dẫn :vụ môi trường,bộ TNMT)1.2 Hiện trạng môi trường không khí:5 Hiện nay ởđô thị và các khu công nghiệp mức độô nhiễm không khí lớn hơn nhiều lần so với các khu vực khác. Hầu hết các đô thịđều bịô nhiễm trầm trọng tới mức báo động:“nồng độ bụi trung bình ở các thành phố là 0,4 đến 0,5 mg/m,nồng độ bụi ở các khu dân cư bên cạnh nhà máy, xí nghiệp hay gần đường giao thông lớnđều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 3 lần nơi ô nhiễm lớn nhất trong các địa điểm là khu dân cư gần nhà máy xi măng Hải Phòng…”(cục môi trường báo cáo kết quả trắc quan tháng 12 -2005) ô nhiễm không khí chủ yếu là do giao thông vận tải ,xây dựng sửa chữa nhà cửa và do sản xuất công nghiệp gây ra. Ta có thể chia việc ô nhiễm không khí ra thành các loại:* Ô nhiễm bụi:Ô nhiễm bụi chủ yếu là do các hoạt động giao thông, xây dựng gây ra. Nồng độ bụi trung bình của các khu dân cư cạnh đường giao thôngvà các khu công nghiệp đều vượt trị số TCCP từ 1,5 đến 3 lần,trường hợp cá biệt gần nhà máy nhiệt điện, nhà máy gạch đều vượt quá từ 5 đến 8 lần. Còn tại các khu dân cư xa đường giao thông, các cơ sở sản xuất hay các khu công nghiệp đều xấp xỉ trị số TCCP (trung bình 1 ngày là 0,2mg/m3).* Ô nhiễm các loại khíđộc hại:Nồng độ khíSO2, CO, NO2 ở một số khu công nghiệp, các nút giao thông lớn thì vượt quá mức độ cho phép nhiều lần. Lấy ví dụ: “tại Hà Nội,mỗi năm phải tiếp nhận khoảng 80.000 tấn bụi khói, 9.000 tấn khí SO2, 46.000 tấn khí CO từ hơn 400 cơ sở sản xuất công nghiệp, đó là chưa kểkhói của hơn 100 ngàn ôtô và hơn 1 triệu xe máy”(báo điện tử Vnnet)* Ônhiễm chì (Pb) trong không khí :Việc ô nhiêm chì chủ yếu là do các phương tiện giao thông chạy xăng pha chì gây ra.Ô nhiễm chì trong không khíảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con 6người.theo tiêu chuẩn chất lượng không khíở Việt Nam,nồng độ chì trong không khí là 0,005mg/m3.*Ô nhiễm tiếng ồn:Do hệ thống giao thông và công nghiệp ngày càng phát triển nên ở cạnh các khu công nghiệp hay đường giao thông lớn đều bịô nhiễm tiếng ồn nghiêm trọng. Tình trạng ô nhiễm không khí ngày càng nặng là nguyên nhân chính gây ra kết quả khiến người dân sinh sống ở Hà Nội ngày càng có nhiều người bị bệnh vềđường hô hấp. Theo kết quả khảo sát, chỉ riêng khu vực nội thành, với dân số khoảng 1,4 triệu người nhưng mỗi năm có 626 người chết và 1547 người bị bệnh hô hấp do nồng độ TSP trong không khí ngoài trời vượt quá tiêu chuẩn Việt Nam 159,4mg/m3.1.3 Ô nhiễm môi trường đất :Đất là tài nguyên quý giá nhất,là tư liệu sản xuất đặc biệt,yếu tố quyết định cấu thành các hệ sinh thái. Do nhhiều nguyên nhân đất chia làm nhiều loại khác nhau như: sa mạc, núi rừng, đất nông nghiệp vàđất đô thị. Tuỳ thuộc vào mức độđối xử của con người với đất mà có thể phát triển theo chiều hướng tốt cũng có thể phát triển theo chiều hướng xấu đi. Nhưng hiện nay ở nước tamức độô nhiễm môi trường đất đang diễn ra hết sức nghiêm trọng mà chủ yếu do các nguyên nhân sau: * Ônhiễmmôi trườngđấtdonướcbịônhiễm :Đất và nước luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau nên việc môi trường nước bịô nhiễm cũng đã trực tiếp gây ra hững hậu quả xấu cho môi trường đất ở nước ta.* Ô nhiễm môi trường đất do chất thải rắn tạo ra:7Cùng với sự phát triển của công nghiệp, đời sống của nhân dân ngày càng tăng lên vàđô thị hoá nhanh chóng, lượng chất thải rắn cũng ngày càng tăng từ năm 2000 – 2004 lượng chất thải rắn sinh hoạt bình quân tính theo đầu người ở các thành phố lớn ( Hà Nội,Đà Nẵng, Tp. Hồ Chí Minh) từ 0,8 – 1kg/người/ngày, còn tại các thành phố khác là 0,4 – 0,6kg/người/ngày. Việc đô thị hoá và dân số gia tăng một cách nhanh chóngsẽ làm cho lượng chất thải rắn sinh hoạt sẽ tăng lên rất nhanh . “ Tại hà nội năm 1997 lượng chất thải công nghiệp là 140 tấn/ngày cho đến năm 2003 là khoảng 200 tấn/ngày và bình quân mỗi ngày công ty môi trường đô thị hà nội phải thu gom, vận chuyển, xử lý 1.500 – 1.600 tấn rác thải, trong đó chất thải nguy hại chiếm khoảng 40%.”(số liệu của công ty môi trường đô thị hà nội)Các thành phần chất thải rắn bao gồm : giấy carton, vải, gỗ chiếm khoảng trên 4%, rác hữu cơ, lá cây, thực phẩm chiếm khoảng 50%, chất dẻo, cao su, nilon chiếm khoảng 5%, kim loại, vỏ hộp, bao bì chiếm khoảng 3%, thuỷ tinh, sành sứ, chiếm khoảng 4%, vật liệu xây dựng và các chất vô cơ khác chiếm 38%.Ngoài ra còn một số lượng lớn rác thải nguy hại phát sinh từ các cơ sở y tếở nước ta “ước tính từ 50 đến 70 tấn mỗi ngày, chiếm khoảng 20% tổng rác thải y tế phát sinh.” (tạp chí bảo vệ môi trường tháng 5 năm 2004) Cùng với sự gia tăng dân số, sự phát triển công nghiệp vàđô thị hoá số lượng rác thải cũng tăng lên nhanh chóng nhưng lượng thu gom rác thải ở các đô thị cao nhất là 80% và thấp nhất đạt 50%. Lượng chất thải chưa được thu gom thìbịđổ trực tiếp ra sông, ngòi hoặc được chôn lấp sơ sài do nhiều người dân còn chưa cóý thức bảo vệ môi trường nên gây ra những hiểm hoạ tiềm tàng về môi trường và cho sức khoẻ của mọi người. 2. Một số mâu thuẫn trong công tác quản lý môi trường hiện nay:8 2.1. Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế vàô nhiễm môi trường:Mâu thuẫn chủ yếu là về mặt lợi ích kinh tế vìđối với đa số các doanh nghiệp việc bỏ ra một số tiền lớn để xây dựng một cơ sở xử lý chất thải công nghiệp đạt tiêu chuẩn an toàn để tránh làm hại môi trường là rất khó khăn chỉ có một sốít chất thải được xử lý còn lại hầu hết đều được đổ trực tiếp ra các hệ thống thoát nước hoăc kênh, mương. Hiện nay chỉ có 5/31 bệnh viện ở Hà Nội là có hệ thống xử lý nước thải,chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện, 36/400 cơ sở chưa có hệ thống xử lý nước thải. Tại Tp. Hồ Chí Minh,chỉ có24/142 cơ sở y tế lớn có xử lý nước thải, còn khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời.2.2. Mâu thuẫn trong công tác quản lý, bảo vệ môi trường : Nước ta có ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường còn rất thấp, một số nước ASEAN đầu tư cho bảo vệ môi trường là 1%GDP, số cán bộ quản lý môi trường trung bình là 70 người/1 triệu dân trong khi đóởViệt Nam mới chỉđạt 0,1% và số cán bộ quản lý môi trường là 3 người/1triệu dân.Hệ thống văn bản pháp luật về môi trường còn chưa đầyđủ và thiếu đồng bộ một số văn bản đã lạc hậu không phù hợp nhưng chưa được thay thế sửa đổi kịp thời. Việc thực thi luật lệ ban hành chưa nghiêm nên hậu quả là vẫn có rất nhiều cá nhân, tổ chức vi phạm luật bảo vệ môi trường làm cho môi trường ngày càng ô nhiễm.“Theo Sở Tài Nguyên và Môi Ttrường, vương mắc chủ yếu hiện nay là cơ chế chính sách chưa rõ ràng, nhất là phần xác định quyền lợi, trách nhiệm của cơ sở gây ô nhiễm, để các doanh nghiệp yên tâm cần tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong diện phải di dời cóđủ kinh phíđểổn định phát triển sản xuất tại nơi ở mới .”( trích dẫn đề xuất của sở TNMTNĐ )92.3.Công tác vận động tuyên truyền bảo vệ môi trường còn kém:Việc tuyên truyền vận động bảo vệ môi trườngở nước ta hiện nay còn rất kém,chưa có một hệ thống tuyên truyền, giáo dụcđúng cách mà hầu như chỉ là cá nhân, nhỏ lẻ nên kết quả thu được là không cao, trong khi có rất nhiều người không coi trọng việc bảo vệ môi trường do chưa có những hiểu biết đúng đắn về tác hại của ô nhiễm môi trường đối với cuộc sống và sức khoẻ con ngườiđây chính là tồn tại khó khắc phục nhất trong công tác bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay.3. Các biện pháp giải quyết và hạn chếô nhiễm ở nước ta hiện nay:Qua đây có lẽ chúng ta cũng đã thấy được tình hình ô nhiễm môi trường ở nước ta, các nguyên nhân và hậu quả của việc ô nhiễm môiđối với đời sống con người và với sự phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy, em xin được đưa ra một sốđề xuất và biện pháp giải quyết và hạn chếnạn ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay, đó là :• Khuyến khích vận động các doanh nghiệp áp dụng các công nghệ mới sạch hơn, ít gây ô nhiễm hơn .• Tăng cường các biện pháp cưỡng chế tài chính đối với hành vi không tuân thủ quy định bảo vệ môi trường .• Bảo vệ môi trường theo phương châm lấy phòng ngừa và tác động xấu đối với môi trường là chính, kết hợp xử lýô nhiễm, khắc phục suy thoái cải thiện môi trường và bảo vệ thiên nhiên.10 . tiễn triết học: (Cặp phạm trù nguyên nhân kết quả và mối quan hệ biện chứng giữa Nguyên nhân và Kết quả) 1. Cặp phạm trù Nguyên nhân – Kết quả : Nguyên. Vận dụng lý luận thực tiễn triết học. 1 . Cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả. 2 . Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân – kết quả. II . Vận

— Xem thêm —

Xem thêm: Vận dụng cặp phạm trù triết học Nguyên nhân – Kết quả, Vận dụng cặp phạm trù triết học Nguyên nhân – Kết quả, Vận dụng cặp phạm trù triết học Nguyên nhân – Kết quả

Lên đầu trang

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.0804131031036 s. Memory usage = 13.96 MB