Các chức năng chủ yếu của môi trường

Meo
Meo(1283 tài liệu)
(31 người theo dõi)
Lượt xem 340
6
Tải xuống 2,000₫
Số trang: 12 | Loại file: PDF
0
Thêm vào bộ sưu tập

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 23/09/2012, 15:22

Mô tả: Các chức năng chủ yếu của môi trường + Chức năng cung cấp mặt bằng và các yếu tố cần thiết khác cho hoạt động canh tác nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản . Hình1.1: Các chức năng chủ yếu của môi trường (KHMT) • MT là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho đời sống và hoạt động sản xuất của con ngườiTrong lịch sử phát triển, loài người đã trãi qua nhiều giai đoạn. Bắt đầu từ khi con người biết canh tác cách đây khoảng 14-15 nghìn năm, vào thời kỳ đồ đá giữa cho đến khi phát minh ra máy hơi nước vào thế kỷ thứ XVIII. Xét về bản chất, mọi hoạt động của con người đều nhằm vào việc khai thác các hệ thống sinh thái của tự nhiên theo sơ đồ sau:Hình1.2: Hệ thống sinh thái của tự nhiên và nhân tạo. (KHMT)Mọi sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, . của con người đều bắt nguồn từ các dạng vật chất tồn tại trên Trái đất và không gian bao quanh Trái đất.MÔI TRƯỜNGKhông gian sống của con người và các loài sinh vậtNơi chứa đựng các nguồn tài nguyênNơi lưu trữ và cung cấp các nguồn thông tinNơi chứa đựng các phế thải do con người tạo ra trong cuộc sốngTrí tuệVật tư công cụLao động cơ bắpCon ngườiTự nhiên(Các hệ thống sinh thái)Nhu cầu của con người về các nguồn tài nguyên không ngừng tăng lên cả về số lượng, chất lượng và mức độ phức tạp theo trình độ phát triển của xã hội. Chức năng này của MT còn gọi là nhóm chức năng sản xuất tự nhiên gồm:- Rừng tự nhiên: có chức năng cung cấp nước, bảo tồn tính ĐDSH và độ phì nhiêu của đất, nguồn gỗ củi, dược liệu và cải thiện điều kiện sinh thái.- Các thủy vực: có chức năng cung cấp nước, dinh dưỡng, nơi vui chơi giải trí và ácc nguồn thủy hải sản.- Động thực vật: cung cấp lương thực và thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm.- Không khí, nhiệt độ, năng lượng mặt trời, gió, nước: để chúng ta hít thở, cây cối ra hoa và kết trái.- Các loại quặng, dầu mở: cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp,…• MT là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình. Có thể phân loại chi tiết chức năng này thành các loại sau:- Chức năng biến đổi lý – hóa học- Chức năng biến đổi sinh hóa- Chức năng biến đổi sinh học• MT là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên Trái đất.Trái đất là nơi sinh sống của con người và các sinh vật nhờ các điều kiện môi trường đặc biệt như: nhiệt độ không khí không quá cao, nồng độ ôxy và các khí khác tương đối ổn định,…Sự phát sinh và phát triển sự sống xảy ra trên Trái đất nhờ hoạt động của hệ thống các thành phần của MT Trái đất như khí quyển, thủy quyển, sinh quyển và thạch quyển.- Khí quyển giữ cho nhiệt độ Trái đất tránh được các bức xạ quá cao, chênh lệch nhiệt độ lớn, ổn định nhiệt độ trong khả năng chịu đựng của con người,…- Thủy quyển thực hiện chu trình tuần hoàn nước, giữ cân bằng nhiệt độ, các chất khí, giảm nhẹ tác động có hại của thiên nhiên đến con người và các sinh vật.- Thạch quyển liên tục cung cấp năng lượng, vật chất cho các quyển khác của Trái đất, giảm tác động tiệu cực của thiên tai tới con người và sinh vật.• MT là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người- Cung cấp sự ghi chép lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hóa của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hóa của loài người.- Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất tín hiệu và báo động sớm các hiểm họa.- Lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen.  Như vậy, có thể có các dạng vi phạm chức năng của môi trường sống như: Làm cạn kiệt nguyên liệu và năng lượng cần cho sự tồn tại và phát triển của các cơ thể sống. Làm ứ thừa phế thải trong không gian sống, Làm mất cân bằng sinh thái giữa các loài sinh vật với nhau và giữa chúng với các thành phần môi trường. Vi phạm chức năng giảm nhẹ tác động của thiên tai. Vi phạm chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.1.5. Những vấn đề môi trường thách thức hiện nay trên thế giới Báo cáo tổng quan MT toàn cầu năm 2000 của Chương trình MT LHQ(UNEP) đã phân tích 2 xu hướng bao trùm khi loài người bước vào thiên niên kỷ thứ ba:- Thứ nhất, đó là các HST và sinh thái nhân văn toàn cầu bị đe dọa bởi sự mất cân bằng sâu sắc trong năng suất và trong phân bố hàng hóa và dịch vụ, sự phồn thịnh và sự cùng cực đang đe dọa sự ổn định của toàn bộ hệ thống nhân văn và cùng với nó là MT toàn cầu.- Thứ hai, thế giới đang ngày càng biến đổi, trong đó sự phối hợp quản lý MT ở quy mô quốc tế luôn bị tụt hậu so với sự phát triển kinh tế - xã hội. Những thành quả về MT thu được nhờ công nghệ và những chính sách mới đang không theo kịp nhịp độ và quy mô gia tăng dân số và phát triển kinh tế.Hiện nay thế giới đang đứng trước những thách thức MT sau:1.5.1. Khí hậu toàn cầu biến đổi và tần suất thiên tai gia tăngTheo đánh giá của Ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu toàn cầu thì có bằng chứng cho thấy về ảnh hưởng rất rõ rệt của con người đến khí hậu toàn cầu. Các nhà khoa học cho biết trong vòng 100 năm trở lại đây, Trái đất đã nóng lên khoảng 0,50C và trong thế kỷ này sẽ tăng từ 1,50C - 4,50C so với nhiệt độ ở thế kỷ XX. Hậu quả của sự nóng lên toàn cầu là:- Mực nước biển dâng cao từ 25 đến 140cm, băng tan sẽ nhấn chìm một vùng đất liền rộng lớn, theo dự báo nếu tình trạng như hiện nay thì đến giữa thế kỷ này biển sẽ tiến vào đất liền từ 5-7m độ cao.- Thời tiết thay đổi dẫn đến gia tăng tần suất thiên tai như gió, bão, hỏa hoạn và lũ lụt. Ví dụ, các trận hỏa hoạn tự nhiên không kiểm soát được vào các năm từ 1996-1998 đã thiêu hủy nhiều khu rừng ở Braxin, Canada, khu tự trị Nội Mông ở Đông Bắc Trung Quốc, Inđônêxia, Italia, Mêhicô, Liên bang Nga và Mỹ.Việt Nam tuy chưa phải là nước công nghiệp phát triển, tuy nhiên xu thế đóng góp khí gây hiệu ứng nhà kính cũng thể hiện khá rõ nét.Bảng 1.3: Kết quả kiểm kê khí nhà kính năm 1990-1993 (Tg-triệu tấn) Năm 1990 1993Nguồn phát thải- Khu vực năng lượng thương mại (Tg CO2)- Khu vực năng lượng phi thương mại (Tg CO2)- Sản xuất ximăng (Tg CO2)- Chăn nuôi (Tg CH4)- Trồng lúa nước (Tg CH4)- Lâm nghiệp (Tg CO2)19,28043,6600,3471,1350,95033,9024,04552,5652,4170,3943,19234,516Với những nguyên nhân trên, thiên tai không chỉ xuất hiện với tần suất ngày càng gia tăng mà quy mô tác động gây thiệt hại cho con người cũng ngày càng lớn.1.5.2. Sự suy giảm tầng ôzôn.Ôzôn (O3) là loại khí hiếm trong không khí gần bề mặt đất và tập trung thành lớp dày ở những độ cao khác nhau trong tầng đối lưu từ 16km đến khoảng 40km ở các vĩ độ. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, ôzôn độc hại và sự ô nhiễm ôzôn sẽ có tác động xấu đến năng suất cây trồng.Hình 1.3: Phổ sóng điện từ của bức xạ Mặt trời 10-710-610-510-410-310-210-11 10102103104105106107108Tia GammaTia RơnghenTia tử ngoạiNhìn thấyTia Hồng ngoạiBức xạ Radio µm"Cửa sổ khí quyển" "Cửa sổ khí quyển"Bề mặt trái đấtGiới hạn trên khí quyển1.000kmBức xạ mặt trời chiếu tới(từ tia gamma đến tia sóng điệnBức xạ mặt trời lọt qua hai "cửa sổ"Hấp thụ tia tử ngoại λ = 0,.99 µmHấp thụ tia tử ngoại λ = 0,13 -0,18 µm80km40kmTầng điện lyTầng bình lưuTầng đối lưu12 -18kmHình 1.4: Tầng ôzôn - "ô bảo vệ" sự sống trên trái đất Tầng ôzôn có vai trò bảo vệ, chặn đứng các tia cực tím có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người và các loài sinh vật trên Trái đất. Bức xạ tia cực tím có nhiều tác động, hầu hết mang tính chất phá hủy đối với con người và sinh vật cũng như các vật liệu khác, khi tầng ôzôn tiếp tục bị suy thoái, các tác động này càng trở nên tồi tệ.Bảng 1.4: Tác động của O3 đối với thực vậtLoại cây Nồng độO3(ppm)Thời gian tác động Biểu hiện gây hại- Củ cải- Thuốc lá- Đậu tương- Yến mạch0,0500,1000,0500,07520 ngày (8h/ngày)5,5h-19h50% lá chuyển sang màu vàngGiảm 50% phát triển phấn hoaGiảm sinh trưởng từ 14,4-17%Giảm cường độ quang hợp1.5.3. Hiệu ứng nhà kính đang gia tăngVậy hiệu ứng nhà kính là gì? Như chúng ta đã biết, nhiệt độ bề mặt Trái đất được tạo thành bởi sự cân bằng giữa năng lượng Mặt Trời chiếu xuống Trái đất và năng lượng bức xạ nhiệt của mặt đất phản xạ vào khí quyển. Bức xạ Mặt trời là bức xạ sóng ngắn nên nó dễ dàng xuyên qua các lớp khí CO2 và tầng Ôzôn rồi xuống mặt đất, ngược lại, bức xạ nhiệt từ mặt đất phản xạ vào khí quyển là bức xạ sóng dài, nó không có khả năng xuyên qua lớp khí CO2 và lại bị khí CO2 và hơi nước trong không khí hấp thụ, do đó nhiệt độ của khí quyển bao quanh Trái đất sẽ tăng lên tăng nhiệt độ bề mặt Trái đất (xem hình 1.), hiện tượng này được gọi là “hiệu ứng nhà kính”(green house effect), vì lớp cacbon đioxit ở đây có tác dụng tương tự như lớp kính giữ nhiệt của nhà kính trồng rau xanh trong mùa đông.Tính chất nguy hại của hiệu ứng nhà kính hiện nay là làm tăng nồng độ các khí này trong khí quyển sẽ có tác dụng làm tăng mức nhiệt độ từ ấm tới nóng, do đó gây nên những vấn đề MT của thời đại. các khí nhà kính bao gồm: CO2, CFC, CH4, N2O.Hoffman và Wells (1987) cho biết, một số loại khí hiếm có khả năng làm tăng nhiệt độ của Trái đất. Trong số 16 loại khí hiếm thì NH4 có khả năng lớn nhất, sau đó là N2O, CF3Cl, CF3Br, CF2Cl2 và cuối cùng là SO2.1.5.4. Tài nguyên bị suy thoái.- Rừng, đất rừng và đồng cỏ hiện vẫn đang bị suy thoái hoặc bị triệt phá mạnh mẽ, đất hoang bị biến thành sa mạc. Một bằng chứng mới cho thấy sự biến đổi khí hậu cũng là nguyên nhân gây thêm tình trạng xói mòn đất ở nhiều khu vực. Theo FAO, trong vòng 20 năm tới, hơn 140 triệu ha đất sẽ bị mất đi giá trị trồng trọt và chăn nuôi.Đất đai ở hơn MTBức xạ mặt trời (sóng ngắn)Bức xạ nhiệt từ mặt đất (sóng dài)Bức xạ từ nhiệt từ mặt đất (sóng dài)Khí quyểnBề mặt trái đấtHình1.5: Hiệu ứng nhà kính của CO2A BA. Khi trong khí quyển có nồng độ khí CO2 bình thường B. Khi trong khí quyển có nồng độ khí CO2 lớn100 nước trên thế giới đang chuyển chậm sang dạng hoang mạc, có nghĩa là 900 triệu người đang bị đe dọa. Trên phạm vi toàn cầu, khoảng 25 tỷ tấn đất đang bị cuốn trôi hằng năm vào các sông ngòi và biển cả.- Diện tích rừng của thế giới còn khoảng 40 triệu km2, song cho đến nay, diện tích này đã bị mất đi một nửa, trong số đó, rừng ôn đới chiếm khoảng 1/3 và rừng nhiệt đới chiếm 2/3.Sự phá hủy rừng xảy ra mạnh chủ yếu ở các nước đang phát triển.- Với tổng lượng nước là 1386.106km3, bao phủ gần ¾ diện tích bề mặt Trái đất, nhưng loài người vẫn “khát”giữa đại dương mênh mông, bởi vì lượng nước ngọt chỉ chiếm 2,5% tổng lượng nước mà hầu hết tồn tại dưới dạng đóng băng và tập trung ở hai cực (chiếm 2,24%), còn lượng nước ngọt mà con người có thể sử dụng trực tiếp là 0,26%. Gần 20% dân số thế giới không được dùng nước sạch và 50% thiếu các hệ thống vệ sinh an toàn.1.5.5. Ô nhiễm môi trường đang xảy ra ở quy mô rộngTrước tốc độ phát triển nhanh chóng của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa. Nhiều vấn đề MT tác động ở các khu vực nhỏ, mật độ dân số cao. Ô nhiễm không khí, rác thải, chất thải nguy hại, ô nhiễm tiếng ồn và nước đang biến những khu vực này thành các điểm nóng về MT.Bước sang thế kỷ XX, dân số thế giới chủ yếu sống ở nông thôn, số người sống tại các đô thị chiếm 1/7 dân số thế giới. Đến cuối thế kỷ XX, dân số sống ở đô thị đã tăng lên nhiều và chiếm tới 1/2 dân số thế giới.Năm 1950, có 3 trong số 10 thành phố lớn nhất trên thế giới là ở các nước đang phát triển như: Thượng Hải (Trung Quốc), Buenos Aires (Achentina) và Calcuta (Ấn Độ).Năm 1990, 7 thành phố lớn nhất thế giới là ở các nước đang phát triển. Năm 1995 và 2000 đã tăng lên 17 siêu đô thị (xem bảng 1.5)Bảng 1.5: Dân số các siêu đô thịThành phố 1995 20001. Tokyo, Nhật Bản2. Sao Paulo, Braxin3. New York, Mỹ4. Mexico City, Mexico5. Thượng Hải, Trung Quốc6. Bombay, Ấn Độ7. Los Angeles, Mỹ8. Bắc Kinh, Trung Quốc9. Calcuta, Ấn Độ26,816,416,315,615,115,112,412,411,727,917,816,616,417,218,113,114,212,710. Seoul, Hàn Quốc11. Jakarta, Inđonêxia12. Bueros Aires, Braxin13. Tianjin, Trung Quốc14. Lagos, Nigeria15. Rio de Janeiro, Braxin16. New Dehli, Ấn Độ17. Karachi, Pakistan18. Cairo, Ai Cập19. Manila, Philippin20. Dakha, Bangladet21. Bangkok, Thái Lan11,611,511,010,710,39,99,99,99,79,37,86,612,314,112,812,413,510,211,712,110,710,810,27,3Ở Việt Nam, trong số 621 đô thị thì chỉ có 3 thành phố trên 1 triệu dân. Trong vòng 10 năm đến, nếu không quy hoạch đô thị hợp lý thì có khả năng TP HCM và HN sẽ trở thành siêu đô thị khi đó những vấn đề MT trở nên nghiêm trọng hơn. 1.5.6. Sự gia tăng dân số Con người là chủ của Trái đất, là động lực chính làm tăng thêm giá trị của các điều kiện kinh tế - xã hội và chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, hiện nay đang xảy ra tình trạng dân số gia tăng mạnh mẽ, chất lượng cuộc sống thấp, nhiều vấn đề MT nghiêm trọng cho nên đã gây ra xu hướng làm mất cân bằng giữa dân số và MT.Đầu thế kỷ XIX dân số thế giới mới có 1 tỷ người, đến năm 1927 tăng lên 2 tỷ người, năm 1960 - 3 tỷ, năm 1974 - 4 tỷ, năm 1987 - 5 tỷ và 1999 là 6 tỷ.Mỗi năm dân số thế giới tăng thêm khoảng 78 triệu người. Theo dự báo đến năm 2015, dân số thế giới sẽ ở mức 6,9 – 7,4 tỷ người và đến 2025 dân số sẽ là 8 tỷ người và năm 2050 sẽ là 10,3 tỷ người, trong đó 95% dân số tăng thêm nằm ở các nước đang phát triển, do đó sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là vấn đề MT.Nhận thức được tầm quan trọng của sự gia tăng dân số trên thế giới, nhiều quốc gia đã phát triển chương trình Kế hoạch hóa dân số, mức tăng trưởng dân số toàn cầu đã giảm từ 2% mỗi năm vào những năm trước 1980 xuống còn 1,7% và xu hướng này ngày càng thấp hơn.Sự gia tăng dân sô tất nhiên dẫn đến sự tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên và hậu quả dẫn đến ô nhiễm MT. Ở Mỹ, hằng năm 270 triệu người sử dụng khoảng 10 tỷ tấn nguyên liệu, chiếm 30% trữ lượng toàn hành tinh. 1 tỷ người giàu nhất thế giới tiêu thụ 80% tài nguyên của Trái đất. Theo LHQ, nếu toàn bộ dân số của Trái đất có cùng mức tiêu thụ trugn bình như người Mỹ hoặc Châu Âu thì cần phải có 3 Trái đất mới đáp ứng đủ nhu cầu cho con người. Vì vậy, mỗi quốc gia cần phải đảm bảo sự hài hòa giữa: dân số, hoàn cảnh MT, tài nguyên, trình độ phát triển, kinh tế - xã hội.1.5.7. Sự suy giảm tính đa dạng sinh học trên Trái đất Các loài động thực vật qua quá trình tiến hóa hằng trăm triệu năm đã và đang góp phần quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng MT sống trên Traí đất, ổn định khí hậu, làm sạch các nguòn nước, hạn chế xói mòn đất, làm tăng độ phì nhiêu đất.Sự đa dạng của tự nhiên cũng là nguồn vật liệu quý giá cho các ngành công nghiệp, dược phẩm, du lịch, là nguồn thực phẩm lâu dài của con người và là nguồn gen phong phú để tạo ra các giống loài mới. Sự đa dạng về các giống loài động thực vật trên hành tinh có vị trí vô cùng quan trọng. Việc bảo vệ đa dạng sinh học có ý nghĩa đạo đức, thẩm mỹ và lòa người phải có trách nhiệm tuyệt đối về mặt luân lý trong cộng đồng sinh vật. Đa dạng sinh học lại là nguồn tài nguyên nuôi sống con người. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề mất đa dạng sinh học đang là vấn đề nghiêm trọng, nguyên nhân chính của sự mất đa dạng sinh học là:- Mất nơi sinh sống do chặt phá rừng và phát triển kinh tế.- Săn bắt quá mức để buôn bán.- Ô nhiễm đất, nước và không khí.- Việc du nhập nhiều loài ngoại lai cũng là nguyên nhân gây mất đa dạng sinh họcHầu hết các loài bị đe dọa đều là các loài trên mặt đất và trên một nửa sống trong rừng. Các nơi cư trú nước ngọt và nước biển, đặc biệt là các dải san hô là những môi trường sống rất dễ bị thương tổn.Hộp 1.1.Nguyên nhân Ví dụ- Phá hủy nơi sinh sống- Săn bắn để thương mại hóa- Săn bắn với mục đích thể thao- Kiểm soát sâu hại và thiên dịch- Ô nhiễm, ví dụ: hóa chất bảo vệ thực vật, hữu cơ- Xâm nhập của các loài lạ- Chim di cư, các động vật thủy sinh- Báo tuyết, hổ, voi- Bồ câu, chim gáy, cú- Nhiều loài sống trên cạn và dưới nước- Chim đại bàng, hải sản quý- Ốc bươu vàng, trinh nữ, côn trùng đưa các loài vào làm thức ăn cho chim1.6.Khoa học - Công nghệ và Quản lý môi trường• Khoa học MT nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với MT. Từ các nghiên cứu đó, khoa học MT đề xuất các mô hình sinh thái hợp lý, đảm bảo sự cân bằng sinh thái giữa con người và MT.• Công nghệ MT là tổng hợp các biện pháp vật lý, hóa học, sinh học nhằm ngăn ngừa và xử lý các chất độc hại phát sinh từ quá trình sản xuất và hoạt động của con người.• Quản lý MT là tổng hợp các biện pháp luật pháp, kỹ thuật, chính sách, kinh tế nhằm hạn chế tác động có hại của phát triển kinh tế xã hội đến MT Ba nội dung trên của ngành khoa học MT không thay thế cho nhau mà chỉ hổ trợ và bổ sung cho nhau, đảm bảo cho MT sống luôn trong lành và thích hợp với con người. . sản xuất của mình. Có thể phân loại chi tiết chức năng này thành các loại sau:- Chức năng biến đổi lý – hóa học- Chức năng biến đổi sinh hóa- Chức năng biến. Hình1.1: Các chức năng chủ yếu của môi trường (KHMT) • MT là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho đời sống và hoạt động sản xuất của con ngườiTrong

— Xem thêm —

Từ khóa:

Xem thêm: Các chức năng chủ yếu của môi trường, Các chức năng chủ yếu của môi trường, Các chức năng chủ yếu của môi trường

Gửi bình luận

Bình luận
Lên đầu trang
  • mydoc
    mydoc · Vào lúc 02:10 pm 08/02/2013
    Cám ơn bạn nhiều, sao bạn không up thêm để mọi người cùng đọc
  • Cam nang kinh doanh
    Cam nang kinh doanh · Vào lúc 05:04 pm 20/03/2013
    Cám ơn bạn đã cung cấp tài liệu này
  • Lưu Thị Quỳnh
    Lưu Thị Quỳnh · Vào lúc 05:17 am 08/05/2013
    Cảm ơn bạn đã tổng hợp những tài liệu này.
  • fresh boy 22
    fresh boy 22 · Vào lúc 04:15 am 01/12/2013
    Cảm ơn bạn nhiều nhé, mình mà biết đến bài này sớm hơn thì tốt quá 
  • fresh boy 25
    fresh boy 25 · Vào lúc 10:54 pm 25/12/2013
    Quá hay bạn ơi, mình đang cần các tài liệu này.
Xem thêm
Đăng ký

Generate time = 0.0758080482483 s. Memory usage = 13.87 MB