165 Hoàn thiện mô hình kinh tế quốc tế trong các doanh nghiệp Dược phẩm

Vân Phiêu Phiêu
Vân Phiêu Phiêu(8810 tài liệu)
(28 người theo dõi)
Lượt xem 3
0
Tải xuống 8,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 94 | Loại file: DOC
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 30/03/2013, 16:49

Mô tả: 165 Hoàn thiện mô hình kinh tế quốc tế trong các doanh nghiệp Dược phẩm Lời nói đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài. Xã hội càng phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh càng đợc mở rộng, càng mang tính đa dạng, phức tạp thì nhu cầu thông tin càng trở nên bức thiết và quan trọng. Kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế - xã hội của một tổ chức để phục vụ nhu cầu quản lý của các đối tợng bên trong và bên ngoài tổ chức, doanh nghiệp còn có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay- giai đoạn toàn cầu hoá nền kinh tế , sự cạnh tranh mang tính chất phức tạp, khốc liệt. Có thể nói, chính chất lợng và hiệu quả của công tác kế toán ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng và hiệu quả quản lý, điều hành tổ chức để đạt đợc các mục tiêu đã đề ra. Xuất phát từ yêu cầu và tính chất thông tin cung cấp cho các đối tợng bên trong và bên ngoài tổ chức có sự khác biệt nên thông tin kế toán đợc phân biệt thành thông tin KTTC và thông tin KTQT. Mặc dù KTQT mới đợc phát triển trong giai đoạn gần đây nhng đã minh chứng đợc sự cần thiết và quan trọng của nó đối với công tác quản trị, điều hành các tổ chức, doanh nghiệp , đặc biệt là những đơn vị có quy mô lớn, hoạt động đa lĩnh vực, đa ngành trong phạm vi rộng. KTQT đã, đang và dần trở thành công cụ khoa học giúp nhà quản trị thực hiện tốt các chức năng hoạt động, kiểm soát và ra quyết định. ở nớc ta, KTQT mới chỉ đợc đề cập và vận dụng trong thời gian gần đây. Vì thế, việc hiểu để ứng dụng có hiệu qủa KTQT ở các doanh nghiệp có ý nghĩa lớn lao để tăng cờng khả năng hội nhập, tạo nên sự an toàn cho nhà quản trị khi có trong tay một công cụ khoa học hỗ trợ cho quá trình quản lý, điều 1 hành doanh nghiệp. Do vậy, xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức công tác KTQT trong các doanh nghiệp nói chung và các DNKDDP nói riêng là một vấn đề hết sức cần thiết. Đây chính là lý do tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài: " Hoàn thiện mô hình KTQT trong các doanh nghiệp Dợc phẩm" 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài. - Đề tài góp phần làm rõ bản chất, nôị dung, phơng pháp nghiên cứu và việc tổ chức công tác KTQT trong các DNKDDP. - Thông qua việc nghiên cứu thực tế, đánh giá thực trạng KTQT trong các DNKDDP ở Việt Nam, từ đó đa ra mô hình tổ chức công tác KTQT trong các đơn vị này. 3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu. Trọng tâm nghiên cứu của luận văn là xác định nội dung KTQT, nghiên cứu thực trạng kế toán chi phí, doanh thu và kết quả ở các DNKDDP ở nớc ta, từ đó đa ra phơng hớng mô hình tổ chức công tác KTQT ở các DNKDDP. 4. ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Luận văn đã trình bày và làm rõ sự cần thiết, cơ sở lý luận và thực tiễn của tổ chức công tác KTQT trong các DNKDDP. Qua việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng KTQT trong các DNKDDP, luận văn đã phân tích những vấn đề còn hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế đó và đa ra các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác KTQT trong các DNKDDP. 5. Kết cấu của luận văn. 2 Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn đợc chia thành 3 chơng, cụ thể nh sau: Chơng 1 : Lý luận chung về KTQT trong doanh nghiệp. Chơng 2 : Thực trạng và tổ chức công tác KTQT trong các DNKDDP ở Việt Nam hiện nay. Chơng 3 : Phơng hớng tổ chức công tác KTQT trong các DNKDDP ở Việt Nam hiện nay. 3 Chơng 1: lý luận chung về KTQT trong doanh nghiệp 1.1. Khái quát chung về KTQT. 1.1.1. Khái niệm: Trớc đây, ngời ta chỉ đơn thuần định nghĩa kế toán nh là một công việc giữ sổ sách của nhân viên kế toán. Năm 1941, việc các giám định viên kế toán ( Anurican Institute of Certified Public Accountants - AICPA) đã định nghĩa: " Kế toán là một nghệ thuật của việc ghi chép, phân loại và tổng hợp bằng một phơng pháp riêng và ghi bằng tiền các nghiệp vụ, sự kiện có tính chất tài chính và giải thích kết quả của nó ". Cách định nghĩa này về kế toán dù sao cũng đợc phổ biến rộng rãi. Năm 1970, tổ chức AICPA xác định chức năng của kế toán là cung cấp thông tin, nhất là thông tin về tài chính có ích để các tổ chức kinh tế thực hiện việc ra quyết định ( mỗi đơn vị kinh tế là một đơn vị hạch toán độc lập). Vậy có thể hiểu, kế toán là khoa học và nghệ thuật thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin ở doanh nghiệp mà thông tin đó có bản chất về kinh tế . Trong các doanh nghiệp, thông tin kế toán không những cần thiết cho những ngời ra quyết định quản lý bên trong đơn vị nh: Ông chủ, các nhà quản trị mà còn cần thiết cho các đối tợng bên ngoài nh: Chủ đầu t, bạn hàng, ngân hàng, cơ quan quản lý chức năng Do mục đích sử dụng thông tin của các đối t ợng khác nhau nên thông tin do kế toán cung cấp cũng đa dạng và khác nhau về nội dung, phạm vi, mức độ, tính chất và thời gian cung cấp, kể cả về mặt gía trị pháp lý của thông tin. Chính vì lý do này mà kế toán doanh nghiệp đợc chia thành KTTC và KTQT. 4 KTQT đa ra tất cả các loại thông tin kinh tế đã đợc đo lờng, xử lý và cung cấp cho nội bộ sử dụng để ra quyết định và quản lý ; KTTC đa ra những thông tin kế toán mà ngoài việc nó đợc sử dụng trong nội bộ ban quản lý, còn đ- ợc cung cấp cho các tổ chức bên ngoài. Thông tin kế toán cung cấp, về bản chất, thờng là thông tin kinh tế - tài chính định lợng và thông tin này giúp cho các nhà quản trị hoàn thành các chức năng lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra và ra quyết định. Trong môi trờng kinh doanh hiện nay, nhu cầu về thông tin trong công tác quản lý đã có sự gia tăng rất lớn và đa dạng do áp lực của những thay đổi nhanh chóng của các vấn đề nh : Toàn cầu hoá, sự cạnh tranh, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật Chính điều này và kết hợp với sự tiến bộ trình độ giáo dục, trình độ chuyên môn kế toán đã làm cho kế toán phát triển sâu rộng hơn về tính chất và đặc điểm thông tin cần phải cung cấp. Kế toán không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin mang tính nguyên tắc mà đòi hỏi phải linh hoạt, kịp thời, hữu ích. Đồng thời, thông tin kế toán cũng phải đảm bảo tính đơn giản, nhanh chóng nhằm hỗ trợ đắc lực cho nhà quản trị trong môi trờng kinh doanh mới. Đến nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về KTQT . Ta có thể hiểu thông qua một số khái niệm sau: Theo GS,TS Ronald. W. Hiton- Trờng đại học Cornelb của Mỹ: " KTQT là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong các tổ chức mà các nhà quản trị dựa vaò đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức". Theo GS, TS Jack. L. Snit.M. Krith và Wiliam. L. Stephens ở Trờng Đại học South Florida: " KTQT là một hệ thống kế toán cung cấp cho các nhà quản trị những thông tin định lợng mà họ cần để hoạch định và kiểm soát". Theo quan điểm của giáo trình KTQT - Học viện Tài chính xuất bản năm 2002: " KTQT là một khoa học thu nhận, xử lý và cụ thể, phục vụ cho các 5 nhà quản lý trong việc lập kế hoạch , tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch các hoạt động của doanh nghiệp ". Tóm lại, dù các khái niệm có khác nhau về mặt câu chữ nhng thâu tóm lại có thể hiểu, KTQT là một bộ phận của công tác kế toán nói chung, đồng thời là một công cụ không thể thiếu đợc đối với công tác quản lý nội bộ doanh nghiệp thông qua KTQT , các thông tin về hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp đợc trình bày, diễn giải một cách cụ thể, tỉ mỉ, đáp ứng yêu cầu quản lý theo từng chỉ tiêu chi tiết và quản lý từng bộ phận doanh nghiệp. KTQT là loại kế toán dành cho ngời làm công tác quản lý. Nó đợc coi nh một hệ thống trợ giúp cho các nhà quản lý và quyết định, là phơng tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong doanh nghiệp. 1.1.2. Đối tợng, mục tiêu và nhiệm vụ của KTQT. 1.1.2.1. Đối tợng của KTQT. KTQT không những đợc áp dụng cho các doanh nghiệp mà còn đợc áp dụng cả cho những tổ chức, các đoàn thể D ới đây chỉ đề cập đến đối tợng của KTQT trong các doanh nghiệp, các tổ chức hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. - KTQT không phản ánh toàn bộ đối tợng của kế toán nói chung, mà chỉ phản ánh thông tin cụ thể về từng loại tài sản, từng loại chi phí sản xuất kinh doanh hoặc từng qúa trình sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị doanh nghiệp. - KTTC phản ánh toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp, còn KTQT chỉ phản ánh từng phần hoạt động kinh tế tài chính đó. 1.1.2.2. Mục tiêu và nhiệm vụ của KTQT. Đối với KTQT, mô hình doanh nghiệp thể hiện dới dạng gắn các mục đích mà doanh nghiệp theo đuổi với các nguồn lực mà doanh nghiệp có thể huy động và với việc tiêu dùng các nguồn lực này ( thể hiện các chi phí ).Nh vậy, 6 mục tiêu của KTQT là liên kết giữa việc tiêu dùng các nguồn lực ( các chi phí ) và nhu cầu tài trợ với các nguyên nhân của việc tiêu dùng các nguồn lực đó ( các chi phí phát sinh). Mục đích mà doanh nghiệp theo đuổi có thể rất đa dạng, nh: Bán đợc một lợng hàng hoá nào đó; tôn trọng và thực hiện một thời hạn giao hàng cụ thể Để thực hiện đựơc mục tiêu này, cần phải huy động các nguồn lực vào đầu t thiết bị, dự trữ hàng tồn kho, lao động ( nhân công) nghĩa là doanh nghiệp phải đơng đầu với một nhu cầu đầu t về vốn cố định và vốn lu động. Vì vậy, một trong các nhiệm vụ của KTQT là tính toán và đa ra mô hình về nhu cầu vốn ( vốn lu động và vốn cố định) cho một loại sản phẩm một thời hạn giao hàng nào đó. Trong thực tế, KTQT phải tính toán, đo lờng giá phí, giá thành của từng loại hàng tồn kho, từng sản phẩm , lao vụ, dịch vụ, từng loại tài sản cố định cũng nh xác định chi phí theo từng địa điểm phát sinh của chi phí nhằm tăng c- ờng trách nhiệm vật chất của các bộ phận, cá nhân trong doanh nghiệp , tăng c- ờng hạch toán kinh tế nội bộ doanh nghiệp. Việc đo lờng chi phí của một hoạt động theo một mục đích nào đó là kết quả cụ thể của KTQT. Tuy nhiên, một nhiệm vụ quan trọng hơn của KTQT là phải giúp nhà quản lý có những giải pháp tác động lên các chi phí này, nghĩa là cần phải xác định nguyên nhân gây ra chi phí để có thể can thiệp, tác động vào các nghiệp vụ, các hoạt động phát sinh các chi phí. Nghĩa là cần: - Một mặt, phân tích một cách cụ thể để hiểu các chi phí đợc hình thành nh thế nào. - Mặt khác, khuyến khích những ngời, những bộ phận có khả năng tới các thành phần chi phí làm việc phù hợp với chính sách và quy định của doanh nghiệp nhằm tiết kiệm và hạ thấp chi phí một cách hợp lý nhất, đảm bảo mối quan hệ tối u giữa chi phí - khối lợng- lợi nhuận. 7 Ngoài ra, KTQT còn giúp ngời ra quyết định lựa chọn các giải pháp phù hợp khi lựa chọn phơng án kinh doanh. 1.1.3. KTQT với chức năng quản lý. Trách nhiệm của các nhà quản trị doanh nghiệp là điều hành và quản lý các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Các chức năng cơ bản của quản lý đợc khái quát bằng sơ đồ sau: Sơ đồ số 1-1: Các chức năng cơ bản của quản lý Qua sơ đồ này, có thể thấy sự liên tục của hoạt động quản lý từ khâu lập kế hoạch đến thực hiện, kiểm tra, đánh giá rồi sau đó quay lại khâu lập kế hoạch cho kỳ sau, tất cả đều xoay quanh trục ra quyết định. Nh vậy, để làm tốt chức năng quản lý, nhà quản trị phải có thông tin cần thiết để có thể ra quyết định đúng đắn. KTQT là nguồn chủ yếu, dù không phải là duy nhất, cung cấp thông tin đó. KTQT với chức năng quản lý thể hiện trong các khâu của quá trình quản lý đợc thể hiện cụ thể nh sau: 8 Lập kế hoạch Ra quyết định Kiểm tra Thực hiện Đánh giá * Lập kế hoạch : Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu phải đạt và vạch ra các bớc thực hiện để đạt đợc những mục tiêu đó. Đó có thể là kế hoạch dài hạn hoặc ngắn hạn. Để chức năng lập kế hoạch của quản lý đợc thực hiện tốt, để các kế hoạch đợc lập đảm bảo tính khoa học và tính khả thi cao đòi hỏi phải dựa trên những thông tin đầy đủ thích hợp và có cơ sở. Các thông tin này chủ yếu do KTQT cung cấp. * Tổ chức thực hiện. Với chức năng tổ chức thực hiện, nhà quản trị phải biết cách liên kết tốt nhất giữa các yếu tố, tổ chức, con ngời và các nguồn lực sao cho kế hoạch đợc thực hiện ở mức cao nhất và hiệu quả nhất. Để thực hiện tốt chức năng này, nhà quản trị cũng phải có nhu cầu rất lớn đối với các thông tin KTQT để có thể ra đ- ợc các quyết định ngắn hạn cũng nh dài hạn đúng đắn và phù hợp. * Kiểm tra và đánh giá. Nhà quản trị sau khi đã lập kế hoạch đầy đủ và hợp lý, tổ chức thực hiện kế hoạch, đòi hỏi phải kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch. Để làm đợc điều này, nhà quản trị cần đợc các kế toán viên quản trị cung cấp các báo cáo thực hiện để nhận đợc những vấn đề còn tồn tại cần có tác động của quản lý. Thông thờng, các nhà quản trị thừa hành thờng đánh giá từng phần trong phạm vi kiểm soát của họ. Các nhà quản trị cấp cao hơn không tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động hàng ngày mà đánh giá và kiểm tra dựa vào các báo cáo thực hiện của từng bộ phận thừa hành do kế toán quản trị cung cấp. * Ra quyết định. Phần lớn thông tin do KTQT cung cấp nhằm phục vụ chức năng ra quyết định của nhà quản trị. Đây là một chức năng quan trọng xuyên suốt các khâu 9 quản trị doanh nghiệp, từ khâu lập kế hoạch tổ chức thực hiện, cho đến kiểm tra và đánh giá. KTQT giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định không chỉ bằng cách cung cấp thông tin phù hợp, mà còn bằng cách vận dụng các kỹ thuật phân tích vào những tình huống khác nhau, để từ đó nhà quản trị lựa chọn, ra quyết định thích hợp nhất. 1.1.4. Phân biệt KTQT với KTTC. KTQT và KTTC là hai bộ phận của kế toán doanh nghiệp, chúng có mối quan hệ chặt chẽ, đồng thời cũng có nhiều điểm khác biệt nhau. 1.1.4.1. Sự giống nhau. KTQT và KTTC có nhiều điểm giống nhau và là hai bộ phận không thể tách rời của kế toán doanh nghiệp. Những điểm giống nhau cơ bản là: - KTQT và KTTC đều đề cập đến các sự kiện kinh tế trong doanh nghiệp. - KTQT và KTTC đều đợc ghi chép trên cơ sở các chứng từ về các nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành ở doanh nghiệp. - KTQT và KTTC đều phục vụ cho mục đích quản lý doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau. Nhà quản trị doanh nghiệp sử dụng thông tin của KTTC trong quá trình thực hiện các chức năng của mình để kiểm tra, đánh giá tổng quát về tình hình huy động, sử dụng vốn trong doanh nghiệp, hiệu quả sản xuất kinh doanh của kỳ qua, phát hiện những sai sót, những tiềm năng để có biện pháp tốt hơn trong kỳ tới; còn sử dụng thông tin KTQT để đánh giá việc thực hiện những yêu cầu quản trị kinh doanh đã đợc đề ra cụ thể ở doanh nghiệp. - KTQT và KTTC đều biểu hiện thông tin kinh tế tài chính trong mối quan hệ với trách nhiệm của nhà quản trị phạm vi. KTTC biểu hiện trách nhiệm của ngời quản lý cấp cao, còn KTQT biểu hiện trách nhiệm của ngời quản lý các cấp bên trong doanh nghiệp. 10 . về toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính ở doanh nghiệp, mà hoạt động kinh tế - tài chính này đợc hình thành từ các hoạt động kinh tế - tài chính đã phát. chứng từ hớng dẫn phản ánh các nghiệp vụ kinh tế " nội sinh" trong nội bộ doanh nghiệp. Các chứng từ này do doanh nghiệp quy định trên cơ sở

— Xem thêm —

Xem thêm: 165 Hoàn thiện mô hình kinh tế quốc tế trong các doanh nghiệp Dược phẩm, 165 Hoàn thiện mô hình kinh tế quốc tế trong các doanh nghiệp Dược phẩm, 165 Hoàn thiện mô hình kinh tế quốc tế trong các doanh nghiệp Dược phẩm

Lên đầu trang

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.15314602851868 s. Memory usage = 13.95 MB