Thực trạng cạnh tranh của hoạt động phát hành thẻ tại ngân hàng NHTMCP Ngoại Thương (VietcomBank) VN

phạm thị hải yến
phạm thị hải yến(8410 tài liệu)
(20 người theo dõi)
Lượt xem 5
0
Tải xuống 2,000₫
Số trang: 89 | Loại file: DOC
0
Thêm vào bộ sưu tập

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 15/04/2013, 00:43

Mô tả: Thực trạng cạnh tranh của hoạt động phát hành thẻ tại ngân hàng NHTMCP Ngoại Thương (VietcomBank) VN LỜI NÓI ĐẦU Sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin trong thế kỷ 20 và việc ứng dụng những thành tựu của nó vào nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội đã tạo nên những sản phẩm tiện ích đối với con người. Thẻ ngân hàng đã ra đời trên cơ sở kết hợp hài hoà giữa công nghệ ngân hàng và công nghệ thông tin. Được xem là một phương thức thay thế tiền mặt hàng đầu trong các giao dịch tiêu dùng, thẻ ra đời không chỉ đem lại lợi ích cho ngân hàng và khách hàng mà còn có tác dụng tích cực đến nền kinh tế. Trong hơn nửa thế kỷ qua, thẻ đã trở thành phương tiện thanh toán chủ yếu trong tiêu dùng cá nhân ở nhiều nước trên thế giới. Việt Nam vẫn được coi là một quốc gia sử dụng quá nhiều tiền mặt. Tình trạng giao dịch quá nhiều bằng tiền mặt dẫn đến việc phải sử dụng nhiều nhân lực, tốn nhiều thời gian và làm tăng chi phí hoạt động. Theo ước đoán của một chuyên gia ngân hàng, tình trạng sử dụng quá lớn tiền mặt trong nền kinh tế nước ta hiện nay đang làm cho chúng ta mỗi năm mất đi tới 1 tỷ đô la Mỹ- một con số khổng lồ nếu so sánh với mức thu nhập quốc dân còn khiêm tốn. Thẻ xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1990 bắt đầu bằng việc Ngân hàng Ngoại thương (NHNT) thực hiện hoạt động thanh toán thẻ tín dụng quốc tế. Từ đó đến nay, NHNT đã không ngừng đẩy mạnh hoạt động thanh toán thẻ, đồng thời từng bước thực hiện phát hành thẻ tại Việt Nam. Tuy nhiên cho đến nay, thẻ vẫn chưa thay thế được tiền mặt để tạo ra một cuộc cách mạng về giao dịch như nó từng tạo ra trên thế giới. Tại Việt Nam, NHNT luôn đi đầu trong hoạt động kinh doanh thẻ nói chung cũng như trong nghiệp vụ phát hành thẻ nói riêng. Tuy nhiên, Ngân hàng cũng gặp phải một sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng thương mại trong nước và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Vì vậy, việc nghiên cứu các đối thủ, từ đó tìm ra những giải pháp thích hợp để tăng tính cạnh tranh 1 của Ngân hàng trong hoạt động phát hành thẻ, tăng lợi nhuận của Ngân hàng là điều cần phải được thực hiện. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THẺ I. Hai hình thức thanh toán tiền tệ Tiền tệ vừa là sản phẩm vừa là công cụ phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ thanh toán chi trả lẫn nhau phải dùng tiền tệ. Vì vậy, thanh toán tiền tệ là một yêu cầu khách quan, là điều kiện cần thiết để phục vụ cho quá trình tái sản xuất xã hội. Thanh toán tiền tệ được thực hiện dưới hai hình thức: thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt. Thanh toán tiền mặt Thanh toán dùng tiền mặt là việc chi trả trực tiếp bằng tiền mặt trong các quan hệ thanh toán thu chi. Đặc điểm của mối quan hệ thanh toán này là việc thanh toán được thực hiện trực tiếp giữa người mua- người bán, không có sự xuất hiện của bên thứ ba, do đó các ngân hàng thương mại không có vai trò gì trong mối quan hệ thanh toán này. Trong thanh toán tiền mặt, sự vận động của hàng hoá gắn liền với sự vận động của tiền tệ và tiền tệ đóng vai trò làm vật môi giới trong quá trình lưu thông. Nhưng khi sản xuất và trao đổi phát triển đến một trình độ cao hơn thì việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt không còn giữ địa vị độc tôn, không những thế nó còn tỏ ra có nhiều điểm không thích hợp. Sự hạn chế của nó thể hiện ở chỗ giao dịch thường có giá trị lớn hơn trước, do đó cần phải có một khối lượng lớn tiền mặt. Điều đó làm cho các đơn vị kinh doanh tốn nhiều chi phí và chịu nhiều rủi ro, đặc biệt là khi không gian sản xuất được mở rộng, nhiều đơn vị kinh doanh có mối quan hệ làm ăn ở rất xa nhau, đồng thời gây ra nhiều khó khăn cho nhà nước trong việc quản lý tiền tệ. 2 Những bất tiện của việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán đòi hỏi phải có thêm những hình thức thanh toán thuận lợi hơn. Bên cạnh đó, với sự phát triển vượt bậc của hệ thống ngân hàng, các dịch vụ, các công cụ thanh toán đã được ngân hàng nghiên cứu đưa ra để khách hàng lựa chọn cho mình một hình thức thanh toán thích hợp thay cho thanh toán tiền mặt. Thanh toán không dùng tiền mặt phát sinh từ đó và càng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán không dùng tiền mặt là tổng hợp các mối quan hệ chi trả tiền tệ không có sự xuất hiện của tiền mặt. Đặc trưng của phương thức này là sự vận động của hàng hoá, dịch vụ độc lập với sự vận động của tiền tệ cả về thời gian lẫn không gian và thông thường hai quá trình này không ăn khớp với nhau. Trong phương thức này, tiền mặt không làm trung gian trao đổi mà chính hình thức tiền tệ kế toán (tiền ghi sổ) thực hiện chức năng này. Khác với thanh toán dùng tiền mặt chỉ là quan hệ thanh toán giữa người mua và người bán, trong thanh toán không dùng tiền mặt, ngoài chủ thể chịu trách nhiệm thanh toán và chủ thể được hưởng thường có sự tham gia của ít nhất là một ngân hàng nên ngân hàng có một vai trò to lớn, vừa là người tổ chức, vừa là người thực hiện, đồng thời là người kết thúc quá trình thanh toán. Sự tham gia của ngân hàng cùng với các phương tiện hiện đại và các mối quan hệ đa dạng vào quá trình thanh toán sẽ giúp cho việc thực hiện các hoạt động thanh toán cho doanh nghiệp diễn ra nhanh chóng và an toàn. Các đơn vị kinh doanh chỉ cần mở tài khoản tại ngân hàng và ký lệnh thanh toán khi cần thiết là mọi hoạt động thanh toán coi như đã được hoàn tất. Hơn nữa, số tiền trong tài khoản của doanh nghiệp lại rất an toàn và có thể sinh lãi trong thời gian chưa dùng đến. Như vậy, hoạt động thanh toán đã được đơn giản rất nhiều, giảm bớt khó khăn cho nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp. Các hoạt động như vận chuyển tiền, kiểm tra tiền để thanh toán không còn nữa, lượng tiền trong lưu thông và các chi phí lưu thông cần thiết như chi phí in tiền, vận chuyển và bảo quản tiền giảm, tiền nhàn rỗi lại được tận dụng để phát triển kinh tế xã hội. 3 Hoạt động thanh toán qua ngân hàng, cùng với sự phát triển của những ứng dụng của công nghệ thông tin trong ngân hàng, đang ngày càng phát triển. Hệ thống ngân hàng ngày càng được hoàn thiện về mọi mặt để thực hiện tốt chức năng thanh toán cũng như các chức năng khác mà nền kinh tế đã giao phó cho ngân hàng. Một số công cụ thanh toán không dùng tiền mặt Vì tính chất hoạt động thanh toán rất đa dạng, diễn ra trong các phạm vi khác nhau, phục vụ cho các đối tượng khác nhau, do vậy các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt cũng có nhiều loại khác nhau. Sau đây chỉ đề cập đến một số phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt có sự xuất hiện của ngân hàng làm trung gian thanh toán: Sec: là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện, do khách hàng của ngân hàng ra lệnh cho ngân hàng trích ra một số tiền nhất định trên tài khoản của mình mở tại ngân hàng, để trả cho người cầm séc hoặc cho người (tổ chức hay cá nhân) được chỉ định trên tờ sec. Việc sử dụng séc cho phép việc thanh toán được thực hiện ở xa và an toàn, tiện lợi hơn tiền mặt. Uỷ nhiệm thu: là phương tiện thanh toán mà tổ chức hoặc cá nhân uỷ nhiệm cho ngân hàng thu hộ tiền hàng hoá đã giao hoặc dịch vụ đã cung ứng. Việc thanh toán này yêu cầu bên bán phải hoàn toàn tin tưởng vào bên mua. Uỷ nhiệm chi- chuyển tiền: là lệnh chi tiền của chủ tài khoản ra lệnh cho ngân hàng trích tài khoản của mình để trả cho đơn vị hoặc cá nhân được hưởng. Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi được thực hiện với những đối tác có tín nhiệm lẫn nhau, vì vậy cùng với uỷ nhiệm thu, nó không thích hợp đối với thị trường đông người mua và người bán và họ không có thông tin về nhau. Thư tín dụng: là phương tiện thanh toán trong điều kiện đơn vị bán hàng đòi hỏi đơn vị mua phải có đủ tiền để chi trả ngay và phù hợp với tổng số tiền hàng hoá giao theo hợp đồng hoặc theo đơn đặt hàng đã ký. Hình 4 thức này thường được sử dụng trong thanh toán quốc tế. Thư tín dụng được ngân hàng bảo đảm nhưng việc thực hiện phức tạp, tốn kém. Thẻ: là một phương tiện thanh toán hiện đại do ngân hàng (hoặc công ty) phát hành cho khách hàng của mình để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt. Các công cụ khác, ngoài séc, đều yêu cầu một khoản phí khá lớn cho từng giao dịch, đặc biệt là những giao dịch khối lượng không lớn, vì vậy đối với những giao dịch xảy ra thường xuyên thì thẻ tỏ ra có ưu thế hơn hẳn những công cụ còn lại. II. Tổng quan về thẻ 1. Sự hình thành và phát triển thẻ Thẻ đã được đưa vào sử dụng rộng rãi trên thế giới. Trong phạm vi rộng, thẻ nói chung bao gồm tất cả các loại: thẻ séc, thẻ rút tiền mặt, thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng… Thẻ thanh toán là một trong những thành tựu của ngành công nghiệp ngân hàng. Đó là cuộc cách mạng trong lĩnh vực tài chính cá nhân và sẽ không có sự bùng nổ trong bán lẻ vào những năm 1970 và 1980 nếu không có sự ra đời của thẻ. Sự phát triển của thẻ là thành quả của sự đổi mới và khả năng marketing của các chuyên gia ngân hàng thế giới. Tuy nhiên, ngân hàng không phải là người đầu tiên phát hành thẻ. Tại Mỹ, các thẻ bách hoá, thẻ du lịch và giải trí được phát hành trước khi bước vào ngành công nghiệp ngân hàng. Một vài yếu tố đã thúc đẩy các ngân hàng tham gia vào lĩnh vực thẻ. Nó cho phép các ngân hàng đưa ra được các dịch vụ mới cho các khách hàng hiện có và là một phương tiện tối ưu để hấp dẫn các khách hàng mới- các cá nhân cũng như những doanh nghiệp bán lẻ. Mặc dù không phải là một yếu tố quyết định, có lẽ nhiều ngân hàng đã tham gia vào lĩnh vực này nhằm đuổi kịp những phát triển mà sự cạnh tranh đòi hỏi. Dĩ nhiên là các ngân hàng cũng được khuyến khích áp dụng các kế hoạch thẻ do khả năng có thể gia tăng lợi nhuận của chính ngân hàng. Thẻ xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1914 khi tổng công ty xăng dầu California (ngày nay là công ty Mobie) cấp thẻ cho nhân viên và một số 5 khách hàng của mình. Thẻ chỉ nhằm khuyến khích bán sản phẩm của công ty chứ không kèm theo việc gia hạn tín dụng. Sau đó, các hệ thống cửa hàng bán lẻ tiếp tục phát triển hình thức tài trợ khách hàng này thông qua việc phát hành thẻ, theo hình thức tiêu trước trả tiền sau, cho các khách hàng phù hợp với những tiêu chuẩn thẩm định của họ để khuyến khích tiêu dùng, tăng doanh thu. Thực sự thì hình thức này đã đem lại những hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, việc phát hành thẻ (hay các phiếu bán hàng) có nhiều hạn chế với các cửa hàng: khả năng tài trợ có hạn, chi phí quản lý cao ảnh hưởng đến lợi nhuận, thẻ của mỗi hệ thống chỉ sử dụng được trong hệ thống đó nên tính tiện lợi của thẻ không cao, nhiều đại lý nhỏ không đủ điều kiện và khả năng cung cấp tín dụng cho các khách hàng của họ. Nhu cầu có một loại thẻ chung để có thể sử dụng thanh toán tại các điểm bán hàng trở nên rất cấp thiết và chính nó đã tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính vào cuộc. Năm 1946, dạng thẻ đầu tiên của thẻ ngân hàng là Charge-It của ngân hàng John Biggins xuất hiện tại Mỹ, cho phép các khách hàng thực hiện các giao dịch nội địa bằng các phiếu có giá trị do ngân hàng phát hành. Các đại lý nộp các phiếu giao dịch cho ngân hàng Biggins, ngân hàng sẽ thanh toán các giao dịch đó cho các đại lý và thu lại tiền từ các khách hàng. Những năm sau đó, ngày càng có nhiều tổ chức tài chính tham gia vào thị trường thẻ. Thẻ Charge-It đã mở đường cho sự ra đời của thẻ vào năm 1951 do ngân hàng Franklin National, New York phát hành. Tại đây, khách hàng xin cấp hạn mức tín dụng và được thẩm định khả năng thanh toán, tình hình tài chính thông qua hoạt động tín dụng trước đó của họ với ngân hàng. Những khách hàng đủ tiêu chuẩn sẽ được cấp thẻ để thực hiện giao dịch tại các đại lý chấp nhận thẻ. Các cơ sở này khi nhận được giao dịch sẽ liên hệ với ngân hàng, nếu được phép chuẩn chi họ sẽ thực hiện giao dịch và đòi tiền sau đối với ngân hàng. Các chủ thẻ phải trả toàn bộ dư nợ vào cuối tháng. Năm 1955, hàng loạt thẻ mới như Trip Charge, Golden Key, Gourmet Club rồi đến Carte Blanche và American Express (1958), JCB (1961) ra đời. Năm 1960, ngân hàng Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ ngân hàng 6 của riêng mình, the Bank Americard, và đã đạt được nhiều thành công. Với những lợi ích của hệ thống thanh toán này, ngày càng có nhiều tổ chức tín dụng tham gia thanh toán. Nhiều tổ chức phát hành thẻ khác bắt đầu liên kết để cạnh tranh với Bank of America. Năm 1966, 14 ngân hàng Mỹ liên kết thành tổ chức Interbank (Interbank Card Association-ICA), một tổ chức mới có khả năng trao đổi thông tin các giao dịch thẻ tín dụng. Năm 1967, bốn ngân hàng California đổi tên từ California Bankcard Association thành Western States BankCard Association (WSBA) và mở rộng mạng lưới thành viên với các tổ chức tài chính khác ở phía tây nước Mỹ. Sản phẩm thẻ của tổ chức này là Master Charge. Tổ chức này cũng cấp phép cho Interbank sử dụng tên và thương hiệu Master Charge. Vào cuối thập niên 1960, nhiều tổ chức tài chính đã trở thành thành viên của Master Charge và đủ sức cạnh tranh với Bank Americard. Tuy nhiên, để hình thức thanh toán thẻ có thể thu hút được khách hàng cần phải có một mạng lưới thanh toán lớn, không chỉ trong phạm vi một địa phương, một quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu. Đứng trước đòi hỏi đó, Inter Bank (Master Charge) và Bank of American (Bank Americard) đã xây dựng một hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn trong xử lý thanh toán thẻ toàn cầu. Năm 1977, Bank Americard trở thành Visa USA và sau đó trở thành tổ chức thẻ quốc tế Visa. Năm 1979, Master Charge cũng trở thành một tổ chức thẻ quốc tế lớn khác là Master Card. 4 tổ chức thẻ quốc tế lớn nhất hiện nay là Visa, Master Card, Amex, JCB. Do thẻ ngày càng được sử dụng rộng rãi, các công ty và các ngân hàng liên kết với nhau để khai thác lĩnh vực thu lợi nhuận này. Thẻ dần dần được xem như một công cụ văn minh, thuận lợi trong các cuộc giao dịch mua bán. Các loại thẻ Master Card, Visa, Amex, JCB được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và cùng phân chia những thị trường rộng lớn. Chính sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại và những ứng dụng của cuộc cách mạng thông tin trong lĩnh vực ngân hàng đã góp phần thúc đẩy sự ra đời của thẻ với nhiều tên gọi khác nhau mà hiện nay đang được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Với lợi thế về vốn, 7 chuyên môn trong nghiệp vụ thẩm định, cơ sở hạ tầng sẵn có phục vụ cho hoạt động phát hành và thanh toán thẻ, thẻ do ngân hàng phát hành thực sự được đông đảo công chúng quan tâm và ưa thích. Trong khoảng thời gian 25 năm trở lại đây, ngành công nghiệp thẻ thanh toán, đặc biệt là thẻ ngân hàng mới thực sự được phát triển, mặc dù nó đã ra đời từ rất lâu trước đó. 2. Một số nội dung liên quan đến thẻ 2.1. Khái niệm Thẻ là một tấm nhựa chứa băng từ hoặc chip điện tử để lưu giữ các thông tin, số liệu cần thiết đã được mã hoá. Nói một cách ngắn gọn, thẻ là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng hoặc tổ chức tài chính phát hành cấp cho khách hàng và được sử dụng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lí, các máy rút tiền tự động hoặc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận thẻ trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ. Đối với ngân hàng, việc phát hành và thanh toán thẻ là hoạt động bao gồm các nghiệp vụ cho vay, huy động vốn (đặt cọc hoặc có tiền trong tài khoản), thanh toán trong nước và ngoài nước. 2.2. Mô tả thẻ về kĩ thuật Hầu hết các loại thẻ thanh toán quốc tế làm bằng nhựa cấu tạo với 3 lớp được ép với kĩ thuật cao. Thẻ có kích thước: 84mm x 54mm x 0,76mm có góc tròn gồm 2 mặt có in đầy đủ các yếu tố như: nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo của nhà phát hành thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ và ngày hiệu lực… và một số yếu tố khác tuỳ theo quy định của các tổ chức thẻ quốc tế hoặc hiệp hội phát hành thẻ. • Mặt trước của thẻ gồm: -Tên và biểu tượng của ngân hàng phát hành thẻ, của tổ chức thẻ: Mỗi loại thẻ có một biểu tượng riêng, mang tính đặc trưng của tổ chức phát hành thẻ. Đây được xem như một yếu tố an ninh, chống lại sự giả mạo. 8 -Số thẻ (được in nổi): số này dành riêng cho mỗi chủ thẻ, được dập nổi trên thẻ và được in lại trên hoá đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ. Tuỳ theo từng loại thẻ mà có chữ số, cách cấu trúc theo nhóm khác nhau. -Họ tên chủ thẻ: in chữ nổi, là tên của cá nhân nếu là thẻ cá nhân, tên của người được uỷ quyền nếu là thẻ công ty. -Ngày hiệu lực của thẻ (được in nổi): là thời hạn mà thẻ được phép lưu hành. Tuỳ theo từng loại thẻ mà có thể ghi ngày hiệu lực cuối cùng của thẻ hoặc ngày đầu tiên và ngày cuối cùng được sử dụng thẻ. -Ký tự an ninh trên thẻ, số mật mã của đợt phát hành: mỗi loại thẻ luôn có ký hiệu an ninh kèm theo, in phía sau của ngày hiệu lực nhằm tăng tính an toàn của thẻ, đề phòng giả mạo. Ngoài ra còn có thể có các yếu tố khác như: chữ kí, hình của chủ thẻ, hình nổi không gian 3 chiều (hoặc chip đối với thẻ điện tử). • Mặt sau của thẻ gồm: -Dải băng từ chứa các thông tin như: số thẻ, ngày hết hạn, tên chủ thẻ, ngân hàng phát hành, các yếu tố kiểm tra an toàn khác. -Dải băng chữ kí của chủ thẻ: cơ sở chấp nhận thẻ đối chiếu chữ ký này với chữ ký khi thực hiện thanh toán thẻ. 2.3. Phân loại thẻ 2.3.1. Theo công nghệ sản xuất: 1. Thẻ khắc chữ nổi: Các thông tin cần thiết được khắc nổi lên bề mặt của thẻ. Tấm thẻ đầu tiên đã được sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay người ta không sử dụng thẻ loại này nữa vì kỹ thuật sản xuất quá thô sơ, dễ bị làm giả. 2. Thẻ băng từ: được sản xuất dựa trên kĩ thuật từ tính với một băng từ chứa hai rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Thẻ này được sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm nay. Tuy nhiên, do thẻ mang tính thông tin cố định, khu 9 vực chứa thông tin hẹp không áp dụng được các kĩ thuật mã bảo đảm an toàn, thông tin trong thẻ không tự mã hoá được, người ta có thể đọc thẻ dễ dàng bằng thiết bị đọc gắn với máy vi tính nên có thể bị lợi dụng để lấy cắp tiền. 3. Thẻ điện tử có bộ vi xử lí chip (thẻ thông minh): là thế hệ mới nhất của thẻ, dựa trên kĩ thuật vi xử lí tin học. Thẻ được gắn một chip điện tử có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo. Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của chip điện tử khác nhau, có tính an toàn và bảo mật rất cao. Nhưng do giá thành cao, hệ thống máy móc chấp nhận thẻ đắt nên việc sử dụng thẻ này còn chưa phổ biến như thẻ từ. Việc phát hành và chấp nhận thẻ thông minh mới chỉ phổ biến ở các nước phát triển dù các tổ chức thẻ vẫn đang khuyến khích các ngân hàng thành viên đầu tư để phát hành và chấp nhận loại thẻ này nhằm giảm tỷ lệ rủi ro do giả mạo thẻ. 2.3.2. Theo chủ thể phát hành: 1. Thẻ do ngân hàng phát hành: giúp khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng. Loại thẻ này được sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Nó không chỉ lưu hành trong một quốc gia mà còn có thể lưu hành trên toàn cầu như thẻ Visa, Master, 2. Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: là các loại thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành như Diners Club, Amex, và cũng lưu hành trên toàn cầu. 2.3.3. Theo tính chất thanh toán của thẻ: 1. Thẻ tín dụng: là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng tuần hoàn để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận loại thẻ này. Thẻ tín dụng thường do ngân hàng phát hành và thường được quy định một hạn mức tín dụng nhất định trên cơ sở khả năng tài chính, tài sản thế chấp của chủ thẻ. Chủ thẻ chỉ được phép chi tiêu trong phạm vi hạn mức đã cho và phải thanh toán cho ngân hàng phát hành thẻ theo kỳ hàng tháng, lãi suất tín dụng tuỳ 10 . chức thẻ quốc tế hoặc hiệp hội phát hành thẻ. • Mặt trước của thẻ gồm: -Tên và biểu tượng của ngân hàng phát hành thẻ, của tổ chức thẻ: Mỗi loại thẻ có. thể phát hành: 1. Thẻ do ngân hàng phát hành: giúp khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng

— Xem thêm —

Từ khóa: ngân hàngngân hàng thương mạitài chínhbáo cáokinh tế thị trườngvay vốntín dụng ngân hàngViệt Namlãi xuấtLuận văn

Xem thêm: Thực trạng cạnh tranh của hoạt động phát hành thẻ tại ngân hàng NHTMCP Ngoại Thương (VietcomBank) VN, Thực trạng cạnh tranh của hoạt động phát hành thẻ tại ngân hàng NHTMCP Ngoại Thương (VietcomBank) VN

Gửi bình luận

Bình luận
Lên đầu trang
  • Yeu Khoa Hoc
    Yeu Khoa Hoc · Vào lúc 04:57 am 27/10/2013
    Tài liệu Thực trạng cạnh tranh của hoạt động phát... rất hay và bổ ích. cám ơn bạn rất nhiều!
  • meo.uno
    meo.uno · Vào lúc 09:43 pm 24/11/2013
    Cám ơn bạn nhiều, sao bạn không up thêm để mọi người cùng đọc
  • Mirumiru
    Mirumiru · Vào lúc 08:49 pm 30/12/2013
    Cảm ơn bạn nhé. tài liệu hay mà
  • williamruoi
    williamruoi · Vào lúc 01:21 pm 25/01/2014
    Cám ơn bạn nha… đúng tài liệu mình đang cần :)
  • c'est la vie
    c'est la vie · Vào lúc 02:38 am 26/01/2014
    Mình tài được file rồi! Rất cảm ơn 123doc.vn
Xem thêm
Đăng ký

Generate time = 0.0772700309753 s. Memory usage = 13.96 MB