Hàng rào phi thuế quan ở VN

nguyễn thị kim chung
nguyễn thị kim chung(3527 tài liệu)
(99 người theo dõi)
Lượt xem 440
9
Tải xuống 8,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 32 | Loại file: DOC
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 17/08/2012, 07:20

Mô tả: Hàng rào phi thuế quan ở VN Mục lụcTrangLời mở đầu .2Chơng I: Tổng quan về hàng rào phi thuế quan (NTBs) ở Việt Nam .41. Những hàng rào phi thuế quan hiện đang đợc áp dụng ở Việt Nam 42. Những mục tiêu dự kiến của các hàng rào phi thuế quan .163. Mâu thuẫn giữa hàng rào phi thuế quan với các qui định khác .20Chơng II: Những hạn chế của hàng rào phi thuế quan ở Việt Nam .23I. Biến động giá cả .232. Lãng phí trong nhập khẩu 233. Năng suất và chất lợng giảm sút .244. Tăng chi phí .245. Những doanh nghiệp t nhân nhỏ chịu thiệt thòi .25Chơng III. Thuế quan hoá - Một giải pháp tích cực nhằm dỡ bỏ NTBs 281. Ưu điểm của thuế quan 282. Vì sao hệ thống thuế quan tốt hơn nhiều nhng Việt Nam vẫn sử dụng NTBs .303. Làm thế nào để chuyển NTBs sang hệ thống thuế quan 31Lời kết .38Danh mục Tài liệu tham khảo .391Lời nói đầuừ năm 1986 Đảng và nhà nớc ta đã thực hiện quản lý quá trình chuyển đổi từ từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung tơng đối đóng sang một nền kinh tế với th-ơng mại mở cửa và các quy luật thị trờng , định hớng sự vận động của các nguồn lực trong nền kinh tế. Tự do hoá thơng mại là một đặc trng chủ yếu của quá trình chuyển đổi này. Từ đó đến nay, hoà vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế, tự do hoá thơng mại, Việt Nam ,theo phơng châm đa dạng hoá và đa phơng hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại, trên nguyên tắc tôn trọng độc lập ,chủ quyền ,các bên cùng có lợi, đã có quan hệ buôn bán với 165 nớc trên thế giới, ký hiệp định thơng mại song phơng với 72 nớc (trong đó có Hoa Kỳ), trở thành thành viên của các tổ chức khu vực và thế giới nh IMF, WB, ADB ( 1992), ASEAN (1995) APEC (1998) , AFTA . và đang tiến hành đàm phán gia nhập tổ chức thơng mại thế giới (WTO).Trong quá tình hội nhập đó, sự tồn tại dai dẳng các hàng rào phi thuế quan là một trở ngại lớn đối với Việt Nam bởi vì một trong những điều kiện tiên quyết đảm bảo cho Việt Nam hội nhập hoàn toàn vào xu hớng tự do hoá thơng mại là cắt giảm tiến tới xoá bỏ các hàng rào phi thuế quan này. Vì vậy việc xem xét các hàng rào phi thuế quan đang đợc áp dụng taị Việt Nam, nghiên cứu những hạn chế của chúng cũng nh đa ra giải pháp nhằm dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan này là một yêu cấp cấp thiết đối với chúng ta hiện nay trong quá trình thực hiện các chơng trình hội nhập kinh tế lớn nh: Thực hiện CEPT/ AFTA, hiệp định thơng mại Việt-Mỹ và gia nhập WTO. Đó cũng là những vấn đề mà em muốn đề cặp trong phạm vi tiểu luận này.2TTiểu luận gồm ba chơng:Chơng I: Tổng quan về hàng rào phi thuế quan (NTB) ở Việt Nam.Chơng II: Những mặt hạn chế của các hàng rào phi thuế quan ở Việt NamChơng III: Thuế quan hoá - một biện pháp tích cực nhằm dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan Em xin chân thành cảm ơn thạc sĩ Nguyễn Quang Minh giảng viên môn Quan hệ kinh tế quốc tế - ngời đã nhiệt tình ủng hộ và giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành tiểu luận này. Vì thời gian và trình độ có hạn nên tiểu luận không tránh khỏi sai sót. Mong đ-ợc sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để tiểu luận đợc hoàn chỉnh hơnHà Nội tháng 4 _ 2001Sinh viên thực hiệnBùi Mạnh Tuân3Chơng I : Tổng quan về hàng rào phi thuế quan ở Việt NamCác hàng rào phi thuế quan (NTBs) vẫn còn là một điểm nổi bật trong chính sách thơng mại ở Việt Nam. Các hạn chế về số lợng hoặc các chỉ tiêu phân bổ ngoại tệ và nhiều biện pháp hành chính khác nhau đợc áp dụng để kiểm soát, quản lý và hạn chế nhập khảu một số chủng loại hàng hoá. Sự tồn tại dai dẳng của những hàng rào phi thuế quan này trái ngợc với những biện pháp mà chính phủ thực hiện nhằm cải thiện chất lợng của chế độ thơng mại. Các hạn chế về số lợng là các hàng rào thơng mại ở trình độ thấp. Tác động của nó không đợc minh bạch, thu nhập hay lợi tô sẽ rơi vào ngời nắm giữ hạn ngạch u đãi , mức độ bảo hộ không hiển thị rõ ràng và sự cách ly khỏi sức ép của thị trờng có thể ở mức tuyệt đối. Do mức độ bảo hộ là không rõ ràng nên rất khó xây dựng đợc chơng trình tự do hoá thơng mại. Bảo hộ dựa trên thuế quan là xuất phát điểm cho một chờng trình tự do hoá và một cơ chế giảm bớt sự bảo hộ theo phơng thức tiến hành từng bớc và dễ nhận biết. Mặc dù những lợi thế của hệ thống thuế quan là rõ ràng song hàng rào phi thuế quan vẫn tiếp tục đợc sử dụng ở Việt Nam, có lẽ bởi vì ngời ta cho rằng hàng rào phi thuế quan có thể giúp đạt đợc những mục tiêu mà hệ thống thuế quan không có khả năng thực hiện đợc . Một đặc điểm hàng rào phi thuế quan ở Việt Nam là chúng đôi khi đợc áp dụng cho nhiều mục tiêu. Bớc đầu tiên việc thiết kế một chiến lợc để bãi bỏ dần hay rỡ bỏ hàng rào phi thuế quan là xác định các biện pháp hiện đang đợc áp dụng và những mục tiêu cơ bản mà những biện pháp này cần đạt đợc. Đây chính là mục đích của chơng này.1. Những hàng rào phi thuế quan hiện đang đợc áp dụng ở Việt NamBảng 1 tóm lợc một loạt các hàng rào phi thuế quan đợc áp dụng ở Việt Nam. Bảng này đợc dựa trên nghiên cứu về các biện pháp phi thuế quan (trong 4đó hàng rào phi thuế quan là bộ phận ) do McCarty tiến hành năm 1999 nhằm phục vụ cho văn phòng Chính phủ. Nghiên cứu này phân loại các biên pháp dựa theo phân loại các biện pháp kiểm soát thơng mại của hội nghị liên hợp quốc về mậu dịch và phát triển (UNCTAD). Bảng 1: Dựa trên định nghĩa trong đó hàng rào phi thuế quan là các hành động của chính phủ (thông qua luật hoặc biện pháp hành chính) có tác dụng làm thay đổi các khuyến khích đối với sản xuất hoặc tiêu thụ hàng hoá có thể thơng mại ( hoặc ngoại thơng ) đợc . Tất cả các hàng rào phi thuế quan đợc liệt kê trong bảng 1 tạo ra sự bất đồng về thơng mại giữa Việt Nam và các nớc khác, tuy nhiên hạn chế về số l-ợng (QRs) đối với hàng hoá nhập khẩu ( và các biện pháp khác nh quá trình phân bổ và cấp giấy phép nhập khẩu hỗ trợ cho hệ thống hạn chế về số lợng) và các biện pháp về phân bổ ngoại tệ có lẽ là những rào cản thơng mại lớn nhất. Các hạn chế về số lợng (QRs) Có thể phân chia các sản phẩm chịu hạn chế về số lợng ra thành 3 nhóm chính:-Hàng hoá nhập khẩu có điều kiện bao gồm:+Những hàng hoá nêu trong Nghị định 57/1998/NĐCP là những hàng hoá phải có giấy phép nhập khẩu và nhập khẩu có điều kiện.+Các sản phẩm bổ sung theo qui định của Quyết định 254/1998/QĐ-TTg-Hàng hoá chịu sự quản lí chuyên ngành của các bộ chủ quản.-Hàng hóa bị cấm nhập khẩu và xuất khẩu. Phạm vi ảnh hởng của các hạn chế về số lợng (QRs) QRs đợc xác định theo mức phân loại sản phẩm tơng đối cụ thể. Các số liệu về sản xuất và nhập khẩu ở Việt Nam thờng đợc đa ra ở mức gộp kiến cho các ớc tính phạm vi ảnh hởng cuả NTPs ( tính theo tỷ lệ sản xuất hay nhạp khẩu của các mặt hàng chịu ảnh hởng) gặp khó khăn. Tuy nhiên số liệu quốc gia về 5nhập khẩu và bảng cân đối liên ngành mới nhất có thể dùng làm cơ sở để ớc tính phạm vi ảnh hởng của NTPs.Biểu 1.2 : Phạm vi nhập khẩu bị hạn chế về số lợng(Nguồn : IEDB, tính toán của CIE) Biểu đồ 1.2 cho thấy xấp xỉ 40 % hàng hoá nhập khẩu phải chịu hạn chế về số lợng . Những con số này dựa trên cơ cấu nhập khẩu năm 1996, còn quy định về nhập khẩu lại là của năm 1999. Phần lớn số hàng hoá nhập khẩu thuộc danh mục hàng hoá quy định trong Nghị định 57 và thuộc dạng nhập khẩu có điều kiện ( hoặc cấm nhập trong trờng hợp thuốc lá điếu mặc dù vào năm 1996 , một khối lợng đáng kể thuốc lá điếu đã đợc nhập). Quyết định 254 vào năm 1999 đã mở rộng phạm vi ảnh hởng thêm 5 %. Quản lý chuyên ngành ảnh hởng đến 13 % tổng nhập khẩu. Tuy nhiên con số ớc tính này nhiều khả năng có sai số tơng đối lớn. Các hạn chế về số lợng gây ra những méo mó thơng mại khi áp dụng đối với nhập khẩu một số loại hàng hoá . Bởi vậy nên những ớc tính về phạm vi ảnh hởng của hàng rào phi thuế quan thờng bị thấp hơn giá trị thực sự nếu nh 6C á c S P t h e oN D 5 71 9 %C á c S P t h e oQ D 2 5 45 %C á c S P b ị c ấ m3 %C á c S P c h ị uq u ả n l ý đ ặ cb i ệ t1 3 %C á c S P k h ô n gb ị k i ể ms o á t6 0 %các tính toán sử dụng số liệu thực tế. Nếu tiến hành tính toán phạm vi ảnh h-ởng của NTBs đa vào giả định hoạt động thơng mại trong điều kiện hoàn toàn tự do (điều không có trên thực tế) thì phạm vi này chắc còn lớn hơn nhiều. Số liệu trên không bao gồm những ảnh hởng của một loạt các NTBs khác nh kiểm soát ngoại tệ và kiểm soát tín dụng. Các NTBs khác có tác động không thể dự đoán trớc đợc và không đồng đều đối với các hàng hoá. Do đó khó thực hiện những phân tích những ý nghĩa về phạm vi ảnh hởng của NTBs . Tuy nhiên có thể kết luận phạm vi ảnh hởng thực tế của NTBs ở Việt Nam sẽ cao hơn rất nhiều nếu tính đến những rào cản này . Nh trong ví dụ đợc thảo luận ở phần tới. Việc nhập khẩu hàng tiêu dùng bị hạn chế bằng các kiểm soát đợc thực hiện trong lĩnh vực ngân hàng. Trong năm 1996 , các hàng hoá tiêu dùng vẫn cha bị kiểm soát số lợng một cách rõ nét chiếm khoảng 1/4 lợng nhập khẩu. Nếu tất cả mặt hàng này mà chịu sự hạn chế về số lợng thì phạm vi ảnh hởng của NTBs đợc ớc tính ở mức trên 60 %. Biểu đồ 1.3 cho thấy ảnh hởng của QRs tính theo mức độ sản xuất hàng hoá. Số liệu về sản xuất dựa trên cân đối liên ngành năm 1996 của Việt Nam. Khoảng 24 % sản xuất hàng hoá nhận đợc từ bảo hộ của QRs. Phạm vi ảnh h-ởng tính theo tổng giá trị sản xuất (hàng hoá và dịch vụ) chiếm khoảng 15 % những con số này phần nào phản ánh tỷ trọng cao của nông nghiệp và quy mô sản xuất nhỏ bé đối với chủng loại hàng hoá đợc bảo hộ nh xăng dầu và phân bón. Việc phân loại theo bảng I/O đợc thực hiện ở mức độ gộp rất cao và do vậy khó xác định riêng rẽ các mặt hàng thuộc quy định 57 và 254. Hơn nữa do có khả năng phóng đại phạm vi ảnh hởng trực tiếp của NTBs do một số ngành cũng sản xuất không phải chịu hạn chế về số lợng . Tuy nhiên sự phóng đại này không còn nữa nh tính đến ảnh hởng của các hàng rào phi thuế quan khác nh quản lý chuyên ngành và kiểm soát ngoại tệ. Để có khái niệm về mức độ ảnh hởng , kiểm soát quản lý chuyên ngành đối với nhập khẩu của các sản 7phẩm nh động vật sống, dợc phẩm, thuốc trừ sâu, các hoá chất hữu cơ, các ấn phẩm và thiét bị truyền thanh có phạm vi tác dộng là 5 % tổng sản xuất hàng hoá và dịch vụ hay 8 % tổng sản xuất hàng hoá.Bảng 1.3 : Sản xuất hàng hoá chịu ảnh hởng của các hạn chế về số lợng Nguồn số liệu: GSO (1999a), tính toán của CIEPhân bổ ngoại tệ Quyết định 254 yêu cầu hàng hoá tiêu dùng và nhiều nguyên liệu nhập (hợp kim thép, nguyên liệu thô PVC, thanh nhôm và cấu trúc nhôm) phải do thuế , phụ htu và các phơng thức tanh toán khác nhau điều tiết, trong thực tế, điều này có nghĩa là các ngân hàng không đợc phép phát hành th tín dụng trả chậm để nhập khẩu những hàng hoá này. Các nhà nhập khẩu các mặt hàng này phải có đủ vốn ngay để trang trải cho các hàng hoá này. Điều này đặt ra một trở ngại đối với các công ty có vốn lu động nhỏ. Các công ty nhỏ, của t nhân có khả năng trong diện này, các yêu cầu về bán ngoại tệ cho ngân hàng làm 8C á c s ả n p h ẩ m c h ị u s ự h ạ n c h ế v ề s ố l ư ợ n g2 4 %C á c S P k h ô n g c h ị u h ạ nc h ế v ề s ố l ư ợ n g7 6 %tăng thêm khó khăn cho các công ty đang gập phải khó khăn trong việc tiếp cận đến vốn dùng để nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng và các loại hàng hoá khác.Ngoài hạn chế về th tín dụng trả chậm, Ngân hàng nhà nớc Việt Nam đang khuyến khích các ngân hàng thơng mại hạn chế tiếp cận ngoại tệ dùng cho việc nhập khẩu hàng hoá trong nớc đã sản xuất thay thế đợc. Điều này dẫn đến mức độ tuỳ ý cao trong việc phân bổ ngoại tệ tạo nên một NTB rất không minh bạch. Kết quả là chỉ những doanh nghiệp có ảnh hởng lớn mới có khả năng tiếp cận ngoại tệ để nhập khẩu hàng hoá đó. Không những điều này tăng sự bảo hộ đối với nhung xnhà sản xuất trong nớc mà còn gây bất lợi cho những doanh nghiệp nhỏ thuộc khu vực t nhân có ít ảnh hởng đối với hệ thống ngân hàng.Có các tín hiệu trái ngợc nhau về những kiểm soát . Một số công ty cho rằng chúng chẳng qua chỉ là một sự giám sát , sự vận động của ngoại hối và không thực sự tạo ra rào cản nào cả. Nhng các công ty khác thì phải lựa chọn giữa mua trong nớc và nhậpkhẩu các sản phẩm giấy, thép, xi măng và một số hàng hoá khác đã cho biét rằng các rào cản dựng nên đối với họ trong việc mua ngoại tệ là quá lớn nên họ phải quay sang các nguồn cung cấp trong nớc.Các NTBs khácNhóm NTBs quan trọng khác là các biện pháp tơng tự htuế quan trong phan loại của UNCTAD. ở Việt Nam những biện pháp này bao gồm : vụ thu hải quan, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng( đặc biệt, có nhữnh miễn trừ cụ thể đối với những hàng hoá thể ngoại thơng đợc). Tuy thuế tiêu thụ đặc biệt hay đợc đánh vào hàng xa xỉ phẩm trên danh nghĩa đợc áp dụng cho hàng hoá bất kể xuất xứ, những miễn giảm đặc biệt đối với những sản xuất trong nớc có nghĩa là quy định này thực tế chỉ áp dụng đối với hàng xuất khẩu. Việc sử dụng tối thiểu để định giá hàng nhập khẩu cũng thuộc vào nhóm NTBs này. Cơ quan hải quan báo cáo rằng số lợng hàng hoá nằm trong danh mục giảm từ 37 năm 1997 xuống còn 11 năm 1999. Các mặt hàng đợc 9bãi bỏ nếu phạm vi tác động của gian lận thơng mại đối vpới hàng hoá đó thấp và nếu giá cả thị trờng ổn định và do đó cơ quan Hải quan có thể dễ dàng đánh giá chính sác của giá báo trong hoá đơn nhạp khẩu. Hải quan công nhận rằng giá tối thiểu không phải là phơng pháp phù hợp để xác định thuế nhập khẩu và đề nghị rằng luật hải quan phải đợc sửa đổi để đa vào điều khoản phù hợp với quy định về giá của GATT.Thủ tục hải quan thực hiên chậm chạp và các quy trình nặng nề là một rào cản đối với hàng hoá nhập khẩu, và do đó cũng cần nhận thấy rằng đã có mọt số biện pháp thực hiện nhằm tạo thuận lợi cho việc xử dụng các đại lý hải quan (customs agents) . Điều này có lẽ là hợp lý vì các nỗ lực trong việc đẩy nhanh các thủ tục hải quan là đối nghịch với xu hớng dựa vào NTBs.2. Các mục tiêu dự kiến của các hàng rào phi thuế quan:Bảng 1.1 mô tả các mục tiêu của các hàng rào phi thuế quan (NBTs) ở Việt Nam. Bảo hộ ngành công nghiệp trong nớc là một mục tiêu chung xuyên suốt NTBs nhng trong một số trờng hợp NTBs có rất nhiều mục tiêu. Chẳng hạn thuế tiêu thụ đặc biệt về cơ bản là công cụ tăng thu ngân sách nhng những miễn trừ đối với các nhà sản xuất trong nớc làm cho nó trên thực tế trở thành thuế đánh thêm vào nhập khẩu để tăng sự bảo hộ đối với các nhà sản xuất trong nớc. Những hạn chế về th tín dụng trả chậm ban đầu cũng đợc áp dụng để giải quyết các vấn đề về nợ nớc ngoài ngắn hạn, nhng hiện nay đang đợc sử dụng để hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng và các hàng hoá khác.Trong trờng hợp QRs nhiều hạn chế dờng nh đợc áp dụng nhằm phục vụ cho mục tiêu bảo hộ, song tuỳ thuộc vào từng sản phẩm mà các mục tiêu khác lại là chính. Bảng trình bày chi tiết hơn các mục tiêu của các hạn chế về số l-ợng đối với với sản phẩm.Sự hiện diện của các hạn chế về số lợng trong thơng mại phần nào là sản phẩm đợc thừa kế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung mà ở đó thơng mại đợc 10 . chơng:Chơng I: Tổng quan về hàng rào phi thuế quan (NTB) ở Việt Nam.Chơng II: Những mặt hạn chế của các hàng rào phi thuế quan ở Việt NamChơng III: Thuế quan hoá. hệ thống thuế quan là rõ ràng song hàng rào phi thuế quan vẫn tiếp tục đợc sử dụng ở Việt Nam, có lẽ bởi vì ngời ta cho rằng hàng rào phi thuế quan có thể

— Xem thêm —

Xem thêm: Hàng rào phi thuế quan ở VN, Hàng rào phi thuế quan ở VN, Hàng rào phi thuế quan ở VN

Lên đầu trang

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.078400850296 s. Memory usage = 13.94 MB