Cái đẹp trong văn hóa ứng xử của người Việt

Bạch Thanh Thanh
Bạch Thanh Thanh(8370 tài liệu)
(18 người theo dõi)
Lượt xem 40
1
Tải xuống 8,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 20 | Loại file: DOC
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 05/04/2013, 21:14

Mô tả: luận văn về Cái đẹp trong văn hóa ứng xử của người Việt Cái đẹp trong văn hóa ứng xử của người Việt LỜI MỞ ĐẦU Văn hoá ứng xử của người việt đã được hình thành trong quá trình giao tiếp qua 4000 năm dựng nước và giữ nước. Cái đẹp trong văn hoá ứng xử được cha ông ta lưu giữ, truyền lại từ đời này sang đời khac. Ngày nay mặc dù xã hộ đã có nhiều thay đổi nhưng giao tiếp ứng xử vẫn có tầm quan trọng đặc biệt. Nó tạo nên các mối quan hệ đẹp có văn hóa, có đạo đức trong cộng đồng dân cư, trong tình bạn trong tình yêu, trong gia đình, trong nhà trường, trong kinh doanh, đàm phán- thương lượng khi có những bất cồng có thể dẫn đến xung đột. Giao tiếp ứng xử có văn hoá, có đạo đức là cơ sở để có những mối quan hệ thân thiện trong cộng đồng, quan hệ tình nghĩa trong gia đình, quan hệ hợp tác trong kinh doanh là cơ sở để tạo ra mội trường xã hội có lơi cho sức khoẻ của con người Vì vậy chúng ta cần nghiên cứu cái đẹp trong văn hoá ứng xử của người việt để tìm hiểu, kế thừa và phát huy những giá trị cao đẹp tinh hoa của cuộc sống Bài viết gồm 3 phần chính: I) Cái đẹp trong văn hoá ứng xử được hình thành trong quá trình giao tiếp của con người II) Những biểu hiện của cái đẹp trong văn hoá ứng xử III) Một số bí quyết trong văn hoá ứng xử CHƯƠNG I CÁI ĐẸP TRONG VĂN HOÁ ỨNG XỬ ĐƯỢC HÌNH THÀNH TRONG QUÁ TRÌNH GIAO TIẾP CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM 1. BẢN CHẮT CỦA CÁI ĐẸP Cái đẹp là phạm trù cơ bản và trung tâm của mỹ học. Cái đẹp có mặt ở khắp mọi nơi trong cuộc sống quanh ta, được biểu hiện qua muôn vàn những sự vật hiện tượng với những kích thước hình dáng màu sắc phẩm chất khác nhau, nhưng nó không tồn tại vĩnh viễn, hằng cửu mà nó vừa mang tính thời sự vừa mang tình muôn thửa. Cái đẹp luôn hướng tới chân- thiện- mỹ và có tính nhân dân, tính dân tộc tính nhân loại. 2. VĂN HOÁ ỨNG XỬ Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tình thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử( từ điển việt nam). Văn hoá là hướng tới cái đẹp, hướng tới con người và làm đẹp cuộc sống. Văn hoá ứng xử là lối sống, lôI suy nghĩ, lối hành động, là triết lý sống của con người đối với tự nhiên xã hội trong một phạm vi hẹp tới một phạm vi rộng. Bản chắt của văn hoá ứng xử là chữ tâm và chữ nhẫn. Con người không thể giao tiếp ứng xử tốt khi mà một phía có thiên chí. Giao tiếp ứng xử đòi hỏi cả hai bên phải có tấm lòng, tình cảm, thiện chí mới đạt kết quả. Đó là chữ tâm. Và văn hoá ứng xử con người phải “nhẫn”, tức là phải có sự kiên trì nhẫn lại, nhường nhịn nhau,thẩm chí đôi khi cũng phải thiết thòi đôi chút có thể mới đạt hiệu quả giao tiếp tốt. Nếu có cả “ tâm” và “ nhẫn” thì sẽ đạt kết quả tốt trong giao tiếp ứng xử. ĐIều đó đôi khi thay đổi số phận của cả một cuốc đời. 3. CÁI ĐẸP TRONG VĂN HOÁ ỨNG XỬ Cái đẹp trong văn hóa ứng xử của người việt đã hình thành trong quá trình giao tiếp từ rất sớm và ngày càng phong phú. Những giá trị cao đẹp đó được ông cha ta lưu truyền cho thế hệ sau và đến ngày nay vẫn con 2 nguyên giá trị vô cùng to lớn đối với nhân dân ta. Văn hoá ứng xử trong quá trình giao tiếp gồm hành loạt các hệ thống: ứng xử trong gia đình, làng xã trong họ mạc, giữa các dòng họ với nhau, giữa các thành viên trong cộng đồng giữa những người đồng nghiệp, giữa những người cùng giới và khác giới… Trước hết chúng ta đề cập đến cái đẹp trong ứng xử của tình yêu nam nữ. tuổi trẻ đầy sức sống, ai biết mà chẳng muồn yêu và khao khát được yêu. tình yêu làm đẹp cuộc sống, làm đôi lứa trở nên vui tươI và yêu đời hơn. Trước đây ông cha ta thường có quan niệm nên chọn người muôn đẳng hộ đối trong cưới xin: “ lấy vợ xem tông lấy chồng xem giống”, hay “ trâu ta ăn cỏ đồng ta”. nhưng hiện nay thì xã hội đã tiến bộ hơn nên trong tình yêu nam nữ đã được tự do chọn lựa người mình yêu: “ ép dầu ép mỡ ai lỡ ép duyên”.Trong tình yêu có rất nhiều đìêu khó có thể lường trước, có thể nên đồi mà cũng có thể tan vỡ. Và dù trong trường hợp nào thì hai bên cũng phải tỉnh táo xử lý để có thái độ xử sử nhẹ nhàng, có lý có tình: “Không đến được với nhau Em đi lấy chồng Ta như con thuyền mắc cạn giữa dòng sông… Ngày em lên xe hoa Thuyền tròng trành nước mắt Mây thang lang bạc trắng trên đầu Ta gửi lòng ta Lại Khúc Sông Sâu ( Lời cuối – Thế Hùng) 3 Trong tình cảm vợ chồng thì cái đẹp của ứng xử là chữ tâm và chữ nhẫn cả hai bên đều phải yêu thương nhau thật lòng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, nhường nhịn nhau thì mới hạnh phúc. Trong cuộc đời vợ chồng mấy chục năm gắn bó với nhau không thể trành khỏi đôi lúc nòng giận, cãi vã với nhau. Trong những trường hợp như thế người vợ thường phải biết nhẫn tức là nhịn nhường kiên nhẫn chịu đựng, là người “ tháo ngòi nổ” trong các tình huống như vậy “Chồng giận thì vợ làm lành Miệng cười hớn hở rằng anh giận gì” hay “ Chồng giận thì vợ bớt lời Cơm sôi nhỏ lửa thì đời nào khê” Trong gia đình thì người vợ là một phần không thể thiếu. Nếu gia đình mà thiếu vắng người vợ thì sẽ không hoàn chỉnh. Người vợ hiền dịu, đảm đang chăm lo công việc gia đình tạo điều kiện cho chồng yên tâm phát triển sự nghiệp thì gia đình luôn vui vẻ,hạnh phúc. Trái lại người vợ xấu tình trá nết thì chỉ làm khổ chồng con mà thôi vì vậy các cụ ta có câu “ giàu vì bạn sang vì vợ”, “ gai ngoan làm sang cho chồng” vợ còn là tay hòm chìa khoá cho chồng “ trai có có vợ như giỏ có hom” Gia đình êm âm hạnh phúc sẽ tạo nên sức mạng vô song vượt qua mọi khó khăn thử thách trong cuộc sống: “thuận vợ thuận chồng tát biển đong cũng cạn”. Người vợ Việt Nam không chỉ giỏi việc nước đảm việc nhà mà còn rất thuỷ chung với chông. Đây là một phaamr chất vô cùng quý báu của người phụ nữ Việt Nam. Mặc dù chồng nghèo khó thì cũng không chê mà cùng chia sẻ mọi khó khăn buồn vui với chồng: ‘chồng em áo rách em thương, chồng ngưòi áo gấm sông hương mặc người”. Hoặc khi chồng gặp điều không may không còn lành lặn thì vẫn ở bên cạnh chồng chăm sóc cho chồng: “Thiếu phụ hát cho chồng nghe 4 Quên cả công viên bao người qua lại Bài hát ngân vang ngân dàI ngân mãi Nhớ về …dĩ vãng xa xưa Ngưòi chồng gượn cưỡie lăn đung đưa Bàn tay ngủ yên bất động Bàn chân ngủ yên bất động Chỉ nụ cười gượng gạo Chỉ những giọt nước mắt nghẹn ngào lăn trên gò má” (Nhớ về dĩ vãng-Thế Hùng) Ngay cả khi ngưòi chồng không may mất đi thì người vợ vẫn một lòng nuôi con thờ chồng: “ghe bầu chở lái về đông, làm thân con gái thờ chồng nuôi con”bởi họ quan niệm: “vợ chồng sống gửi thịt chết gửi xương”. Sau khi người chồng mất đi, người phụ nữ coi việc ở vạy thờ chồng nuôI con là chung thuỷ với chòng. Đó là hạn chế bởi họ chịu ảnh hưởng quan niệm “tam tong”đối với người phụ nữ của Nho giáo. Nhưng mặt khác quan niệm tứ đức “công dung ngôn hạnh” đối với người phụ nữ thì vẫn luôn đúng đắn, là đòi hỏi cần thiết là chuẩn mực của người phụ nữ toàn diện của thời đại. Đó là về phía người vợ còn người chồng thì phải có cách xử sự thế nào cho đúng? Lẽ dĩ nhiên nếu người vợ đã hết mực yêu thương chồng con thì họ sẽ đươc đền đáp lại. Trước một người vợ đảm đang thấo vát, người chồng không thể không cảm động mà đối xử tốt với vợ yêu thương vợ con hơn, yên tâm xây dựng sự nghiệp đem lại nền tảng kinh tế vững chấc cho gia đình ổn định. Ông cha ta có những câu nghi lại tình cảm của người chồng giành cho vợ như: “của chồng công vợ”, “nhất vợ nhì trời” như sự nghi lòng tạc dạ về công lao của người vợ trong gia đình. Trước kia chúng ta có nhà thơ Tú Xương viết bài thơ “Thương vợ” ca ngợi người vợ tần tảo, vất vả quanh năm của ông để “nuôI đủ năm con 5 với một chồng” thì nay chúng ta có nhà thơ Thế Hùng với bài “Vợ ơI” cũng thể hiện tình cảm yêu thương sâu sắc với người vợ thân yêu của minh: “Em đi vắng Nhà hoang tàn giá lạnh Con mải chơi quên bố bữa cơm chiều Mở tủ lạnh thấy toàn là đá Bếp chỏng trơ toàn những nồi niêu Em đi vắng Anh cô đơn buồn tủi Lẻ một mình phòng vắng ngắt như tờ Con lớn theo chồng, con sau theo bạn Thui thủi căn phòng trống trải bơ vơ Em đi vắng Đêm ôm chăn trằn trọc Ngày đã dài đêm thao thức dài hơn Về đi em cho anh đở khổ Cứ bô vơ cứ lỡ dở thế này Khi xa em Anh tột cùng nỗi khổ Thiếu một người rất vợ –là em ( Vợ ơi- Thế Hùng) Bởi vậy nên vợ chồng yêu thương, gắn bó đến hết cuộc đời: Ba mươi năm sau Chúng mình Tóc cước Anh 6 Mang tặng em Chiếc lược Một thời Chải Tóc Em Xanh ( Quà lúc tuổi già_Thế Hùng) Quan hệ giữa cha mẹ và con cái là quan hệ máu thịt nên vô cùng đặc biệt. Ngưòi cha người mẹ nào cũng dành cho con cái mình những điều tót đẹp nhất , mong cho con cái mình những điều may mắn nhất. Vì vậy cha mẹ luôn cố gắng dạy dỗ cho con cái mọi điều hay lẽ phải, hằng mong cho con cái sau này trở thành người có ích cho xã hội: Dạy con từ thuở còn thơ Đến khi cả lớn ắt khôn hơn người Dạy ăn, dạy nói, dạy cười Dạy đi thong thả dạy ngồi nết na Cha mẹ nào cũng mong muốn con cái mình khoẻ mạnh, đẹp đẽ khôn ngoan hơn người và gặp nhiều hạnh phúc bởi con cái là một phần cớ thể của cha mẹ táI sinh: “ cá chuối đắm đuối về con”. Vì thế cha mẹ không quản ngại hy sinh vất vả nuôI con khôn lớn nên người. Ngay cả khi con cái đã lớn cha mẹ vẫn luôn ở bên cạnh cầu chúc cho con cái mình gặp nhiều hạnh phúc may mắn: Con Hãy yêu đắm say Như mẹ con đã từng Yêu bố Tình thiêng liêng Dành trọn vẹn một người Rồi làm mẹ 7 Làm bà Xây Tổ Ấm Chỉ chồng và cháu con Là nhất ở trên đời ( Thơ tặng con gái – Thế Hùng) Hạnh phúc lớn nhất của người con là có đầy đủ cả cha lẫn mẹ, có gia đình yên ấm hạnh phúc “ con có cha như nhà có nóc”. Trước công lao to lớn của cha mẹ con cái phải luôn ghi nhớ và đền đáp báo hiếu cha mẹ “ Công cha như núi thái sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con” Người con nào cũng phải đặt chữ hiếu lên hành đầu, chăm sóc cha mẹ khi già yếu và nơi nương tựa, là nguồn an ủi của cha mẹ. Mỗi khi nghĩ về mẹ con cái luôn bày tỏ tình cảm thiêng liêng sâu sắc đối với người mẹ tần tảo lam lũ của mình đang vất vả lo cho con cái: “ Mẹ ơ ! Mẹ dã gánh con hai lần tản cư giặc giã Giấu làm sao tóc mẹ bạc trắng trời” ( Tóc bạc mẹ già- Thế Hùng) “ Con hèn quá không giúp gì được mẹ Phơi thân gày bán xổ số ven đường Mẹ sinh con mong về giá nương tựa Tóc điểm sương rồi nhìn mẹ mà thương” ( Mẹ- Thế Hùng) Khi nghĩa về cha một người cha siêng năng lam lũ, mong cho con cái mình khôn lớn trưởng thanh, người con đã bộc lộ cảm xúc: 8 “ Cha cũng như cây héo gầy – tám mười năm Rễ siêng năng nhọc nhằn nuôi con khôn lớn Con như chiếc lá đầu cành xanh đến biếc cả trời xanh Nhìn những chiếc lá vàng cuối cùng lắc lay trong gió Con rùng mình sẽ có một ngày mất cha… Sẽ không có nước mắt nào đủ cho một người cha như thế Sự liêm trung trác tuyệt đến vô cùng (Nhớ về cha mùa đông năm hai ngàn lẻ một- Thế Hùng) Tình anh chị em trong gia đình là tình cảm gắn bó không thể tách rời. Vì vậy anh chị em ruột thịt phải thương yêu, đùm bọc lẫn nhau: “Anh em như thể tay chân Rách lành đùm bọc,dở hay đỡ đần” Anh em thì phải nhường nhịn lẫn nhau, đoàn kết với nhau, không nên tranh giành gây mất đoàn kết bởi: “Khôn ngoan đối đáp người ngoài Gà cùng một mẹ chờ hoàI đá nhau” Hoặc: “Anh em chém nhau bề sống, không chém nhau bề lưỡi”. Và khi gặp khó khăn thì phải giúp đỡ lẫn nhau: “ chị ngã em nâng” “Trong quan hệ với họ tộc phải nhớ đến tổ tiên, nguồn gốc gia đình, dòng họ: “ chim có tổ, người có tông”, “ nước có nguồn cây có gốc”. Con cháu có bổn phận phải nhớ đến cội nguồn, nhớ về quê cha đất tổ. Dù có đi xa thì cũng phải làm trọn bổn phận lễ nghĩa với gia đình họ mạc “ Ở nơi ấy có dòng sông xẻ nửa con đò Có vườn nhãn mẹ trồng thời con gái Có cánh cò chở nỗi nhớ qua sông. …. Mai Xa Xa đồng xu trên má 9 Xa nụ cười trên môi Xin cho tôi gửi lại cuối trời Hạt nhãn đen đen quê mình trong mắt” (Vườn nhãn quê tôi- Thế Hùng) Trong cách ứng xử với họ tộc, phải có thái độ kính trên nhường dưới, tôn trọng các phép tắc, lễ nghi của họ tộc, không được làm điều gì tai tiếng, có lỗi với họ tộc: “ Giấy rách phải giữ lấy lề” Đối với hàng xóm láng giềng và mọi người xung quanh nên có thái độ gần gủi thân thiện bởi trong cuộc sống không phải ai cũng được toàn vẹn, nhiều khi còn phải có sự giúp đỡ của hành xóm láng giềng nên phải: “ bán anh em xa mua láng giêng gần” và “ bà con em tối lửa tắt đèn nhau”. Người khôn ngoan, thông minh bao giờ cũng có thái đọ cởi mở, hoà nhã với tất cả mọi người xung quanh. Người xưa thường bảo: “ thức lâu mới biết đêm dàI, ở lâu mới biết rằng người có nhân” hoặc Hoạ hổ, hoạ bì, nan hoạ cốt, Tri nhân, tri diện, bất tri tâm (Vẽ hổ, vẽ hình dáng, khó vẽ xương Biết người biết mặt, chưa chắc biết tâm” Ý nói con người có cả cái xấu và cái tốt thế nên phải có kinh nghiệm, có sự tinh tế phân biệt thật giả tốt xấu có thái đọ ứng xử phù hợp. Với bạn bè đồng nghiệp nên có thái độ thân thiện hoà đồng tránh tính ích kỷ, ghen tị bởi đó là một điều tệ hại. Ngưòi thông minh bao giờ cũng biết co duỗi đúng lúc, tuỳ cơ mà ứng biến. Với cấp trên thì nên có thái độ tôn trọng, học hỏi và làm tốt nhiệm vụ chuyên môn của mình. Không nên nói xấu sau lưng người khác và hoặc có thái độ xu nịnh quá đáng. Nếu có một lời khen đúng lúc đúng chỗ thì tất cả đều vui vẻ, thoải mãi đôi khi rất được rất được việc. Với cấp dưới thì nên nghiêm túc thân trọng, giúp đỡ, giảm bớt sự căng thẩng không đáng có. 10 . tốt trong giao tiếp ứng xử. ĐIều đó đôi khi thay đổi số phận của cả một cuốc đời. 3. CÁI ĐẸP TRONG VĂN HOÁ ỨNG XỬ Cái đẹp trong văn hóa ứng xử của người. trong văn hoá ứng xử CHƯƠNG I CÁI ĐẸP TRONG VĂN HOÁ ỨNG XỬ ĐƯỢC HÌNH THÀNH TRONG QUÁ TRÌNH GIAO TIẾP CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM 1. BẢN CHẮT CỦA CÁI ĐẸP

— Xem thêm —

Xem thêm: Cái đẹp trong văn hóa ứng xử của người Việt, Cái đẹp trong văn hóa ứng xử của người Việt, Cái đẹp trong văn hóa ứng xử của người Việt

Lên đầu trang

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.0705850124359 s. Memory usage = 13.95 MB