Cờ tướng - Khai cuộc cẩm nang

Thục Linh
Thục Linh(12 tài liệu)
(0 người theo dõi)
Lượt xem 1705
132
Tải xuống
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 116 | Loại file: PDF
2

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 11/03/2013, 15:23

Mô tả: Tài liệu giới thiệu cẩm nang cho môn Cờ tướng. Cờ Tướng Khai cuộc cẩm nang: Lời nói đầu Lời nói đầu Khai cuộc là một vấn đề chiến lược rất rộng lớn. Muốn nghiên cứu sâu phải có một tập thể các chuyên gia nhiều kinh nghiệm mới thực hiện được. Liên đoàn cờ trong những năm gần đây, bước đầu nghiên cứu một số thế trận nổi tiếng, thịnh hành, giúp phần nào tư liệu cho các bạn hội viên và người hâm mộ Cờ Tướng gần xa tham khảo. Tuy các tài liệu đó ch ưa phải là những công trình nghiên cứu sâu nhưng nó chỉ phù hợp với những bạn có trình độ khá, còn phần đông các bạn chơi cờ trình độ yếu chưa thể tiếp thu được. Để đáp ứng phần nào nguyện vọng của số đông này, chúng tôi cho xuất bản quyển "Cờ Tướng khai cuộc cẩm nang" nhằm hướng dẫn lại những vấn đề thuộc phần kiến th ức phổ thông. Đối tượng chủ yếu là những bạn chơi cờ trình độ trung bình trở xuống, đặc biệt là nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của các em thanh thiếu niên mới bước đầu tiếp cận với Cờ Tướng. Nhưng đối với các bạn huấn luyện viên, hướng dẫn viên về cờ, sách cũng cung cấp nhiều tư liệu có giá trị về phươ ng pháp sư phạm để các bạn tham khảo giảng dậy. Sách gồm bốn chương, với chương đầu nhấn mạnh ý nghĩa và tầm quan trọng của khai cuộc. Qua chương này gợi ý hướng dẫn cho người chơi một phương pháp thẩm định, đánh giá thế cờ, đồng thời trình bầy rõ khái niệm về thế và lực, quyền chủ động và vấn đề lời quân, lời chất. Như ng trọng tâm của sách là ở chương hai và chương ba: chương hai trình bầy cụ thể những nguyên tắc cơ bản trong khai cuộc, còn chương ba hướng dẫn cách đi tiên và cách đi hậu. Thực chất chương ba chỉ để minh hoạ rõ hơn các vấn đề trong chương hai và giúp cho người đọc quán triệt đầy đủ các nguyên tắc ra quân. Mặt khác, qua hai chương này, bằng những ván cờ sinh động gợi lên những ý niệm ban đầu về chiến l ược, về kế hoạch bố trí quân để tấn công, phản công hay phòng ngự. Và tuy chủ đề đi sâu giai đoạn khai cuộc nhưng qua các ván đấu của các danh thủ, giai đoạn trung cuộc và tàn cuộc cũng được nêu ra với những đòn chiến thuật truy quân, ăn quân, đổi quân, giành thế, thí quân cùng những pha phối hợp chiếu bí rất ngoạn mục, hấp dẫn. Điều này phù hợp với trình độ và tâm lý của những ngườ i mới tiếp cận với bộ môn cờ. Phần cuối cùng là chương mở rộng kiến thức, giới thiệu một số thế trận thông dụng hiện đại, làm cơ sở bước đầu để sau này anh em có điều kiện đi sâu nghiên cứu chuyên cuộc. Với tinh thần thực hiện chủ trương của Liên đoàn cờ Việt Nam là phổ biến cờ Tướng và phục hồi sinh hoạt của Cờ Tướng trong dân gian, tài liệu này là một đóng góp nhỏ theo chủ trương đó. Những người biên soạn Qui ước và ký hiệu Hội cờ TpHCM đã xuất bản một số sách cờ Tướng mạnh dạn sử dụng những qui ước, ký hiệu để nội dung phong phú, được đông đảo bạn đọc hoan nghênh. Nay phố biến quyển tư liệu này cũng xin dùng qui ước, ký hiệu đó đế ít tốn giấy mà thông tin được nhiều điều. Do một số bạn chưa nắm rõ nên ở đây xin nhắc lại nhữ ng qui ước ký hiệu này. Đồng thời qua ý kiến đóng góp của một số bạn, chúng tôi bố sung thêm một số điểm mới và hướng dẫn cách xem cho những bạn chưa nắm rõ cách trình bày của chúng tôi. 1. Bàn cờ Các hình vẽ bàn cờ trong sách được qui ước: phía dưới thuộc về bên Trắng, phía trên thuộc về bên Đen Hệ thống tọa độ vẫn giữ như cũ, tức là các lộ thông dùng vẫn được đánh số thứ tự từ 1 đến 9 và tính từ phải sang trái (Xem hình). 2. Quân cờ Dù thực tế quân cờ có mang màu gì thì trong thuật ngữ cờ Tướng ta vẫn qui ước một bên là quân Đen và một bên là quân Trắng. Quân Trắng luôn luôn đi trước còn quân Đen đi sau. 3. Ký hiệu A. Về quân cờ: Các quân cờ được ghi tắt b ằng những chữ như sau: - Tướng: T - Sĩ: S - Tượng: T - Xe: X - Pháo: P - Mã: M - Binh (Chốt): B B. Chữ viết tắt: - trước: t (như Xe trước: Xt) - sau: s (như Pháo sau: Ps) - giữa: g (như Binh giữa: Bg) C. Về đi quân: - Tấn: (.) dấu chấm (như Xe 2 tấn 6: X2.6) - Bình: (-) dấu ngang (như Pháo 8 bình 5: P8-5) - Thoái (Thối): (/) gạch xéo (như Mã 6 thoái 4: M6/4) Chương I Khai cuộc - mấy khái niệm cơ bản I. Ý nghĩa và tầm quan trọng của khai cuộc Xét theo thứ tự thời gian, một ván cờ thường được chia làm ba giai đoạn: khai cuộc, trung cuộc và tàn cuộc. Sự phân chia này tuy có tính cách qui ước nhằm dễ dàng nghiên cứu nhưng nó phản ánh một thực tế là có giai đoạn mở đầu rất quan trọng. Giai đoạn này gồm bao nhiêu nước thì chưa có sự thống nhất giữa những nhà nghiên cứu, nhưng thông thường người ta cho rằ ng giai đoạn này phải kéo dài từ 8 đến 12 nước đi đầu tiên. Sở dĩ nói giai đoạn này rất quan trọng vì nó thực sự có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ quá trình diễn biến ván cờ. Ta thấy nhiều ván do khai cuộc tồi nên kết thúc sớm, không có giai đoạn tàn cuộc, thậm chí do khai cuộc lỗi lầm nghiêm trọng cũng không có cả giai đoạn trung cuộc. Nhận thức về ý nghĩa và tầm quan tr ọng của khai cuộc phải trải qua nhiều chặng đường lần lần mới sáng tỏ, vì không phải từ thời xa xưa các tay cờ đã có ngay được những nhận thức đúng đắn. Bởi thời trước, hầu hết các tay cờ đều nhận định rằng ván cờ căng thẳng, quyết liệt và nổi rõ sự hơn kém là ở giai đoạn trung cuộc và tàn cuộc. Như vậy theo h ọ nghĩ, hai giai đoạn sau phải quan trọng, quyết định hơn giai đoạn đầu. Với nhận thức như thế nên họ chỉ quan tâm nghiên cứu trung cuộc và tàn cuộc, ít khi chịu gia công học tập và nghiên cứu khai cuộc. Trong khi đó một số danh kỳ các thế kỷ trước có lúc đua nhau nghiên cứu tổng kết cờ tàn và cờ thế nên vô hình trung củng cố thêm những nhận thức lệch lạc trên. Đ iều tệ hại là nó tác động khiến một số tay cờ có quan điểm đánh giá rất thấp vai trò của khai cuộc và coi như không cần thiết phải nghiên cứu. Họ nghĩ "vô chiêu thắng hữu chiêu" là không cần học tập, chơi không bài bản cũng thắng được những người chơi theo sách vở, nhưng họ không biết muốn chơi được kiểu "vô chiêu" lại càng phải nghiên cứu, học tập kỹ hơn ai hết. Đến đầu thế kỷ 20 thì mọi chuyện đã sáng tỏ, hầu hết các danh thủ đều khẳng định khai cuộc có tầm quan trọng đặ c biệt. Những ai chơi cờ theo ngẫu hứng trong khai cuộc đều không thể đương cự được với những người có học tập, nghiên cứu. Chính từ thực tiễn thi đầu các danh thủ đã rút ra kết luận đó. Nhưng rồi lại có những quan điểm lệch lạc khác khi có một số người lại đề cao quá mức giai đoạn này. Cho nên đã có lúc cũng nổi lên những cu ộc tranh luận xung quanh nhận định, đánh giá lại vị trí và tầm quan trọng của khai cuộc. Cuối cùng người ta đã phân tích khách quan và thống nhất kết luận rằng cả ba giai đoạn khai, trung, tàn cuộc đều có ý nghĩa và tầm quan trọng quyết định, và các giai đoạn đều có mối quan hệ khăng khít với nhau. Chơi khai cuộc tốt thì mới có một trung cuộc ưu thế và từ một trung cuộc ưu thế m ới dẫn về một tàn cuộc thắng lợi. Tuy nhiên để thấy rõ tầm quan trọng nổi bật của khai cuộc người ta thường nêu một tỷ lệ đáng tham khảo là phần khai cuộc quyết định 40%, còn phần trung và tàn cuộc mỗi giai đoạn quyết định khoảng 30%. Tóm lại, khai cuộc là giai đoạn triển khai các lực lượng, khởi sự từ nước đi đầu tiên và chấm dứt vớ i sự điều động hầu hết các quân chủ lực ở cả hai cánh để tạo thành một thế trận tấn công hoặc phòng thủ. Việc hình thành một thế trận phải xuất phát từ một kế hoạch hẳn hoi, đó là chiến lược dàn trận của người điều khiển trận đấu. II. Mục tiêu ván cờ và mục tiêu trong khai cuộc Để hiểu rõ mục đích, ý nghĩ a của những nước đi trong chiến lược dàn quân, ta cần phải nắm vững mục tiêu trong khai cuộc. Bài học đầu tiên cho những người mới học chơi cờ đã chỉ rõ "chiếu bí Tướng đối phương là mục tiêu chính của ván cờ", nhưng trong giai đoạn khai cuộc, mục tiêu này chỉ là một mục tiêu phụ. Bởi lẽ giai đoạn này các quân cờ mới được triển khai, chư a có điều kiện gì để bắt bí Tướng đối phương. Tất nhiên trong một vài trường hợp hãn hữu, gặp phải đối phương chơi quá tồi hay đãng trí thế nào đó ta cũng có thể bắt được Tướng ngay trong khai cuộc. Nhưng với những đối thủ tương đối có trình độ thì mục tiêu trong khai cuộc phải đặt thấp hơn, không thể chủ quan đặt mục tiêu quá cao, sẽ là điề u không tưởng đối với những người chơi cờ ngay nay. Hẳn nhiên những mục tiêu đề ra trong khai cuộc phải luôn gắn với mục tiêu tối hậu và chiếu bí kẻ địch. Vậy thì mục tiêu trong khai cuộc là gì? Những nước triển khai quân hợp lý, chính xác trong khai cuộc sẽ tạo một nền tảng vững chắc cho một thế trận trước khi chuyển sang giai đoạn trung cuộc. Như vậy mục tiêu ban đầu trong khai cuộc là các quân phải cố giành cho được những vị trí thuận lợi trên bàn cờ, tiếp đó là tiêu diệt một bộ phận nhỏ sinh lực địch - thường là một hai con Tốt. Từ những thắng lợi nhỏ đó dẫn đến những ưu thế làm nền tảng vững chắc cho trung cuộc và tàn cuộc. Mặt khác cũng đòi hỏi trong thế trận của ta không được có những đi ểm yếu - những điểm mà ta phải luôn canh chừng đối phương khai thác gây khó khăn cho ta. Ngược lại, ta phải cố gắng không cho đối phương chiếm những vị trí tốt, tìm cách phong tỏa ngăn cản để đối phương triển khai càng chậm càng tốt hoặc uy hiếp, đe dọa ngay những điểm yếu của họ. Trong Cờ Tướng người ta thường phân biệt các trường hợp để đánh giá: n ếu ta đi trước, các quân chiếm vị trí tốt và chực chờ tấn công, buộc đối phương phải đề phòng đối phó, người ta gọi đó là giành quyền chủ động, ngược lại là đối phương bị động. Đó là mức thấp nhất của một ưu thế. Trường hợp ta tiêu diệt 1-2 con Tốt hoặc Mã thì chỉ mới là lời quân, nếu ta đồng thời cũng giữ quyề n chủ động thì đó mới là một ưu thế. Thông thường người ta quan niệm giành được quyền chủ động là được tiên còn bị động đối phó là hậu thủ. Trong nhiều trường hợp bên được tiên chơi không chính xác bị đối phương trả đòn, phản kích phải chống đỡ thì gọi là mất tiên, còn bên đối phương gọi là phản tiên. Như vậy có thể nói mục tiêu của khai cuộc đối với bên đi tiên vốn nắm quyền chủ động thì phải tiếp tục giữ cho được quyền chủ động này lâu dài, tiến lên kiếm lời 1-2 Tốt hoặc nếu có thể thì lời quân (hơn 1 Mã hoặc 1 Pháo) hay lời chất (Pháo hoặc Mã đổi lấy Xe). Trong kế hoạch tiêu diệt sinh lực địch, có khi người ta cũng nhằm đế n việc lời Sĩ hoặc Tượng của đối phương để chuẩn bị điều kiện thuận lợi cho giai đoạn trung, tàn cuộc sau này. Còn đối với bên đi hậu vốn phải bị động chống đỡ cần cố gắng chơi chính xác để không cho đối phương khai thác tấn công, lần lần đưa đến thế cân bằng. Nếu đối phương sơ hở phả i kịp thời khai thác trả đòn giành lại quyền chủ động rồi tiến lên giành ưu thế. Lúc này cần nói rõ thêm vấn đề ưu thế với vấn đề lời quân, lời chất. Vì những vấn đề này thường xuyên đặt ra cho mọi đối thủ, đặc biệt là thường nẩy sinh ngay trong khai cuộc. Như trên đã nêu, thông thường người ta đánh giá một thế cờ căn cứ vào hai yếu tố: n ước tiên và thực lực. Nước tiên là giành được quyền chủ động, còn thực lực là xem xét tương gian quân số đôi bên. Nếu một bên có cả hai yếu tố vừa chủ động, vừa hơn quân, hơn chất thì rõ ràng bên đó đang chiếm ưu thế. Nhưng trong thực tiến thi đấu thường xảy ra hiện tượng: một bên sẵn sàng hi sinh quân để giành lấy thế chủ động tấn công, có thể uy hiếp đối ph ương rất mạnh thì người ta coi đó là ưu thế. Bên lời quân, lời chất phải bị động đối phó thì không thể đánh giá là ưu thế được mà phải gọi là thất thế. Muốn cứu vãn tình trạng bị uy hiếp bên thất thế thường phải hi sinh quân để giảm bớt áp lực của đối phương. Chẳng hạn ván cờ bên: Trắng lời quân nhưng thất thế, Đ en lỗ quân nhưng đang có thế tấn công. Như vậy giữa hai yếu tố thế chủ động với lời quân hoặc lời chất thì yếu tố đầu luôn được đánh giá cao hơn yếu tố sau. Thế nhưng yếu tố chủ động chỉ là một tình thế tạm thời, nếu khéo phát huy thì có thể biến thành thắng lợi, ăn quân, hơn ch ất trở lại hoặc chiếu bí Tướng đối phương. Còn nếu không biết phát huy để đối phương tập hợp được lực lượng chi viện xây dựng tuyến phòng thủ vững chắc thì yếu tố chủ động sẽ mất dần đi. Trong khi đó yếu tố hơn quân, hơn chất thường là tình trạng kéo dài, nếu không có gì bắt buộc họ phải hi sinh, trả quân, trả chất thì yế u tố này càng lúc càng trở nên quan trọng. Bởi vì khi thế cờ đã lập lại cần bằng thì yếu tố lực lượng sẽ là yếu tố chi phối. [1H1akaer1/9/4e4/p1p2c2p/9/2P4h1/P3P1p1c/C3C4/4H4/1REAKAE2 w - - - 1] Từ thế kỷ 16, 17 các danh kỳ đã nhận thức đúng đắn về hai yếu tố này nên bài "Kỳ kinh luận" có ghi: "Bỏ quân cần được nước tiên. Bắt quân chớ để hậu thủ". Chu Tấn Trinh viết quyển "Quất trung bí" đã lặp l ại quan điểm này trong bài "Toàn chỉ" của mình và cho đến nay dù trình độ cờ đã phát triển rất cao, vẫn chưa có một danh thủ nào tỏ ra phản bác quan điểm trên. III. Những cơ sở để đánh giá một thế cờ Khi tiến hành một ván cờ, luôn luôn phải đánh giá đi đánh giá lại tình hình diễn biến của nó. Đánh giá không phải chỉ để biết ta đang bị động, cân bằng hay chủ động, hoặc đang ưu thế hay kém phân, mà đánh giá còn để biết những chỗ mạnh, chỗ yếu của ta cũng như của đối phương. Từ đánh giá, nhận định đúng thực chất tình hình thế trận, m ới có thể đề ra một kế hoạch chơi tiếp ở giai đoạn sau. Thông thường, nếu đánh giá tổng quát để biết ai ưu thế, ai kém phân, người ta chỉ cần xem xét hai yếu tố nước tiên và thực lực, còn như đánh giá toàn diện đầy đủ các mặt thì phải căn cứ vào các yếu tố sau đây: 1. Vị trí các quân chủ lực Xem xét vị trí các quân chủ lực gồm các quân Xe, Pháo và Mã là để thấ y chúng có khả năng kiểm soát các đường ngang, đường dọc hoặc các điểm trên bàn cờ. Nếu các quân kiểm soát được nhiều đường nhiều điểm và có tính cơ động cao thì đó là chúng có vị trí tốt, có thể tiến sang tấn công hoặc cần thiết có thể quay về phòng thủ. Ở đây không dừng lại sự đánh giá một cách chung mà cần thiết phải đánh giá vai trò, tác dụng từng quân cờ của ta cũng nh ư của đối phương. Khi mới học chơi cờ, ta biết sức mạnh của một Xe bằng hai Pháo hoặc bằng hai Mã cộng với một Tốt. Đó là đơn thuần so sánh sức mạnh vốn có của các quân mà không nói gì đến vị trí của chúng. Nhưng khi tiến hành trận đầu thì các quân luôn đứng ở những vị trí khác nhau, có quân ở vị trí tốt, có quân ở vị trí xấu. Như vậy việc so sánh sức mạ nh giữa các quân phải căn cứ vào sức mạnh và vị trí của nó tức là lực và thế của nó. Như nói Xe 10, Pháo 5, Mã 4,5; đó là sức mạnh vốn có hay là "lực" của từng quân, còn vị trí của nó đứng sẽ tạo nên một cái "thế" riêng biệt. Ta thấy lực của một quân cờ có thể tăng thêm hoặc giảm đi do thế đứng tốt hay xấu. Trong từng ván cờ cụ thể, ta thấy đôi khi Mã mạ nh hơn Pháo hoặc mạnh hơn Xe, thậm chí Tốt có khi mạnh hơn cả Pháo lẫn Xe. Lạc nước, hai Xe đành bỏ phí Gặp thời, một Tốt cũng thành công. (Thơ Hồ Chủ tịch) Để giúp người mới học chơi cờ biết được sức mạnh vốn có của các quân, những nhà nghiên cứu đã đưa ra một bảng so sánh như sau: Nếu khởi đầu lấy con Tốt làm chu ẩn để định giá trị sức mạnh của nó là 1 thì các quân khác có giá trị so sánh là: • Mã 4,5 • Pháo 5 • Xe 10 • Sĩ 2 • Tượng 2,5 • Tướng không định được, vì mất Tướng bị xử thua nên không thể so sánh. Tuy nhiên trong một số trường hợp Tướng cũng có thể trợ công khiến nó có giá trị bằng một trong ba loại quân chủ lực. Nói Tốt có sức mạnh là 1 nhưng khi đã qua hà phải đánh giá sức mạnh của nó là 2. Trường hợp có hai Tốt qua hà mà chúng liên kết được với nhau phải thấy sức mạnh nó tăng lên, không phải 2 + 2 = 4 mà phải là 4, 5 hoặc 5, nghĩ a là tương đương sức mạnh của một Mã hoặc một Pháo. Còn con Tốt đầu cũng phải thấy nó quan trọng hơn các con Tốt khác. Không phải chỉ có các Tốt qua hà liên kết mới tăng thêm sức mạnh mà các quân chủ lực có chỗ đứng tốt, liên kết phối hợp nhau, sức mạnh của chúng cũng được nhân lên nhiều hơn, khác hẳn với trường hợp chúng đứng riêng lẻ, tản lạc. Với bảng giá trị trên cho phép các đấu thủ tính toán thiệt hơn khi đổi quân, nhưng đó chỉ là sức mạnh ban đầu, còn sức mạnh thực tế thì phải xem xét kỹ vị trí của từng quân trong một thế cờ cụ thể. Không thể đổi một con Mã hay lấy một con Pháo dở thậm chí lấy một con Xe dở mà tưởng là lời chất để rồi xổng mất ván cờ. 2. Yếu tố lực lượng Lực lượng là một yếu tố quan trọng thường quyết định thắng lợi của ván cờ. Nếu không có những tình huống sơ hở để bị các đòn phối hợp chiếu bí thì thường bên nào hơn quân hoặc hơn chất sẽ giành thắng l ợi cuối cùng. Như Xe, Pháo, Mã phải thắng Xe, Mã bền Sĩ, Tượng hoặc Xe, Pháo và một Tốt phải thắng Xe bền Sĩ, Tượng. Tuy nhiên như trên đã nêu, quân cờ bao giờ cũng có lực và thế cho nên không phải chỉ tính sức mạnh đơn thuần bằng quân số. Điều này giải thích vì sao có nhiều ván cờ đông quân hơn mà thua, ít quân hơn mà chiến thắng, đó là do thế cờ quyết định. Mà thế cờ là do nhiề u quân tạo nên, chúng liên kết phối hợp nhau làm tăng sức mạnh của chúng. Do đó yếu tố lực lượng thường được nêu ra sau yếu tố vị trí của các quân. Thế nhưng cũng không nên cường điệu quá đáng yếu tố vị trí và đánh giá thấp yếu tố lực lượng. Có thể trong giai đoạn khai cuộc và trung cuộc thì yếu tố vị trí các quân giữ vai trò chi phối nhưng khi chuyển sang giai đoạ n tàn cuộc thì yếu tố lực lượng càng lúc càng nổi rõ hơn. Trong khi xem xét yếu tố lực lượng không thể xem nhẹ vai trò của các quân Tốt. Tạm thời một lúc nào đó, các Tốt chưa đóng vai trò gì đáng chú ý, nhưng khi bắt đầu kết thúc giai đoạn khai cuộc, chuyển qua trung cuộc thì các Tốt thường nổi lên như những nhân tố quan trọng, thậm chí quyết định thắng, bại hay hòa trong giai đoạn trung tàn. Nêu điể m này để thấy, ngay trong giai đoạn khai cuộc các danh thủ thường đặt mục tiêu giành thế chủ động và kiếm lời Tốt là tốt lắm rồi. 3. Yếu tố hệ thống phòng thủ Đánh giá một thế cờ phải đánh giá cả hệ thống phòng thủ của hai bên. Hệ thống phòng thủ chủ yếu là nói vai trò của các quân Sĩ, Tượng, cả Tốt đầu và 1-2 quân chủ lực bảo vệ , che chở chúng. Nếu chúng được bố trí trong thế liên hoàn, gắn bó chặt chẽ nhau để nương tựa nhau, bảo vệ cho Tướng là một hệ thống phòng thủ mạnh và ngược lại là một hệ thống phòng thủ tồi, có khiếm khuyết. Một bên có thể hơn về lực lượng nhưng không chắc giành được thắng lợi nếu đối phương có hệ thống phòng thủ vững chắc. Còn một bên tuy l ực lượng ít hơn nhưng có khả năng giành chiến thắng do hệ thống phòng thủ của đối phương sơ hở hay sứt mẻ, không đủ sức chống đỡ. Với kinh nghiệm trận mạc, các danh thủ có nhiều cách công phá các hệ thống phòng thủ, từ tấn công chính diện đến tấn công cánh. Nếu cần thiết, họ bỏ Mã đổi lấy Tượng, thậm chí bỏ cả Xe đổi lấ y Sĩ để làm cho thế phòng thủ của đối phương yếu đi rồi phối hợp quân tiến lên chiếu bí. Tuy nhiên không phải bao giờ hi sinh quân để phá hệ thống phòng thủ của đối phương cũng đều giành được thắng lợi. Trong từng thế cờ cụ thể, mới thấy rõ lúc nào hi sinh là đúng, lúc nào hi sinh là không đúng và cũng từ những kiểu tấn công này, những tay cờ chơi thường xuyên có nhiều kinh nghiệm, hi ểu sâu bản chất của những hệ thống phòng thủ, phân biệt được thế nào là phòng thủ vững chắc, thế nào là phòng thủ kém hiệu quả. Có nhiều hệ thống phòng thủ, đôi khi nhìn bề ngoài tưởng là yếu kém nhưng lại đảm bảo hiệu quả hơn hết, ngược lại có một số hệ thống phòng thủ với các quân liên hoàn nhưng đó lại là hiện tượng bên ngoài, chỉ vững chắ c tạm thời mà thôi; khi đối phương hi sinh quân, đột phá thì toàn bộ hệ thống tan rã rất nhanh chóng. Đây là những vấn đề rất lý thú mà phần sau chúng ta sẽ khảo sát trực tiếp trong những ván cờ minh họa ở chương II và III. IV. Thẩm định, đánh giá một số ván cờ cụ thể Sự khác biệt giữa người chơi cờ giỏi với người chơi cờ kém không phải ở chỗ khả năng tính toán được nhiề u hay ít số lượng nước đi mà sự khác biệt chính là sau một loạt nước đi, người chơi giỏi đánh giá được nhanh chóng và chính xác bên nào ưu, bên nào kém; còn người chơi dở không thể đánh giá đúng được. Nhắc lại điều này để nói vấn đề thẩm định, đánh giá thế cờ sau một vài nước đi là rất cần thiết và nếu đánh giá chính xác nó sẽ quyết định rất lớn cho bướ c thắng lợi tiếp sau. Thế có nghĩa là chơi một ván cờ không phải chỉ thẩm định đánh giá một lần, mà đó là một việc thường xuyên, nó luôn đi kèm với việc chọn lựa phương án và tính toán nước đi. Trong giai đoạn khai cuộc, việc thẩm định, đánh giá này càng giữ vai trò quan trọng, đôi khi quyết định hẳn cho sự thắng bại sau này. Chúng ta học tập cách thẩm định, đánh giá của một số danh thủ qua những thế cờ cụ thể sau đây. Thế số 1: Lưu Tinh - Thái Ngọc Quang Năm 1974, danh thủ Lưu Tinh gặp tay cờ Thái Ngọc Quang ở một giải cờ, họ đã chơi trận Nghịch Pháo như sau: Ván cờ: (Bạn nên bấm vào hình để bật bàn cờ theo dõi thuận tiện hơn) 1. P2-5 P2-5 2. M2.3 M8.7 3. X1-2 X9-8 4. X2.6 M2.3 5. X2-3 X1-2 6. P8-6 Mới khai cuộc mấy nước, Lưu Tinh đã uy hiếp con Mã 7 của đối phương, đánh giá đối phương phải lo chạy Mã, có thể 6 .M3 /5 để rồi sau đó phải rời bỏ Pháo đầu bằng P5-4 và lên Tượng đầu. Do đánh giá như vậy nên Trắng ung dung chơi 6. P8-6 chờ đối phương chống đỡ. Thế nhưng Thái Ngọc Quang không chống đỡ mà đi: 6. . X2.8! Lưu Tinh chẳng cần xem trước xem sau ăn ngay Mã đối phương. 7. X3.1 Như vậy là Quang hi sinh Mã để mở đợt phản công. Ta xem Đen phản công như thế nào: 7. . P8.7 8. M3/2 P5.4 9. S6.5 X8.9 10. P6/2 Nước thứ 9, Trắng không lên S4.5 vì đánh giá sau khi 9 .X8.9 10.X3 -4 X8-7 11.X4.7 X7/3 12.P6.1 P5/2, Đen lỗ 1 Mã nhưng có thế công mạnh, vì vậy chọn phương án lên Sĩ cánh trái tốt hơn. Nước thứ 10, Trắng chơi P6 /2 vì thấy Đen có đòn "đánh xuyên tâm" X2 -5 ăn Sĩ chiếu buộc S4.5 rồi Đen đi X8 -7 ăn Tượng chiếu bí. Trắng lui Pháo về th ủ thì Đen không chơi được đòn xuyên tâm này. 10. . X8-7? Đến đây bộc lộ tâm lý nôn nóng của Thái Ngọc Quang. Anh cho rằng ăn Tượng xong, X2-5 thì Trắng cũng hết đỡ. Nếu chịu khó phân tích thì sẽ phát hiện cách chống đỡ của đối phương, do đó chọn phương án "đánh nguội" một nước trước đã. Đó là: 10 .T3.5! Bây giờ Trắng có hai khả năng chống đỡ: a) Một là 11. X9.1 X2-1 12. M8.7 P5-9! 13. M7/9 P9.3 14. S5.4 P9-7 15. S4.5 P4-6, Đen lợi thế . b) Hai là 11. X3/3 C5.1 12. X3-4 P5/1! 13. X9.2 X8-7 14. X4/3 X7/3 15. X9-6 X7-3 16. X6.3 P5-8 17. X4-2 P8-3, Đen chủ động tấn công. Bây giờ ta xem Lưu Tinh đối phó và kết thúc ván cờ: 11. X9.1 X2-1 12. M8.7 X1-2 13. M7.5 T3.5 14. M5.6 M3/5 15. X3-5 X7/3 16. X5/1 X2/6 17. P6.4 Ở nước 17, Trắng không cần suy nghĩ vì thế cờ Đen thua rõ, chứ nếu Trắng chơi 17. X5-3 thắng nhanh hơn. 17. . X7.1 18. P6-5 X7-5 19. T7.5 X2-4 20. X5-7 Thế số 2: Lý Quảng Lưu - Tiền Hồng Phát Năm 1977, Lý Quảng Lưu gặp Tiền Hồng Phát ở giải toàn quốc Trung Quốc. Lý cầm Trắng đi trận Tiên Nhân Chỉ Lộ, Tiền đối phó bằng Pháo đầu. Ván cờ diễn ra như sau: Ván cờ: (Bạn nên bấm vào hình để bật bàn cờ theo dõi thuận tiện hơn) 1. B3.1 P8-5 2. M2.3 M8.7 3. X1-2 B3.1 4. P2-1 M2.3 5. M8.7 X9.1 6. X9.1 X1.1 7. X9-4 X1-4 8. S4.5 M3.4 9. X4.4 Lý đánh giá đưa Xe kỵ hà buộc đối phương 9 .M4.3 10. X4-7 ăn Tốt đuổi Mã khiến Mã 7 Trắng trở nên linh hoạt. Nếu như Đen đi 9 . P2.2 thì 10. C7.1 M4.5 11. X4 -7 M5.3 12. P1-7, Trắng vẫn giữ thế công. Còn Đen đánh giá khác, thấy trục lộ 7 của Trắng yếu, nhảy Mã lên để rồi P5-3 phản công. Khi Trắng đưa Xe kỵ hà, Đen phát hiện nơi đó là điểm xấu, dễ bị công kích khiế n Đen thực hiện kế hoạch có phần thuận lợi hơn. 9. . B7.1 10. X4-3 P5-3! Trắng không thể bỏ chạy để B7.1 ăn Tốt qua hà. Đen đẩy Xe đen vào tử địa, liền tranh thủ cách để diệt ngay. 11. X3.1 P3.1 12. X3.1 T7.5 13. X3-2 P2-8 14. X2.7 X9-8 15. X2-1 X4-2 16. P8-9 P3.3 17. M7/9 X2.7 18. P9-5 X2-1 19. P5.4 S4.5 20. P1.4 X8.2 21. P5/1 X1-3 22. T3.5 P3.1 23. M3/4 M4.5 24. B3.1 Tg5-4 25. P1/2 X8-4 Đến đây Trắng chịu thua vì không còn khả năng phản đòn, trong khi Đen phối hợp làm thua trong mấy nước tới. Thế số 3: Thái Phúc Như - Hồ Vinh Hoa Năm 1973 tại Quả ng Châu có một trận đấu giao hữu giữa Thái Phúc Như và Hồ Vinh Hoa. Trận đấu diễn ra rất sôi nổi, Thái cầm Trắng chơi Pháo đầu tấn công, Hồ cầm Đen chơi Uyên Ương Pháo đối công. Đánh đến nước thứ 11, tạo thành thế cờ bắt đầu như bàn cờ dưới. Ván cờ: (Bạn nên bấm vào hình để bật bàn cờ theo dõi thuận tiện hơn) Bây giờ đánh giá thế nào? Về lực lượng thì Trắng lỗ mất Tốt đầu nhưng các quân Trắng đang chiếm các vị trí tốt, hai Xe chận yếu đạo với Pháo đầu Mã dội đang thế tấn công, con Pháo 8 cũng sẵn sàng qua hà phối hợp. Trước mắt Trắng không sợ một phản đòn nào của Đen nên vấn đề đặt ra cho Trắng là làm sao khuếch đại ưu thế để tiến lên giành thắng lợi. Còn đối với Đen đang lời Tốt đầu đang chực chờ đưa Tốt qua bắt quân đối phương. Nếu đổi bớt Pháo thì áp lực trung lộ của Trắng giảm. Nhược điểm của Đen nổi rõ là một Mã chưa lên, một Xe kẹt trong góc, các quân khó lòng phối hợp để tạo một sức mạnh phòng ngự hiệu quả. Từ đánh giá, thẩ m định rõ các mặt, Trắng quyết đổi bớt quân để đưa thế cờ sang một giai đoạn mới có lợi cho Trắng, đòn chiến thuật diễn ra như sau: 12. M5.6! B5.1 Vì sao Đen chơi như vậy? Vì Đen phân tích đánh giá phương án diễn ra như sau: a) Nếu 12 . M3.4 13. X6.1 P5 -7 14. P8.7 M8.6 15. X6-5, Đen ưu rõ b) Nếu 12 . P5 -8 13. M6.5 T3.5 14. X4.6 X1-2 15. X4-5 S6.5 16. P8-6, Đen khó chống đỡ. c) Nếu 12 . P5 -7 13. P5-2 M8.6 (nếu 13 . P8 -6 14. M6.7 P6-3 15. X6.5 Tg-4 16. X4.8 Tg.1 17. P2.6, chiếu ăn lại Xe, ưu thế) 14. M6.7 P8-3 15. P2.6 X9-6 16. X4.6 P3-6 17. X6-4, bắt Đen m ột quân. d) Nếu 12 . X1 -4?? 13. M6.5 X4.4 14. M5.3 M8.6 15. X4.7 M3.5 16. X4/2 P5-6 17. X4.2 Trắng cũng thắng. Trắng chơi một đòn chiến thuật bất ngờ: 13. M6.4 P8/1 Nếu Đen ham bắt Xe: 13 .C5-4 thì 14.M4.3 M8.6 15.X4.7 C4 -5 16.X4/1 P5-6 17.M3/1, Trắng cũng lời quân. Còn nếu 13 .P8 -6 thì 14.M4 /5 T5/7 thì còn có khả năng cầm cự. . hiệu A. Về quân cờ: Các quân cờ được ghi tắt b ằng những chữ như sau: - Tướng: T - Sĩ: S - Tượng: T - Xe: X - Pháo: P - Mã: M - Binh (Chốt): B. Cờ Tướng Khai cuộc cẩm nang: Lời nói đầu Lời nói đầu Khai cuộc là một vấn đề chiến lược rất rộng lớn. Muốn

— Xem thêm —

Xem thêm: Cờ tướng - Khai cuộc cẩm nang, Cờ tướng - Khai cuộc cẩm nang, Cờ tướng - Khai cuộc cẩm nang

Lên đầu trang

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.0935549736023 s. Memory usage = 14 MB