Tiểu luận về chính sách tiền tệ

phạm thị hải yến
phạm thị hải yến(8229 tài liệu)
(38 người theo dõi)
Lượt xem 309
0
Tải xuống 8,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 12 | Loại file: DOC
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 25/03/2013, 12:45

Mô tả: Chính sách tiền tệ luôn là nhu cầu để ổn định kinh tế vi mô với hạt nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung. Mặt khác, nền kinh tế thị trường bản chất là một nền kinh tế tiền tệ tiểu luận về chính sách tiền tệ LỜI MỞ ĐẦU Chính sách tiền tệ luôn là nhu cầu để ổn định kinh tế vi mô với hạt nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung. Mặt khác, nền kinh tế thị trường bản chất là một nền kinh tế tiền tệ. Do đó việc ổn định đồng tiền nền Tài Chính Quốc Gia mạnh là cơ sở đầu tiền cho việc kiềm chế lạm phát, và ổn định nền kinh tế. Phần 1: Tổng quan về chính sách tiền tệ của NHTW 1. Khái niệm : Chính sách tiền tệ là quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay ngân hàng trung ương để đạt được những mục đích đặc biệt- như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế. Chính sách lưu thông tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thể trực tiếp hay gián tiếp thông qua các nghiệp vụ thị trường mở; qui định mức dự trữ bắt buộc; hoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối. 2. Các công cụ của chính sách tiền tệ : 2.1 Công cụ tái cấp vốn: là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối với các Ngân hàng thương mại. Khi cấp 1 khoản tín dụng cho Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo cơ sở cho Ngân hàng thương mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ. 2.2 Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc: là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô hiệu hóa trên tổng số tiền gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toan (cho vay) của các Ngân hàng thương mại. 2.3 Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ. 2.4 Công cụ lãi suất tín dụng: đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất. Nó là 1 công cụ rất lợi hại. Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định. 2.5 Công cụ hạn mức tín dụng: là 1 công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của Ngân hàng Trung ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế. 2.6 Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiên quan hệ cung cầu ngoại hối. Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiện tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn dầu tư, dự trữ của đất nước. Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông. Tuy nhiên ở nhiều nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ. Phần 2: Chính sách tiền tệ của NHTW ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM Giai đoạn từ 1998 đến 2007, để đạt mục tiêu tăng trưởng – mục tiêu được xếp hàng đầu trong nhiều năm liền, chính sách tiền tệ đã được nới lỏng liên tục theo hướng: lãi suất ổn định (từ 01/12/2005 – 01/02/2008, lãi suất cơ bản luôn giữ ở mức 8,25%/năm), tỷ giá cũng ổn định nhưng tín dụng thì mở rộng. Trong thời gian 10 năm, từ năm 1998 đến hết năm 2007, bình quân tốc độ tăng trưởng tín dụng hàng năm khoảng 25%, riêng năm 2007, con số này đạt kỷ lục (cao nhất trong 10 năm) là 37,8%. Bên cạnh họat động tín dụng, tiền còn được đưa vào lưu thông qua đường chi tiêu ngân sách, thu mua ngoại tệ… Vì vậy, đã đẩy tổng phương tiện thanh toán mỗi năm tăng thêm hơn ¼ số tiền của năm trước (từ 1996 đến hết năm 2007 tổng phương tiện thanh toán tăng thêm bình quân năm là 26,2%, riêng năm 2007 con số này là 37%) trong khi bình quân mỗi năm GDP chỉ tăng lên khoảng 7,2% (GDP từ 1997 đến hết năm 2007 tăng bình quân năm là: 7,2%). Suốt khoảng thời gian dài, khoảng cách giữa tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tốc độ tăng GDP luôn ở mức trên dưới 20%, mà trong đó, tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán luôn ở biên độ cao hơn so với GDP. Qua đó cho thấy, cũng trong suốt thời gian ấy, rất nhiều tiền đã được đưa vào lưu thông nhưng đã không tạo ra một lượng GDP tương ứng. Mà có lẽ thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán trong những năm qua đã trở thành kênh dẫn cho lượng tiền đó và vì thế, cho đến khi hai thị trường này bị thắt lại, lượng tiền thừa thực sự phát huy tác dụng – nếu không lạm phát mới là hiện tượng lạ (thị trường bất động sản bắt đầu phát triển từ những năm 1997, 1998 và mạnh mẽ nhất vào năm 2007. Còn thị trường chứng khoán mới có sức hút tiền trong khoảng 3 năm gần đây). (Xem biểu đồ) Biều đồ: Tốc độ tăng cung tiền và GDP của 3 nước, lấy mốc năm 2004 bằng 100%, cung tiền đo bằng M2 Nguồn: Website của NHNN Trong khoảng thời gian 2 năm rưỡi (tính từ đầu năm 2005 cho đến hết tháng 6/2007), GDP của Việt Nam tăng 22%, còn mức cung tiền lên đến 110%. Trong cùng một khoảng thời gian, GDP của Trung Quốc tăng 29%, nhưng mức cung tiền chỉ tăng 50%. Chênh lệch này ở Thái Lan hầu như không đáng kể. Năm 2008 kinh tế thế giới diễn biến hết sức phức tạp và biến động nhanh chóng. Trong những tháng đầu năm, hầu hết các nền kinh tế thế giới phải tập trung đưa ra các giải pháp mạnh mẽ để chống lạm phát do “cơn bão giá “ lan rộng trên toàn cầu. Giá dầu thô liên tục tăng cao, đến trung tuần tháng 7-2008 lên tới đỉnh điểm là 147 USD/thùng; giá gạo có thời điểm lên tới 1.200 USD/tấn; giá vàng lên tới trên 950 USD/ounce. Các mức giá đó cao nhất trong hàng chục năm qua trên thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, USD mất giá mạnh so với các loại ngoại tệ chủ chốt khác, có thời điểm 1 EURO đổi được hơn 1,62 USD. Trước bối cảnh đó NHTW hàng loạt nước phải thực hiện thắt chặt tiền tệ, tăng cao lãi suất chỉ đạo, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Tuy nhiên kinh tế thế giới đã và đang biến đổi hết sức nhanh chóng vượt ra ngoài dự báo của NHTW, các định chế tài chính, các nhà khoa học kinh tế nổi tiếng, cũng như cả giới đầu cơ. Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ khủng tín dụng thứ cấp nhà ở tại Mỹ đã nhanh chóng lan ra toàn cầu. Tính đến nay có gần 20 Ngân hàng và định chế tài chính Mỹ bị đổ vỡ, nhiều ngân hàng khác tại châu Âu cũng bị quốc hữu hoá, sáp nhập, bị thôn tính, bị thua lõ nặng. Giá dầu mỏ sụt giảm với tốc độ “ khủng khiếp, đến đầu tháng 12-2008 cuống chỉ còn 40 USD/thùng, giá vàng cũng giảm nhanh, đồng USD mạnh lên so với các loại ngoại tệ mạnh khác trên thị trường quốc tế. Giá gạo và một số mặt hàng lương thực khác giảm hơn 2/3. Tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ và nhiều quốc gia khác gia tăng, sức mua giảm. Thương mại thế giới giảm tới 10%, mức giảm thấp nhất trong gần 20 năm qua. Thị trường chứng khoán sụt giảm thê thảm, hàng nghìn tỷ USD bị bốc hơi. Trước sự đột ngột “ quay đầu “ nhanh chóng như vậy của kinh tế thế giới, NHTW các nước cũng đã phản ứng hết sức linh hoạt, ngay lập tức chuyển sang thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, thực hiện cắt giảm mạnh mạnh lãi suất cơ bản, cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, đưa về mức thấp nhất trong nhiều năm qua. Bộ tài chính và NHTW các nước bơm hàng chục tỷ USD, thậm chí hàng trăm tỷ USD và các nước châu Âu giành tới gần 3.000 tỷ USD để bơm vào hệ thống ngân hàng thương mại, bơm vào nền kinh tế, cứu một loạt định chế tài chính, đảm bảo thanh khoản cho các NHTM. Đồng thời tăng mức bảo hiểm tiền gửi, hoặc cam kết bảo hiểm không có giới hạn tiền gửi cho người dân. Tuy nhiên cho đến nay cuộc khủng hoảng tài chính thế giới chưa có dấu hiệu được ngăn chặn hoàn toàn và không biết còn diễn ra tới đâu và tác động đến mức nào. Chỉ số chứng khoán trên các thị trường chứng khoán chủ chốt khác vẫn liên tục mất điểm. Đồng thời Chính phủ một loạt nước trên thế giới công bố các kế hoạch kích thích kinh tế khổng lồ để ngăn chặn đà uy giảm, thúc đẩy tăng trưởng. Riêng Chính phủ Trung Quốc đưa ra kế hoặch tài chính trị giá tới 586 tỷ USD cho chương trình kích cầu nền kinh tế theo hướng nói trên. Nền kinh tế Việt Nam cũng chịu tác động ở mức độ khác nhau của kinh tế thế giới, cộng với những nguyên nhân nội tại của nền kinh tế đất nước, của thiên tai, dịch bệnh, nên trong những tháng đầu năm 2008 lạm phát cũng tăng rất cao. Chỉ số CPI tăng cao nhất trong khoảng 16 năm qua. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, ngày từ đầu năm 2008, NHNN đã thực hiện đồng bộ các giải pháp thắt chặt tiền tệ để chống lạm phát, như tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng các loại lãi suất chủ đạo, phát hành 20.300 tỷ đông tín phiếu bắt buộc đối với các NHTM, kiểm soát chặt chẽ vốn cho vay đầu tư chứng khoán, đầu tư bất động sản; tăng cường quản lý các bàn đại lý thu đổi ngoại tệ. Hai quý đầu của năm 2008, cùng với những bất ổn trên thị trường tài chính thế giới, tình hình kinh tế trong nước cũng diễn biến hết sức phức tạp. Giá cả tăng cao, cộng với sự dồn tích khá lâu về lượng tiền thừa đã làm cho thị trường hàng hoá Việt Nam có hiện tượng “bốc hoả” về giá So với tháng 12 năm 2007, giá tiêu dùng tăng 17,18%, mức cao nhất so với nhiều năm trở lại đây. Trong đó đáng quan tâm nhất là hai nhóm hàng lương thực và thực phẩm: lương thực tăng 59,44%, thực phẩm tăng 21,83%, đã góp phần đẩy chỉ số lạm phát bình quân 6 tháng đầu năm lên mức 2,86%/tháng. Đến cuối tháng 6, chỉ số lạm phát tuy có tăng chậm lại nhưng vẫn ở mức cao nhất so với tháng 6 của nhiều năm trước (2,14%). Thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, ba công cụ: lãi suất, dự trữ bắt buộc và thị trường mở được sử dụng đồng thời cùng với những quy định siết chặt thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản… đã tác động mạnh đến thị trường. Và phản ứng của thị trường cũng thật mạnh mẽ: các hoạt động cho vay gần như co cụm lại, lãi suất tăng vọt, luồng tiền gửi trở lên bất ổn, thị trường bất động sản đang ở trong cơn sốt bỗng đóng băng và trở lên lạnh giá, thị trường vàng như con ngựa bất kham, giá cả hàng hoá thì tăng vọt… Chính sách tiền tệ bộc lộ thật rõ sức mạnh của nó. Những dấu mốc đáng ghi nhớ trong việc sử dụng các công cụ để điều hành chính sách tiền tệ vào những tháng đầu năm 2008: - Ngày 16/01/2008, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 1%. (Quyết định 187/QĐ-NHNN). - Ngày 30/01/2008, điều chỉnh tăng các loại lãi suất: Lãi suất cơ bản tăng 0,5%, tái cấp vốn tăng 1,0%, lãi suất chiết khấu tăng 1,5% (Quyết định 305/QĐ-NHNN). - Ngày 13/2/2008, thông báo về việc phát hành tín phiếu bắt buộc, thực hiện vào ngày 17/3, với tổng giá trị tín phiếu phát hành là 20.300 tỷ đồng, kỳ hạn là 364 ngày, lãi suất là 7,8%/năm (Quyết định 346/QĐ-NHNN). Cả ba giải pháp trên đều hướng tới mục tiêu rút bớt tiền trong lưu thông về. Các giải pháp sau đó cũng không kém phần quyết liệt. Theo Quyết định 305/QĐ-NHNN ngày 30/01/2008, lãi suất cơ bản sau 25 tháng giữ ổn định ở mức 8,25%/năm tăng lên 0,5%/năm, chuyển sang mức 8,75%/năm. Sau hơn 3 tháng thực hiện, đến 19/5/2008, lãi suất cơ bản vọt lên 12%/năm và chưa đầy 1 tháng sau, ngày 11/6/2008, Quyết định 1317/QĐ-NHNN của NHNN đã nâng thêm 2% đưa lãi suất cơ bản lên mức 14%/năm… (Xem bảng 1) Bảng 1: Những dấu mốc thay đổi lãi suất cơ bản từ tháng 12/2005 – đến tháng 6/2008 Lãi suất Quyết định Ngày thực hiện 14%/năm 1317/QĐ-NHNN ngày 10/6/2008 11/06/2008 12%/năm 1099/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 19/05/2008 8.75%/năm 305/QĐ-NHNN ngày 30/1/2008 01/02/2008 8,25%/năm 1746/QĐ-NHNN ngày 1/12/2005 01/12/2005 Trong điều kiện tiền quá nhiều trong lưu thông thì việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để giảm lượng tiền thừa là hoàn toàn đúng xét cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Sự can thiệp quyết liệt của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy được chính kiến cũng như sự quyết tâm của toàn hệ thống ngân hàng trong việc kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng thực sự các NHTM đã phải trải qua những tháng ngày (đặc biệt là trong tháng 2, tháng 3) cực kỳ khó khăn về thanh khoản và luôn nằm trong tình trạng “nguy cơ”. Chiến dịch lãi suất của các ngân hàng giai đoạn này đã tạo nên một dấu ấn khá sâu đậm. Có lẽ mãi sau này người ta cũng không thể quên được cảnh tượng “tháo chạy” của khách hàng khỏi ngân hàng có lãi suất thấp và dòng người xếp hàng bất chấp thời gian trước những ngân hàng có lãi suất cao để gửi tiền vào. Chỉ trong khoảng thời gian vài ngày, có ngân hàng đẩy lãi suất tiền gửi từ 15%/năm lên 19%/năm, lãi suất cho vay được đẩy lên đúng với lãi suất tối đa 21%/năm ở hầu hết các ngân hàng. Cũng giai đoạn này, đã nảy sinh nhiều vấn đề trong việc tìm cách giữ chân người gửi tiền và qua đó mới thấy khách hàng gửi tiền quan trọng cỡ nào. Lãi suất không chỉ là vấn đề trên thị trường giữa ngân hàng và khách hàng (thị trường I) mà nó còn diễn ra không kém phần quyết liệt chính giữa các ngân hàng với nhau (thị trường II). Sự bình ổn trở lại được bắt đầu vào quý III năm 2008. Những ngày đầu quý III, nền kinh tế trong nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, tăng trưởng kinh tế giảm dần, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản vẫn đang trong tình trạng “ngủ đông”, thị trường tiền tệ thì diễn biến phức tạp, sản xuất kinh doanh thì chật vật bởi lãi suất cao, chi phí nguyên liệu cũng cao… Tuy nhiên, chỉ số lạm phát tháng 7 được công bố ở mức 1,13% – mức thấp nhất so với các tháng trước – đã làm cho tình hình dịu đi. Và hy vọng về sự sáng sủa của bức tranh kinh tế đã bắt đầu le lói khi chỉ số lạm phát ngày càng có xu hướng giảm dần, tháng 8 là 1,56%; đến tháng 9 chỉ còn 0,18%; tháng 10 giá cả bắt đầu có xu hướng giảm (âm 0,19%); sang tháng 11, chỉ số giá cả giảm với mức độ sâu hơn (âm 0,76%) và tháng 12/2008 – tháng cuối cùng năm 2008, chỉ số giá cả vẫn tiếp tục giảm… Cuộc chạy đua lãi suất cũng bắt đầu có dấu hiệu chững lại sau một loạt các quyết định của NHNN trong việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ. - Lãi suất cơ bản giảm xuống từ 14%/năm còn 8,5%/năm. (Xem bảng 2). Bảng 2: Lãi suất CB Quyết định Ngày thực hiện 8,5% 3161/QĐ-NHNN ngày 19/12/2008 22/12/2008 10% 2948/QĐ-NHNN ngày 03/12/2008 05/12/2008 11%/năm 2808/QĐ–NHNN ngày 20/11/2008 21/11/2008 12%/năm 2559/QĐ-NHNN ngày 3/11/2008 05/11/2008 13.0%/năm 2316/QĐ-NHNN ngày 20/10/2008 21/10/2008 14%/năm 1317/QĐ-NHNN ngày 10/6/2008 11/06/2008 - Lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc thì lần lượt tăng lên: 3,5%/năm; 5%/năm; 10%/năm, sau đó giảm nhưng với tốc độ giảm chậm. (Xem bảng 3). Bảng 3: Lãi suất DTBB Quyết định Ngày thực hiện 8,5%/năm 3162/QĐ-NHNN ngày 19/12/2008 22/12/2008 9%/năm 2950/QĐ-NHNN ngày 3/12/2008 5/12/2008 10%/năm 2321/QĐ-NHNN ngày 20/10/2008 21/10/2008 5,0%/năm 2133/QĐ-NHNN ngày 25/9/2008 01/10/2008 3,5%/năm 1907/QĐ-NHNN ngày 29/8/2008 01/9/2008 - Tín phiếu bắt buộc được thanh toán trước hạn (Quyết định 2317 ngày 20/10/2008); biên độ tỷ giá được nới lỏng từ +/- 1% lên +/-2% (Quyết định 1436 ngày 26/6/2008), từ +/- 2% lên +/- 3% (Quyết định 2635 ngày 6/11/2008); giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10%/năm xuống còn 8%/năm (Quyết định 2811 ngày 20/11/2008), 8% xuống còn 6% (Quyết định 2951 ngày 03/12/2008), đến 19/12/2008 còn 5% (Quyết định 3158) và các loại lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn cũng được hạ xuống… Bên cạnh đó, tín hiệu cho vay kinh doanh chứng khoán, cho vay bất động sản cũng được phát ra… Sau đó, việc thắt chặt tiền tệ kiềm chế lạm phát đã có những tác động góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, từ đầu tháng 9-2008, cũng theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN đã chuyển dần sang linh hoạt hơn trong điều hành chính sách tiền tệ, tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất tín phiếu bắt buộc của NHNN. Tiếp theo đó từ đầu tháng 10 đến đầu tháng 12-2008, NHNN thực hiện nhiều đợt giảm dần lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác do NHNN điều hành, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, cho phép các TCTD được thanh toán trước hạn tín phiếu bắt buộc, nới rộng biên độ giao dịch ngoại tệ của NHTM với khách hàng. Đặc biệt là thời điểm đầu tháng 12-2008, góp phần thực hiện các giải pháp cấp bách ngăn chặn suy giảm kinh tế, khắc phục đình trệ sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN có các quyết định mang tính đồng bộ và mạnh mẽ hơn theo hướng linh hoạt hơn nữa trong điều hành chính sách tiền tệ. Những quyết định đó đã đưa lãi suất trên thị trường dần trở về tương ứng với mức trước khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, đáp ứng tốt hơn nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như của các thành phần kinh tế. Tuy nhiên những diễn biến kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước, sự tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, cũng như điều hành các công cụ của chính sách tiền tệ của NHNN đã tác động đến hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam, như thiếu thanh khoản, lãi suất thị trường liên ngân hàng tăng cao, lãi suất huy động vốn tăng cao nhưng lãi suất cho vay nằm trong giới hạn của lãi suất cơ bản và luật dân sự. Đến thời điểm hiện nay, mặc dù lãi suất cho vay đã giảm rất lớn nhưng vốn cho vay ra của các NHTM vẫn rất khó khăn. Nhìn chung nguồn thu của các NHTM bị giảm và quản trị điều hành của các NHTM cũng bị động, luôn phải xử lý với các tình huống xẩy ra. Cho đến cuối tháng 12/2008, tình hình kinh tế có dấu hiệu khả quan hơn, hoạt động ngân hàng đang khởi sắc trở lại, huy động vốn và cho vay đang bắt đầu trở về với nhịp độ bình thường, lãi suất không còn đóng vai trò gần như tuyệt đối trong việc hướng dẫn khách hàng có nguồn tiền gửi… Tuy nhiên, hoạt động của các thị trường vẫn trong tình trạng chưa có dấu hiệu cải thiện, luồng di chuyển tiền tệ trong nền kinh tế đang có hiện tượng chậm lại, tiến độ cho vay của các ngân hàng cũng như khả năng tiếp cận vốn vay từ phía các doanh nghiệp tuy đã phần nào được giải tỏa song vẫn là vấn đề nan giải. Hoạt động tín dụng vẫn còn ở trạng thái cầm chừng, trong 10 tháng đầu năm 2008, tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 19,6%, nếu so với 30% – giới hạn tăng trưởng tín dụng NHNN đặt ra cho năm 2008 thì hoạt động tín dụng mới chỉ “đi được” 2/3 “quãng đường”. Phải chăng ngân hàng không đủ vốn để cho vay? Hay do nhu cầu xã hội như vậy là đã đủ? Hoàn toàn không phải vậy, theo thông tin từ NHNN thì vốn khả dụng của các NHTM hiện rất dồi dào; còn nếu nói đến nhu cầu xã hội thì con số 19,6% lại chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Như vậy, tỷ lệ 19,6% tăng lên của hoạt động tín dụng trong 10 tháng đầu năm 2008 là một con số chưa được thỏa mãn. Rõ ràng là dư âm và hậu quả của cuộc chạy đua lãi suất trong những tháng đầu năm 2008 vẫn còn đó mà khởi động cho nó chính là tác động của các công cụ chính sách tiền tệ đã được sử dụng. Hãy điểm qua những hệ lụy mang lại cho các NHTM để thấy được mặt trái của việc vận hành các công cụ chính sách tiền tệ. Điều chỉnh giảm lãi suất cho vay – một khó khăn của các NHTM. Mặc dù hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh và thu lãi từ hoạt động tín dụng hiện vẫn là nguồn thu chủ yếu của các NHTM Việt Nam, song hoàn toàn không phải vì thế mà các ngân hàng muốn nâng lãi suất cho vay. Bởi lẽ, ngay cả trong điều kiện mọi hoạt động trong nền kinh tế diễn ra bình thường thì việc nâng lãi suất cũng sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của ngân hàng, khách hàng tốt sẽ bỏ đi – vì cách xử sự của ngân hàng không tốt, khách hàng xấu thì ở lại – vì đã xấu thì đến vay ở ngân hàng nào cũng thế thôi. Còn trong điều kiện lạm phát cao, việc tăng lãi suất cho vay cũng là điều dễ hiểu – vốn dĩ lãi suất cũng là một loại giá, mặt bằng giá cả tăng, thì lãi suất huy động vốn tăng, và vì thế, lãi suất cho vay cũng không thể không tăng được. Tuy nhiên, lãi suất cho vay không phải chỉ bị ảnh hưởng bởi mặt bằng giá cả mà nguyên nhân chính là nó phải chịu sự chi phối của quan hệ cung cầu tín dụng trong nền kinh tế, mà trong đó NHTW có thể thực hiện vai trò điều tiết của mình thông qua các công chính sách tiền tệ để trực tiếp điều chỉnh lãi suất hoặc gián tiếp điều chỉnh quan hệ cung cầu tín dụng. Phân tích các yếu tố tác động lên mặt bằng lãi suất của các ngân hàng sẽ cho ta lời giải khá cụ thể về việc nâng lãi suất và khả năng điều chỉnh giảm lãi suất của các ngân hàng trong thời gian này. Ngân hàng cho vay dựa trên cơ sở nguồn vốn phải trả lãi huy động được từ nền kinh tế, nhưng đồng thời đó cũng là nguồn để dự trữ bắt buộc, để mua tín phiếu bắt buộc… trên cơ sở đó, ngân hàng phải tự cân đối nguồn vốn khả dụng, cân đối lãi suất để nếu không có lời thì cũng phải duy trì hoạt động của ngân hàng. Vì thế, toàn bộ các tín hiệu được phát ra từ NHNN như tăng dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất cơ bản, mua tín phiếu bắt buộc trong những tháng đầu năm 2008 đã buộc các ngân hàng phải nâng lãi suất, phải thắt chặt tín dụng. Hiện thời, lãi suất huy động và cho vay đều giảm xuống nhưng nguồn huy động lãi suất cao còn đó, không dễ gì ngay lập tức có thể giảm thật nhiều. Vấn đề này đối với các NHTM cổ phần lại càng khó khăn hơn vì nguồn vốn huy động lãi suất thấp từ tiền gửi thanh toán của các doanh nghiệp của họ thật vô cùng khan hiếm. Tăng cường cho vay – điều không đơn giản. Trong kinh doanh ngân hàng, ai cũng có thể hiểu rằng việc cho vay của các NHTM luôn phụ thuộc vào cả hai phía: cả ngân hàng – người cho vay và cả người đi vay mà đại diện là các doanh nghiệp. Dù hiện nay nhiều ngân hàng đã rất có thành ý và đặt ra mục tiêu tăng dư nợ trong những tháng cuối năm 2008 nhưng việc cho vay cũng chưa hẳn đã dễ dàng. Cho đến cuối tháng 10/2008, kế hoạch mở rộng quy mô cho vay của một số ngân hàng chỉ thực hiện được khoảng 10% – 20%. Có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó dĩ nhiên nguyên nhân từ phía doanh nghiệp cũng không kém phần quan trọng, song nếu xét ở góc độ do chịu hệ lụy của chính sách tiền tệ thì lãi suất chính là một trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm hẳn khả năng vay vốn của các doanh nghiệp. Theo thống kê gần đây của Hiệp hội các doanh nghiệp nhỏ và vừa thì có tới 60% doanh nghiệp khó khăn do lãi suất tăng. Và kể cả trong thời gian này, khi ngân hàng giảm lãi suất cho vay thì doanh nghiệp vẫn thật khó có thể vay vốn bởi lãi suất vẫn cao hơn so với tỷ suất lợi nhuận mà nó có thể đạt được. Mặt khác, nền kinh tế khó khăn, thì doanh nghiệp không chỉ khó khăn về vốn, về lãi suất mà giá cả đầu vào cao- chi phí sản xuất kinh doanh tăng vọt cũng góp phần làm suy yếu sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp và do vậy việc tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng cũng không phải dễ dàng. Bên cạnh đó thì sự suy yếu về tài chính, những khó khăn về đầu ra – sức cầu giảm – cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng có nhiều doanh nghiệp muốn vay vốn ngân hàng nhưng không vay được. Do không hiểu nhiều về ngân hàng nên có người cho rằng ngân hàng gây khó cho doanh nghiệp, tuy nhiên, với những người trong nghề thì điều này lại quá rõ ràng – hoạt động chủ yếu của ngân hàng là huy động vốn để cho vay, không có một lý do gì có thể khiến các ngân hàng huy động được nguồn rồi mà lại không muốn cho vay ra cả, chẳng qua do kinh doanh khó khăn, do chưa chứng minh được hiệu quả của việc sử dụng vốn vay và khả năng trả nợ thấp nên họ đã không được ngân hàng chấp nhận cho vay. Vốn dĩ việc kinh doanh của ngân hàng là dựa trên những đồng vốn được huy động từ nền kinh tế, cho dù ngân hàng có khó khăn như thế nào thì việc hoàn trả tiền gửi khi đến kỳ hạn cũng không bao giờ được chậm trễ. Điều đó đã buộc ngân hàng phải từ chối với những dự án vay không đủ chuẩn và do vậy đã làm hạn chế khả năng cho vay của các ngân hàng. Sự tương tác giữa các ngân hàng có phần suy giảm – cũng là một hệ lụy do việc vận dụng chính sách tiền tệ thời gian qua mang lại. Nếu như quá trình tạo tiền của các ngân hàng được thực hiện trong khi các ngân hàng tiến hành các hoạt động kinh doanh thì chính quá trình đó lại là bằng chứng về mối liên hệ gắn bó, không thể tách rời giữa các ngân hàng trong quá trình hoạt động. Mỗi ngân hàng có thể có mục tiêu riêng, có chiến lược hoạt động riêng, có thương hiệu riêng… cùng với nhiều điểm khác biệt. Song, trong quá trình tạo tiền thì tất cả đều giống như đang cùng di chuyển trên một con thuyền. Ngay cả khi sóng yên, biển lặng thì tất cả những người chèo thuyền đã phải chung một hướng chứ đừng nói đến khi sóng to, gió lớn. Chính vì vậy, trong hoạt động ngân hàng, đòi hỏi giữa các thành viên phải có sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau để cùng tồn tại và phát triển, nhất là trong những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nếu không tương tác hỗ trợ mà còn xô đẩy nhau thì chắc chắn bão táp sẽ ập xuống – khủng hoảng toàn hệ thống, lúc đó thật khó có thể tồn tại. Thực ra các ngân hàng đều thấu hiểu sự ràng buộc đó, song có những khoảnh khắc rất ngắn trong những tháng đầu năm 2008, nhiều ngân hàng phải đối diện với vấn đề thanh khoản, những yêu cầu gấp gáp, khẩn trương cả về thời gian và số lượng đã buộc các ngân hàng phải đưa ra những phương án xử lí vấn đề thanh khoản một cách quyết liệt. Tiền huy động về đã cho vay rồi – cho vay thì luôn luôn có thời hạn, kể cả đến hạn trả nợ thì việc đòi nợ còn khó khăn, chứ đừng nói đến việc chưa đến hạn trả nợ; dự trữ cũng chỉ có mức độ vừa phải, lấy gì để tăng dự trữ bắt buộc, đồng thời mua tín phiếu có thời hạn bắt buộc…? Các ngân hàng phải lên kế hoạch, vạch chiến lược thanh khoản cho từng giờ – làm sao tránh khỏi việc chiêu dụ khách hàng của nhau; sử dụng công cụ lãi suất ép nhau… Thật lo lắng khi ngay trên thị trường liên ngân hàng, các ngân hàng cũng đã có lúc đối xử với nhau như không phải họ đang trong cùng một trận tuyến chống lạm phát – lãi suất cho vay giữa các ngân hàng có lúc lên đến 43%/năm – một con số không thể ngờ tới. Nợ xấu và rủi ro tiềm ẩn tăng lên. Lãi suất cao, thắt chặt tín dụng, giá cả nguyên vật liệu tăng vọt… là những gánh nặng đè lên vai các doanh nghiệp. Trong hoàn cảnh đó, rõ ràng các dự án đang hoạt động không thể tiến hành bình thường, các dự án mới không thể bắt đầu được, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh không thể có cơ hội để duy trì ổn định và doanh nghiệp đã gặp không ít khó khăn khi phải đương đầu với những thay đổi thất thường của nền kinh tế: lúc giá cả lên cao – chi phí nguyên vật liệu tăng vọt, khi giá cả giảm xuống – sản phẩm làm ra không thể bán giá cao… Nợ mới đã không vay được thì nợ cũ cũng không dễ gì trả được – nợ chồng nợ, nợ đọng, nợ khó thu hồi, đảo nợ… có nhiều cơ hội phát sinh, rủi ro tiềm ẩn tăng lên. Không thể khác được, sự khó khăn của doanh nghiệp lại gây hậu quả ngược lại cho ngân hàng. Năm 2009, một năm mà chính sách tiền tệ (CSTT) đã phải đối mặt với nhiều thách thức khó lường phát sinh từ những bất cập của nền kinh tế và tác động bất lợi của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế Nhìn nhận một cách khách quan có thể thấy, lạm phát cao năm 2008, cùng với sự đảo chiều của vốn đầu tư nước ngoài và thâm hụt mạnh cán cân thương mại (12,783 tỷ USD) đã có tác động mạnh đến tâm lý các nhà đầu tư trên thị trường ngoại hối, gây những biến động khó lường đến tỷ giá Thêm vào đó, giải pháp hỗ trợ lãi suất có tác động tích cực hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sản xuất, làm khởi sắc TTCK, bất động sản và thị trường tín dụng, nhưng cũng gây sức ép tăng khối lượng tiền trong nền kinh tế, tín dụng tăng trưởng cao và áp lực giảm giá VND. Trước những tác động bất lợi như vậy, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực thi CSTT một cách linh hoạt phối hợp đồng bộ với nhiều giải pháp khác để giữ bình ổn thị trường. Từ đầu năm 2009 đến nay, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và dân cư trong xã hội tiếp cận được với vốn vay của hệ thống ngân hàng theo tinh thần của các gói giải pháp kích cầu của Chính phủ cũng như tạo điều kiện cho các NHTM hoạt động ổn định và hiệu quả, NHNN đã hạ thấp lãi suất chỉ đạo từ 14% xuống 7%, hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 11% xuống 5%. Thị trường tiền tệ từng bước được bình ổn, tuy nhiên 6 tháng đầu năm 2009, thị trường ngoại hối có những diễn biến không thuận lợi. Do áp lực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, lo ngại rủi ro biến động tỷ giá, các doanh nghiệp có tâm lý găm giữ ngoại tệ. Top of Form Bottom of Form Phần 3: Một số điểm cần lưu ý khi điều hành chính sách tiền tệ Mặc dù cho đến nay, tình hình kinh tế khá ổn định, hoạt động của các ngân hàng có nhiều chuyển biến tích cực, lòng tin của người dân cũng đang dần dần được hồi phục, song trên thực tế, những tác động trái chiều của chính sách tiền tệ vẫn còn ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các ngân hàng và thông qua đó ảnh hưởng đến nền kinh tế… Vấn đề này cần được thảo luận một cách nghiêm túc, bởi lẽ ngân hàng là nơi cung cấp vốn – điều kiện đầu vào cho mọi quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nếu khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng gặp khó khăn, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ không thể tiến hành bình thường được và như vậy, kinh tế khó có thể tăng trưởng. Nhất là trong điều kiện mà lạm phát đang được kiểm soát, nhưng giảm phát và suy thoái kinh tế – nỗi lo chung của xã hội, lại đang có dấu hiệu xuất hiện: thị trường bất động sản tuy có dấu hiệu rục rịch nhưng vẫn trong tình trạng đóng băng, thị trường chứng khoán đang trong giai đọan cố gắng nhưng vẫn “trồi” “sụt” bất thường, thị trường hàng hóa cũng trong tình trạng suy giảm (cung cầu đều khó khăn, giá cả thì đảo chiều)… Để giảm bớt những tác động trái chiều của chính sách tiền tệ cần lưu ý một số vấn đề sau: Thận trọng khi đồng thời sử dụng nhiều công cụ điều hành chính sách tiền tệ. Việc sử dụng đồng thời nhiều công cụ điều hành chính sách tiền tệ là việc làm bình thường, trên lý thuyết và cả thực tiễn, cũng không có nguyên tắc nào quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, thị trường là nơi rất nhạy cảm và nó chính là nơi phản ánh sức sống của nền kinh tế. Diễn biến cùng với những phản ứng mãnh liệt của thị trường vào những tháng đầu năm 2008 và những dư âm của nó cho đến hôm nay- những ngày cuối cùng của năm 2008 đã cho ta một bài học sâu sắc về vấn đề này. Vì thế, cần phải hết sức thận trọng đối với mỗi quyết định liên quan đến sự vận động của tiền tệ, trước khi vận hành phải quan sát kỹ diễn biến, dự kiến được những phản ứng có thể của thị trường để cân nhắc về loại công cụ sử dụng, về mức độ cần thiết, về liều lượng cũng như cách thức vận hành mỗi công cụ và luôn tránh những giải pháp sốc – giải pháp có thể dồn các ngân hàng vào những tình huống nguy hiểm. Lãi suất là công cụ linh hoạt, đáng được cân nhắc để sử dụng nhất. Mặc dù mỗi công cụ có những đặc tính, khả năng tác động đến thị trường theo những cách khác nhau, với mức độ cũng không giống nhau, song cho dù công cụ nào thì tín hiệu cuối cùng của nó sau khi phát ra cũng dẫn đến sự thay đổi về giá – lãi suất, dù đó là tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc hay mua tín phiếu bắt buộc… Vì vậy, hãy sử dụng hữu hiệu công cụ lãi suất để điều tiết. Có thể nói, trong các loại lãi suất thì lãi suất thị trường liên ngân hàng sẽ phát ra tín hiệu phù hợp nhất, lãi suất này không chỉ chịu sự chi phối của cung cầu vốn mà còn chịu ảnh hưởng, tác động của lãi suất chỉ đạo phát ra từ NHNN: lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu. Lãi suất thị trường liên ngân hàng đặc biệt phát huy tác dụng trong điều kiện khó khăn về . tiểu luận về chính sách tiền tệ LỜI MỞ ĐẦU Chính sách tiền tệ luôn là nhu cầu để ổn định kinh tế vi mô với hạt nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập. tế. Phần 1: Tổng quan về chính sách tiền tệ của NHTW 1. Khái niệm : Chính sách tiền tệ là quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay ngân hàng

— Xem thêm —

Xem thêm: Tiểu luận về chính sách tiền tệ, Tiểu luận về chính sách tiền tệ, Tiểu luận về chính sách tiền tệ

Lên đầu trang

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.12795877456665 s. Memory usage = 14.04 MB