So sánh bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992

Bạch Thanh Thanh
Bạch Thanh Thanh(8370 tài liệu)
(18 người theo dõi)
Lượt xem 537
7
Tải xuống 8,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 12 | Loại file: DOC
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 04/04/2013, 09:09

Mô tả: So sánh bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 MỤC LỤC MỞ ĐẦU Quá trình hình thành và phát triển của bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một quá trình liên tục, gắn liền với từng giai đoạn của cách mạng Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam trong từng thời kì, luôn quan tâm và chú trọng việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương. Nếu như trong thời kì của Hiến pháp 1946, Nhà nước chủ yếu là bộ máy cai trị, dùng bạo lực cách mạng để trấn áp thù trong, giặc ngoài, duy trì trật tự, an ninh trong nước. Từ Hiến pháp 1959 đến nay, Nhà nước dân chủ nhân dân đã làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và trở thành người điều hành nên sản xuất xã hội. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Nhiệm vụ cách mạng của giai đoạn mới đòi hỏi Đảng ta và nhân dân ta phải đặc biệt quan tâm và nhanh chóng xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền nhà nước…”. Xuất phát từ tầm quan trọng của công cuộc hoàn thiện bộ máy Nhà nước, nhóm chúng em đã lựa chọn nghiên scứu đề tài: “So sánh bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992.” NỘI DUNG 1. Khái quát về Bộ máy nhà nước và vị trí tính chất của bộ máy nhà nước 1.1 Khái niệm bộ máy nhà nước Bộ máy nhà nước (BMNN) là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, cơ sở; tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung nhất định tạo thành một cơ chế để thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.Cơ quan nhà nước là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo những nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu tổ chức nhất định và được giao những quyền lực nhà nước nhất định, được quy định trong các văn bản pháp luật để thực hiện một phần những nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nước. Bộ máy nhà nước được hình thành và phát triển phù hợp với quy luật phát triển chung của xã hội, các cơ quan trong bộ máy nhà nước ngày càng phong phú đa dạng và phức tạp hơn. Sự phân định chức năng, thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ngày càng rõ ràng, cụ thể hơn và các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chúng ngày càng tiến bộ hơn. Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một cơ chế cân đối và thống nhất của các hệ thống cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, được tổ chức hoạt động theo nguyên tắc chung, bảo đảm cho nhà nước ta thực hiện mọi chức năng, nhiệm vụ của mình và thực sự là cơ chế của dân, do dân và vì dân. Vấn đề cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng, nó thể hiện sức mạnh của nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa bảo đảm cho nhà nước thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình một cách có hiệu quả nhất. Những bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước là cơ quan nhà nước. 1.2 Cấu thành bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa. Về cơ bản qua thực tế cho thấy bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa bao gồm: nguyên thủ quốc gia: chủ tịch nước (hội đồng nhà nước, đoàn chủ tịch xô viết tối cao…), do quốc hội bầu là cơ quan đứng đầu nhà nước, thay mặt cho nhà nước về đối nội và đối ngoại Cơ quan quyền lực nhà nước (cơ quan đại biểu nhân dân, cơ quan dân cử) bao gồm quốc hội và hội đồng nhân dân. Các cơ quan hành chính nhà nước (cơ quan quản lí bao gồm chính phủ, hội đồng nhân dân các cấp). Các cơ quan xét xử bao gồm tòa án nhân dân tối cao, tòa án nhân dân địa phương và tòa án quân sự các cấp. Các cơ quan kiếm sát bao gồm viện kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân địa phương, viện kiểm sát quân sự các cấp. Các cơ quan quốc phòng an ninh. 1.3 Vai trò của bộ máy nhà nước Bộ máy nhà nước là cơ quan đại diện bảo vệ lợi ích cho giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức và nhân dân lao động. Nó vừa là bộ máy hành chính cưỡng chế vừa là bộ máy quản lí kinh tế, văn hóa xã hội, là công cụ chủ yếu để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Các cơ quan trong bộ máy nhà nước có vai trò quản lí mọi mặt của đời sống xã hội và làm cho xã hội ngày càng phát triển hoàn thiện. 2. So sánh Bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 2.1. Về phân cấp hành chính và số lượng các cơ quan a. Về tổ chức, phân cấp hành chính Theo điều 113 Hiến pháp 1980 và Điều 118 Hiến pháp 1992 đơn vị hành chính của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: • Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc TW và đơn vị hành chính tương đương. • Tỉnh chia thành huyện, thành phố trực thộc tỉnh và thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh chia thành quận huyện xã. • Huyện chia thành xã và thị trấn; thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã. • Các đơn vị hành chính kể trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và UBND Hiến pháp 1980 thực hiện tổ cức bộ máy nhà nước theo hướng chia nhỏ các bộ, ngành cho phù hợp với chủ trương hoạt động chuyên sâu của các cơ quan quản lý. Ở cấp địa phương, hiến pháp 1980 lại tổ chức theo hướng sáp nhập các đơn vị hành chính lại để củng cố với quy mô lớn hơn( nhập tỉnh)(Bắc Thái, Nam Hà, Hà Bắc…).Bên cạnh đó ở ở Hiến pháp 1980 còn bãi bỏ các khu tự trị; đổi tên gọi ủy ban hành chính bằng ủy ban nhân dân. Hiến pháp 1992 lại có sự chia nhỏ đơn vị hành chính sự chia tách đã diễn ra như (Vĩnh Phú thành Phú Thọ và Vĩnh Phúc; Bắc Thái thành Bắc Giang và Thái Nguyên .). b. Về số lượng các cơ quan So với Hiến pháp 1980 tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến Pháp 1992 có sự thay đổi theo hướng luật định. Như cơ cấu tổ chức của Chính phủ bao gồm các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan của Chính phủ do Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, sáp nhập theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ trong hiến pháp 1980 bằng.Còn cơ cấu tổ chức của Chính phủ bao 2 gồm các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan của Chính phủ do Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, sáp nhập theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ. Như vậy bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1992 có sự thay đổi theo hướng gọn nhẹ hơn và đề cao trách nhiệm cá nhân hơn trên tinh thần tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan. Số lương bộ, sở, phòng, ban giảm đi đáng kể cũng như nhiều chức vụ được thay đổi hoặc bãi bỏ: Như trong chính phủ tù 1982-1987. Trong hội đồng bộ trưởng có tới 1 chủ tịch và 17 phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng và có tới 80 thành viên của chính phủ khác, ở mỗi bộ ngành lại có nhiều bộ trưởng thay phiên nhau giữ chức. Còn với nhiệm kỳ chính phủ 2007 - 2011 chỉ có 1 thủ tướng chính phủ và 5 phó thủ tướng, cùng 20 bộ trưởng và thủ trưởng các cơ quan ngang bộ khác. 2.2 Hệ thống cơ quan đai diện Theo Hiến pháp 1980 gồm có: Quốc hội, Hội đồng nhà nước và hội đồng nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã và cấp tương đương) Hệ thống cơ quan đại diện theo Hiến pháp 1992 gồm có: Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã và cấp tương đương). Hệ thống cơ quan này theo Hiến pháp 80 và 92 đều được hình thành bằng con đường bầu cử - do nhân dân trực tiếp bầu ra theo bốn nguyên tắc: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và kín. a. Về Quốc hội Hiến pháp năm 1980 đã có những quy định đầy đủ về vị trí, tính chất, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội nói riêng và cơ quan dân cử nói chung. Nếu theo hiến pháp 1959, Ủy ban thường vụ là cơ quan thường trực của Quốc hội thì theo Hiến pháp 1980, cơ quan thường trực của Quốc hội là Hội đồng Nhà nước. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội theo Hiến pháp năm 1980 về cơ bản không thay đổi so với Hiến pháp 1959, tiếp tục khẳng định vị trí tối cao của cơ quan quyền lực cao nhất. Theo Hiến pháp 1980, Quốc hội nước ta thống nhất về quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng như quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Trong Hiến pháp năm 1980, một chế định mới được thiết lập đó là Hội đồng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cơ quan này vừa thực hiện chức năng của Ủy ban thường vụ Quốc hội, vừa thực hiện chức năng của chủ tịch nước. Hiến pháp năm 1992 tiếp tục xác định tính chất của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 83). Mọi quyền lực nhà nước đều tập trung vào Quốc hội. Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội được quy định tập trung trong 14 điểm tại Điều 84 Hiến pháp 1992, theo đó Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của công dân; Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Quốc hội còn có thểm một số nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể như quyết định chương trình xây dựng luật và pháp lệnh…Tuy nhiên, hiến pháp 1992 đã bỏ quy định: “Quốc hội có thể định cho mình những nhiệm vụ và quyền hạn khác khi xét thấy cần thiết” ghi nhận trong các bản Hiến pháp trước đây (bao gồm Hiến pháp 1980) để tránh hiểu lầm Quốc hội hoạt động ngoài khuôn khổ Hiến pháp. 3 Cơ cấu tổ chức Quốc hội có những thay đổi, trước hết là việc thành lập lại Ủy ban thường vụ Quốc hội. Theo Hiến pháp năm 1980 thì chế định thường trực của Quốc hội được kết hợp với chế định nguyên thủ quốc gia trong một cơ quan là Hội đồng nhà nước. Hội đồng nhà nước vừa là cơ quan hoạt động thường xuyên của Quốc hội, vừa là chủ tịch tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực tiễn cho thấy cách tổ chức này có nhiều điểm không phù hợp mà hạn chế lớn nhất là đã không phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thường trực của Quốc hội và nguyên thủ quốc gia. Việc lập lại Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước là nhằm mục đích đề cao vai trò trách nhiệm của người đứng đầu Nhà nước cũng như của tập thể thay mặt cho Quốc hội giữa hai kỳ họp. Theo Điều 90 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội”. Ủy ban thường vụ Quốc hội do Quốc hội bầu ra, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Số thành viên của Ủy ban thường vụ Quốc hội là do Quốc hội quyết định và các thành viên này không thể đồng thời là thành viên của Chính phủ. Chủ tịch Quốc hội và Phó Chủ tịch Quốc hội đồng thời là Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội. Một số thành viên của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội làm việc theo chế độ chuyên trách. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội được quy định tại điều 91 Hiến pháp năm 1992. Đó là những nhiệm vụ, quyền hạn đặc trưng của cơ quan thường vụ, thường trực. Bên cạnh đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội còn thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn được Quốc hội giao cho trong lĩnh vực lập pháp, hành chính nhà nước, giám sát và vì thế có những mối quan hệ phân công và phối hợp với các cơ quan nhà nước cao cấp khác (Chủ tịch nước, Chính phủ…) Ngoài ra, theo quy định của Hiến pháp 1992, UBTVQH các Khóa IX, X, XI và XII đã có sự thay đổi về số lượng và điều kiện làm việc. Số thành viên của UBTVQH đã được nâng lên hoặc có dao động. Số thành viên của UBTVQH Khóa XII tăng lên 18 người. Nếu như ở những khóa trước đây, các Ủy viên UBTVQH (hoặc Hội đồng Nhà nước) hầu hết hoạt động kiêm nhiệm, thì Chủ tịch QH, các Phó chủ tịch QH và các Ủy viên UBTVQH, theo Hiến pháp 1992 đều hoạt động chuyên trách. Đây là điều kiện thuận lợi để UBTVQH thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đối với các cơ quan khác của Quốc hội, Hiến pháp năm 1992 cơ bản vẫn giữ nguyên quy định về việc thành lập Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội và về cơ quan, không có gì thay đổi lớn so với Hiến pháp năm 1980. Nhiệm vụ của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội được tăng cường, vai trò được đề cao. Trong cơ cấu tổ chức của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội có điểm mới là việc quy định số đại biểu Quốc hội chuyên trách là thành viên của các cơ quan này. Đây là những quy định mới nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Các Hội đồng và Ủy ban thường trực của Quốc hội cũng có thay đổi. Hội đồng và Ủy ban là những cơ quan của Quốc hội có nhiệm vụ giúp Quốc hội trong việc thẩm tra các dự án luật, các kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác; thẩm tra các báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội giao… Thêm vào đó, Hiến pháp năm 1992 quy định rõ ràng hơn về nhiệm vụ, quyền hạn, đề cao vai trò của đại biểu Quốc hội nhằm nâng cao năng lực hoạt động của đại biểu Quốc hội nói riêng của của Quốc hội nói chung. Điều này giúp cho QH thực sự đại diện cho khối đại đoàn kết dân tộc, bảo đảm tính đại diện tiêu biểu của các tầng lớp nhân dân, của các cơ quan 4 nhà nước, cơ quan Đảng, đoàn thể, đại biểu của các lực lượng vũ trang nhân dân, các ngành, lĩnh vực, các địa phương. Cơ cấu, thành phần ĐBQH theo Hiến pháp 1992 tương đối đạt yêu cầu theo dự kiến. ĐBQH là phụ nữ đạt tỷ lệ cao hơn. Số đại biểu là người dân tộc thiểu số, đại biểu trẻ tuổi và người ngoài Đảng cũng đạt tỷ lệ tương đối so với dự kiến. Hầu hết ĐBQH trẻ tuổi có trình độ đại học, trên đại học. Cơ cấu ĐBQH đã có những thay đổi khá toàn diện so với trước đây. b. Về hội đồng nhân dân Hội đồng nhân dân (HĐND) là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, là cơ quan đại diện cho nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra. Về tổ chức HĐND theo Hiến pháp 1992 cũng có một số thay đổi. Theo Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, thường trực HĐND được thành lập ở cả ba cấp tỉnh cấp huyện và cấp xã (gồm chủ tịch, phó chủ tịch HĐND). Thành viên của thường trực HĐND phải là đại biểu của HĐND và không đồng thời là thành viên của UBND cùng cấp. Nhiệm kì của thường trực HĐND theo nhiệm kì của Quốc hội. Các ban chuyên môn của HĐND được thành lập nhằm đảm bảo hoạt động tập thể. Theo quy định, các ban chuyên môn của HĐND chỉ được thành lập ở 2 cấp: cấp tỉnh và cấp huyện. Còn HĐND cấp xã (phường) không có ban chuyên môn. HĐND cấp tỉnh được thành lập 3 ban bao gồm: ban kinh tế, ngân sách; ban văn hóa xã hội; ban pháp chế (có thể thành lập thêm ban dân tộc). HĐND cấp huyện được thành lập 2 ban: ban kinh tế và ban pháp chế. Các ban được thành lập tại kì họp thứ nhất của HĐND và thành viên của các ban phải là thành viên của HĐND; không đồng thời là thành viên của UBND cùng cấp. 2.3Hệ thống cơ quan hành chính Hiến pháp năm 1980 Hiến pháp năm 1992 Chính phủ Khái quát sự ra đời và phát triển của chính phủ nước cộng hòa XHC N Việt Nam. Sau chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, nước nhà thống nhất, tình hình mọi mặt của đời sống xã hội có nhiều biến đổi, đứng trước yêu cầu tăng cường hiệu lực quản lí của Bộ máy nhà nước trong đó đặc biệt quan tâm đến hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức Hội đồng bộ trưởng ngày 4/7/1981 đã khẳng định: Hội đồng bộ trưởng là cơ quan chấp hành và hành chính của Quốc hội – quy định này chi phối đến việc xác định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền Hiến pháp 1992 ra đời, với nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và những kinh nghiệm tích lũy được trong thực tiễn tổ chức quyền lực nhà nước, bộ máy nhà nước đã có những cải cách phù hợp, đặc biệt là hệ thống cơ quan quản lý nhà nước. Hội đồng bộ trưởng được đổi tên thành Chính phủ, quy định tại Chương VIII Hiến pháp năm 1992 và cụ thể hóa trong Luật tổ chức Chính phủ 30/9/1992. Sau 10 năm thực hiện, Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi năm 2001, trong đó những quy định tại các điều 112, 114, 116 về Chính phủ đã được sửa đổi, bổ sung. Đây là cơ sở cho Quốc hội khóa X, kì họp thứ 10 thông qua Luật tổ chức chính phủ ngày 25/12/2001. 5 hạn, trật tự hình thành và chế độ chịu trách nhiệm của Hội đồng bộ trưởng trong bộ máy nhà nước. Vị trí, tính chất và chức năng nhiệm vụ quyền hạn. Theo Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức Hội đồng bộ trưởng năm 1981: “Hội đồng bộ trưởng là chính phủ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan chấp hành và là cơ quan hành chính cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” (Điều 104). Hội đồng bộ trưởng chỉ được xác định là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Quốc hội. Điều đó thể hiện sự khác biệt so với những quy định về Chính phủ trong Hiến pháp năm 1926 và năm 1959. Thành viên của Hội đồng bộ trưởng đều do Quốc hội bầu, bãi nhiệm và miễn nhiệm. Hội đồng bộ trưởng không chỉ chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội mà trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhà nước. Hiến pháp năm 1992 đổi tên Hội đồng bộ trưởng thành Chính phủ và xác định lại vị trí của Chính phủ: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam” (Điều 109). Khẳng định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội nhưng là cơ quan hành chính nàh nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam nhằm chỉ rõ tính chất của chính phủ và mối quan hệ giữa Chính phủ và Quốc hội. Chính phủ do Quốc hội thành lập ra, nhiệm kì theo nhiệm kì của Quốc hội, khi Quốc hội hết nhiệm kì thì chính phủ tiếp tục hoạt động đến khi bầu ra chính phủ mới. Thành viên của Chính phủ có thể bị Quốc hội bãi nhiệm, miễn nhiệm và cách chức theo qui định của pháp luật. Với thẩm quyền của cơ quan có thẩm quyền cao nhất, Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước như kế hoạch, ngân sách, các loại thuế, ban hành Hiến pháp và luật…Để triển khai được các nghị quyết đó, chính phủ phải tổ chức thực hiện triển khai có hiệu quả. Trên cơ sở cụ thể hóa bằng các văn bản dưới luật, chính phủ đề ra biện pháp thích hợp, phân công, chỉ đạo thực hiện các văn bản đó trên thực tế. Tuy nhiên, Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của nhà nước CHXHCN Việt Nam, đây là quan điểm có sự đổi mới so với Hiến pháp năm 1980, nhằm đề cao vị trí của Chính phủ trong hoạt động quản lý nhà nước. Cơ cấu tổ chức Hiến pháp 1980 quy định Hội đồng bộ trưởng gồm có: Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, các bộ trưởng và chủ nhiệm ủy ban Hiến pháp 1992 qui định cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm có bộ và cơ quan ngang bộ. Trên cơ sở quy định Hiến pháp năm 1992 và luật tổ chức Chính phủ 2001, tại 6 của Chính phủ nhà nước. Tại kì họp thứ nhất Quốc hội khóa VII đã thành lập 28 bộ và 8 ủy ban nhà nước kì họp thứ nhất Quốc hội khóa XI bầu ra Thủ tướng, bổ nhiệm 3 Phó thủ tướng, thành lập 20 bộ và 6 cơ quan ngang bộ. Thủ tướng chính phủ do Quốc hội bầu, bãi nhiệm và miễn nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước. Thủ tướng trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và từ chức đối với Phó thủ tướng, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Ủy ban nhân dân UBND cùng được thành lập ở 3 cấp; tỉnh, huyện, xã nhưng có sự thay đổi nhất định giưa hp 1980 và hp 1992 Nhiệm vụ, quyền hạn của chủ tịch UBND trong quuy định của hp 1992: vai trò được đề cao hơn, có niều quyền hơn. một số nhiệm vụ, quyền hạn của chủ tịchUBND được chuyển giao cho thường trực HĐND, điều hoà phối hợp hoạt động của các ban thuộc HĐND… Cơ cấu tổ chức của UBND theo hp 1992: gon nhẹ hơn. Không có thường trực UBND, số lượng các sở, phòng, ban, ngành cũng giảm đáng kể so với hp 1980. 2.4. Chủ tịch nước Chế định nguyên thủ quốc gia là cá nhân trong Hiến pháp năm 1959 đã trở thành nguyên thủ quốc gia tập thể dưới hình thức Hội đồng Nhà nước trong Hiến pháp 1980. Hội đồng nhà nước là Chủ tịch nước tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là mô hình tổ chức nguyên thủ quốc gia chung của các nhà nước xã hội chủ nghĩa mà ở đó nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa được vận dụng đậm nét. Với cách tổ chức này thì các hoạt động của Nhà nước đều được trực tiếp thực hiện bằng cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất… Bản thân Chính phủ (hội đồng bộ trưởng) cũng được tổ chức gắn liền với Quốc hội. (Hội đồng bộ trưởng là cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất). Đối với nước ta, đến đây có thể coi là hoàn thành quá trình xây dựng bộ máy nhà nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa thuần túy. Đó là sự phát triển logic. Tuy nhiên quá trình thực hiên thể chế Hội đồng nhà nước đã bộc lộ nhiều hạn chế. Bên cạnh một số tiện lợi như các vấn đề thuộc quyền hạn nguyên thủ quốc gia đều được phối kểt hợp giữa Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, được thảo luận tập thể, quyết định theo đa số thường chắc chắn và tránh được những ngẫu nhiên: bộ máy gọn nhẹ hơn và đơn giản các thủ tục làm việc, thì cũng có những điểm khiếm khuyết như: mọi vấn đề phải bàn bạc tập thể và quyết định theo đa số; không phận định rõ hoạt động tập thể của cơ quan thường trực của Quốc hội và chức trách cá nhân trong việc thực hiện các hoạt động đại diện Nhà nước… Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải tổ chức lại chế định này và đã được sửa đổi tại Hiến pháp 1992 Theo Hiến pháp 1992, thiết chế chủ tịch nước được xây dựng lại. Mô hình lần này vừa tiếp thu những ưu điểm của mô hình Chủ tịch nước của Hiến pháp 1959 và 1946, vừa giữ được sự gắn bó giữa Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước trong việc 7 thực hiện các chức năng nguyên thủ quốc gia trong thể chế Hội đồng Nhà nước. Đồng thời có thêm những điểm mới. Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Ủy ban thường vụ quốc hội, các vấn đề mà Quốc hội trao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội giải quyết giữa hai kì họp cần phải có sự thông qua của Chủ tịch nước. Chủ tịch nước được bổ sung một số quyền hạn mới như: quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh, quyền đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; bổ nhiệm thẩm phán các cấp và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Chủ tịch nước lần này cũng không bổ nhiệm Thủ tướng và Thủ tướng không chịu trách nhiệm trước Chủ tịch nước. Tóm lại, sự đổi mới tổ chức chế định Chủ tịch nước nói riêng và bộ máy nhà nước nói chung trong Hiến pháp 1992 thể hiện quan điểm cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng đề ra.s 2.5. Hệ thống cơ quan xét xử Giống nhau: Hệ thống cơ quan toà án được đều được thành lập theo 3 cấp: trung ương, địa phương, huyện. Khác nhau: Trong tổ và hoạt động của toà án có sự thay đổi như sau: Tiêu chí so sánh Hiến pháp năm 1980. Hiến pháp năm 1992. Hệ thống cơ quan toà án Gồm toà hình sự và toà dân sự. Ngoài 2 toà hình sự và dân sự thì có thêm toà kinh tế, toà hành chính, toà lao động. 2. Chế độ bầu cử thẩm phán - Bầu - Bổ nhiệm. 3. Tiêu chuẩn của thẩm phán. - Đòi hỏi phải cao hơn. 4. Công tác thi hành án dân sự. - Chuyển giao cho hội đồng bộ trưởng ( Bộ tư pháp). - Được chuyển giao cho cơ quan thuộc Chính phủ. Nguyên nhân của sự khác nhau đó: - Do điều kiện, hoàn cảnh của đất nước nên phải thay đổi cơ cấu cho phù hợp. - Do sự thay đổi của cấp hành chính đấn đến sự phân cấp xét sử cũng có sự thay đổi theo. - Do yêu cầu của việc xét sử theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường yêu cầu xét sử cao hơn để đáp ứng yêu cầu mới nên tổ chức cơ cấu của hệ thống cơ quan xét xử phải thay đổi. 2.6. Hệ thống cơ quan kiểm sát  Điểm giống: Trong hai bản Hiến pháp hệ thống cơ quan kiểm sát đều được thành lập ở 3 cấp: VKSND tối cao, VKSND tỉnh, VKSND huyện với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các viện kiểm sát về cơ bản giống nhau: “Viện Kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm 8 chỉnh và thống nhất. Các Viện Kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện Kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình” (Điều 138 Hiến pháp 1980) “Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm do luật định” (Điều 137 Hiến pháp 1992).(1).  Điểm khác: Tuy hệ thống cơ quan kiểm sát được quy định trong Hiến pháp 1992 về cơ bản không thay đổi so với Hiến pháp 1980 nhưng tập trung hơn vào chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp (không kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính-kinh tế. Mối quan hệ giữa viện trưởng với tập thể ủy ban kiểm sát được điều chỉnh lại để kết hợp giữa tính sáng tạo của tập thể và vai trò cá nhân của viện trưởng: Điều 138 Hiến pháp 1992: “Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Việc thành lập Uỷ ban kiểm sát, những vấn đề Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có quyền quyết định, những vấn đề quan trọng mà Uỷ ban kiểm sát phải thảo luận và quyết định theo đa số do luật định. Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự các quân khu và khu vực do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức” Quan hệ giữa viện trưởng và hội đồng nhân dân cùng cấp cũng được điều chỉnh lại: đặt viện trưởng dưới sự giám sát của hội đồng nhân dân cùng cấp: Điều 140 Hiếp pháp 1992: “Viện trưởng các Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân” Trong khi Hiến pháp 1980 quy định: viện trưởng đặt dưới sự quy định của Quốc hội. “Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng Nhà nước” (Điều 141 Hiến pháp 1980). 3. Đánh giá điểm kế thừa và thay đổi của Hiến pháp 1992 Xuất phát từ những yêu cầu của thời kì đổi mới, Quốc hội đã quyết định sửa đổi hiên pháp 1980 để ban hành một hiến pháp mới là hiến pháp 1992. Hiến pháp năm 1992 đã có nhiều quy định về đổi mới bộ máy nhà nước, về nguyên tắc hoạt động cũng như mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước, nhằm hoàn thiện và phát huy hiệu quả hoạt động của nhà nước Việt Nam trong thời kì đổi mới. 9 Trong hiến pháp 92, bộ máy nhà nước lại một lần nữa được củng cố lại. Việc phân cấp quản lí hành chính nhà nước cũng giống như hiến pháp năm 80 đã quy đinh: gồm 4 cấp (trung ương; tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương; huyện, quận và tương đương; xã, phường và tương đương) nhưng xu hướng tách rời các đơn vị hành chính lớn thành các đơn vị hành chính nhỏ hơn cho phù hợp với trình độ quản lí và điểu kiện địa lí… Bộ máy nhà nước theo hiến pháp 92 gồm 4 hệ thống: hệ thống cơ quan đại diện, hệ thống cơ quạn chấp hành, hệ thống cơ quan tòa án, hệ thống cơ quan viện kiểm sát. Tuy nhiên, bộ máy nhà nước theo quy định của Hiến pháp 1992 cũng đã có nhiều thay đổi so với Hiến pháp 1980. Uỷ ban thường vụ Quốc hội được thành lập, chế độ chủ tịch tập thể được bãi bỏ và thay thế là chế định chủ tịch nước; chính phủ được quy định là cơ quan chấp hành của Quốc hội và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhưng nhìn chung về cơ bản vẫn giữ nguyên khung như Hiến pháp 1980. BMNN ở hiến pháp 1992 đã kế thừa được những mặt tích cực mà bộ máy nhà nước ở hiến pháp 1980 có được, đó là sự gắn bó giữa Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội với chủ tịch nước trong thực hiện chức năng nguyên thủ Quốc gia. Hiến pháp 1992 còn là sự phát triển, thể hiện sự đổi mới mang tính tiến bộ. Cụ thể: Hiến pháp 1992 đã tách chủ tịch nước thành một thiết chế riêng chứ không phải là một cơ cấu nằm trong Quốc hội như hiến pháp 1980. Ngoài ra chủ tịch nước còn bổ sung thêm một số quyền hạn mới như: quyền đề nghị xem xét lại một số pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về các vấn đề quy định tại các điểm 8, 9 của điều 91 Hiến pháp 1992…Sự đổi mới đó quán triệt nguyên tắc: Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền hành pháp, tư pháp, lập pháp. Có thể thấy rằng những nguyên tắc cơ bản cũng như mô hình cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước theo quy định hiến pháp 1992 là phù hợp. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu và phù hợp với tình hình mới, hiến pháp năm 1992 cũng đã kịp thời được những bổ sung, sửa đổi những điều cần thiết, mà chủ yếu là điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quan trọng trọng bộ máy nhà nước. Những sửa đổi bổ sung này cho thấy Đẳng và nhà nước ta luôn luôn có tư tưởng và ý thức đổi mới, không bảo thủ nhưng cũng không cực đoan tởi mức phủ định những gì hợp lí, hiệu quả đã được thực tế chứng minh. Như vậy, nhưng thay đổi của hiến pháp 1992 là một bước cải cách lớn về tổ chức bộ máy nhà nước, giảm thiểu được những hạn chế của bộ máy nhà nước theo mô hình của hiến pháp 1980. Thể hiện được một cách rõ nét hơn vai trò cá nhân của những người đứng đầu cơ quan nhà nước, làm tăng vai trò quản lí điều hành của bộ máy nhà nước, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh công cuộc đổi mới như hiện nay vì nhiều vấn đề được quyết định nhanh chóng, có thể tận dụng các điều kiện và cơ hội có lợi cho sự phát triển của đất nước. Tóm lại, vấn đề tổ chức bộ máy nhà nước là vấn đề cơ bản và phức tạp của mọi quốc gia. Những vấn đề hôm nay là phu hợp thì ngày mai có thể cần thay đổi. Vì vậy những sửa đổi của hiến pháp 1992 có thể là cần thiết nhưng chắc chắn chưa phải là cuối cùng. Lý luận và thực tiễn bộ máy nhà nước ở Việt nam đang là vấn đề thời sự thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà quản lí. Với ý thức không ngừng đổi mới, chắc chắn tổ chức bộ mày nhà nước Việt Nam sẽ ngày càng hoàn thiện hơn. 4. Nguyên nhân của sự thay đổi về bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1980 và hiến pháp 1992 10 . về Bộ máy nhà nước và vị trí tính chất của bộ máy nhà nước 1.1 Khái niệm bộ máy nhà nước Bộ máy nhà nước (BMNN) là hệ thống các cơ quan nhà nước. cuộc hoàn thiện bộ máy Nhà nước, nhóm chúng em đã lựa chọn nghiên scứu đề tài: So sánh bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992. ” NỘI DUNG

— Xem thêm —

Xem thêm: So sánh bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992, So sánh bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992, So sánh bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992

Lên đầu trang

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.082955121994 s. Memory usage = 14.03 MB