Lịch sử Đảng

Nguyễn Văn Tình
Nguyễn Văn Tình(3 tài liệu)
(0 người theo dõi)
Lượt xem 11
1
Tải xuống
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 18 | Loại file: DOC
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 15/05/2013, 10:04

Mô tả: lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam Câu 1: Nguyễn Ái Quốc đi tìm đường cứu nước và chuẩn bị thành lập Đảng Nguyễn Ái Quốc tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin nhờ hai nhân tố khách quan và chủ quan: * Nhân tố khách quan: - Xu thế phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trên thế giới nói chung và các nước thuộc địa nói riêng. Thế giới: + Quốc tế CS III (1919) ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt, một thắng lợi vĩ đại của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Quốc tế CS III kiên quyết ủng hộ PT giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, trong đó có VN. + Thắng lợi của CM T10 Nga (1917) mở ra 1 thời kì mới: thời kì đấu tranh giải phóng dân tộc và quá độ từ CNTB lên CNXH, cho thấy sự đúng đắn của CN Mác. Trong nước: Các PT yêu nước theo xu hướng phong kiến, tư sản, nông dân, .nổ ra đều thất bại à lâm vào tình trạng khủng hoảng đường lối àchỉ còn một con đường: CM vô sản. Cách mạng Việt Nam đang khủng hoảng về đường lối cứu nước và con đường cứu nước => Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin là con đường cách mạng mà NAQ đã mất nhiều năm tìm kiếm, giải đáp những vấn đề cơ bản cách mạng Việt Nam nói riêng cũng như cách mạng thuộc địa nói chung. +"Sơ thảo lần thứ nhất đề cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của Lênin đã đáp ứng nguyện vọng của NAQ, đó là: độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào à mở ra cánh cửa để NAQ đến với CN Mác - Lênin. + Quá trình tìm đường cứu nước và hoạt động chính trị: NAQ thấy ở đâu cũng có sự bóc lột à thấy rõ bản chất của TS, PK; xác định rõ giai cấp bóc lột và bị bóc lột; nhận thức được qui luật phát triển của lịch sử là thuộc về giai cấp vô sản và các dân tộc thuộc địa nhất định sẽ chiến thắng. * Nhân tố chủ quan: - Xuất phát từ quá trình tìm đường cứu nước NAQ đã thông qua lao động, học tập, nghiên cứu đã tự rèn luyện mình từ một trí thức yêu nước trở thành người vô sản có lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, có tinh thần CM và hết lòng vì đất nước, vì dân tộc. -Chủ nghĩa yêu nước trong NAQ và chủ nghĩa Mác-Lenin có cùng bản chất: + Có tính dân chủ. + Có tính nhân văn cao cả. + Đều hướng tới mục tiêu chung: giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người triệt để. - NAQ có vốn tri thức cách mạng phong phú (được tích lũy từ gia đình, quê hương, và qua quá trình học tập, làm việc .) - NAQ phát hiện ra những hạn chế của các phong trào yêu nước do Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, . khởi xướng: lỗi thời, nhỏ lẻ và không tưởng. - NAQ có tư duy sắc bén và nhạy cảm về chính trị: tuy chưa hiểu hết CN Mác và Luận cương của Lênin nhưng phát hiện ra đó là con đường giải phóng cho dân tộc, là thứ NAQ cần tìm. Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị thành lập Đảng: Năm 1911, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc) ra đi tìm đường cứu nước. Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm tìm hiểu cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Người rút ra kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có Cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật”. Vào tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo. Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (tháng 12/1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người và Người tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc). Tháng 6/1925 người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Mở các lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ cách mạng Việt Nam. Tác phẩm Đường cách mệnh chỉ rõ tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc mở đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hai cuộc cách mạng này có quan hệ mật thiết với nhau; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng “là việc chúng cả dân chúng chứ không phải việc của một hai người”, do đó phải đoàn kết toàn dân. Nhưng cái cốt của nó là công - nông và phải luôn ghi nhớ rằng công nông là người chủ cách mệnh, công nông là gốc cách mệnh. Muốn thắng lợi thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin. Về vấn đề đoàn kết quốc tế của cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc xác định: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”. Về phương pháp cách mạng, Người nhấn mạnh đến việc phải giác ngộ và tổ chức quần chúng cách mạng, phải làm cho quần chúng hiểu rõ mục đích cách mạng, biết đồng tâm hiệp lực để đánh đổ giai cấp áp bức mình, làm cách mạng phải biết cách làm, phải có “mưu chước”, có như thế mới bảo đảm thành công cho cuộc khởi nghĩa với sự nổi dậy của toàn dân… Tác phẩm Đường cách mệnh đã đề cập những vấn đề cơ bản của một cương lĩnh chính trị, chuẩn bị về tư tưởng, chính trị cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam. Câu 2: Đảng được thành lập và đường lối cách mạng của Đảng *Hội nghị thành lập Đảng: -Hoàn cảnh lịch sử: Cuối năm 1929 những người CMVN trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập 1 ĐCS thống nhất,chám dứt sự chia rẽ trong phong trào CS ở VN .điều này phản ánh quá trình tự ý thức của những người CSVN về nhu cầu thống nhất các tổ chức cộng sản thành 1 ĐCS duy nhất +27/10/1929 quốc tế cộng sản gửi những người CS đông dương tài liệu về việc thành lập 1 ĐCS ở đông dương,yêu cầu những người cs ở đông dương khắc phục ngay sự chia rẽ giữa các nhóm cộng sản và thành lập 1 đảng của giai cấp vô sản.quốc tế CS chỉ rõ phương thức để tiến tới thành lập đảng là phải bắt đầu từ việc xây dựng các chi bộ trong các nhà máy,xí nghiệp,chỉ rõ mối quan hệ giữa ĐCS đong dương với phong trào CS quốc tế +Nhận được tin về sự chia rẽ của ngững người CS đông dương.NAQ rời Xiêm đến TQ,người chủ trì hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, TQ, trong báo cáo gửi quốc tế cộng sản (18-2- 1930)NAQ viết ‘chúng tôi họp vào ngày 6-1…các đai biểu trở về An Nam ngày 8-2’Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 3 Đảng Lao Động Việt Nam(10-9-1960) quyết nghị lấy ngày 3-2 dương lịch hang năm làm ngày kỉ niệm thành lập đảng -Nội dung hội nghị Thành phần hội nghị hợp nhất gồm:1 đại biểu của quốc tế CS,2 đại biểu của đông dương CS đảng,2 đại biểu An Nam CS đảng hội nghị thảo luận đề nghị của NAQ gồm 5 điểm lớn,với nội dung +bỏ mọi thành kiến xung đột cũ,thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm CS ở đông dương +định tên đảng là đảng CSVN +thảo chính cương và điều lệ sơ lược của đảng +định kế hoạch việc thống nhất trong nước +cử một ban TW lâm thời gồm 9 người,trong đó có 2 đại biểu chi bộ CS TQ ở đông dương Hội nghị nhất trí với 5 điểm lớn theo đề nghị của NAQ và quyết định hợp nhất các tổ chức CS, lấy tên là ĐCSVN Hội nghị quyết định phương châm,kế hoạch thống nhất các tổ chức CS,quyết định ra báo ,tap chí của ĐCSVN +24-2-1930 theo yêu cầu của Đông Dương CS liên đoàn,ban chấp hành TW lâm thời họp và ra nghị quyết chấp nhận Đông Dương CS liên đoàn gia nhập ĐCSVN, như vậy đến ngày 24/2/1930 ĐCS đã hoàn tất việc hợp nhất 3 tổ chức CS ở VN Sự kiện ĐCSVN ra đời thể hiện bước phát triển biện chứng quá trình vận độngcủa CM VN,sự phát triển chất từ Hội VN cách mạng thanh niên đến 3 tổ chức CS,đến ĐCSVN trên nền tảng chủ nghĩa mác-leenin và quan điểm cách mạng NAQ *Chính cương vắn tắt - Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng: + Các văn kiện được thông qua trong hội nghị thành lập Đảng như: chính cương văn tắt, sách cương văn tắt, chương trình vắn tắt hợp thành cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. + Nôi dung: Xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để tiến đến XHCS. Xác định nhiệm vụ của cách mạng. · Về chính trị: Đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập thành lập chính phủ công nông và thành lập quân đội công nông. · Về kinh tế: Tịch thu sản nghiệp lớn của bọn đế quốc giao cho chính phủ công nông quản lí. Tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa giao cho dân cày nghèo. Xóa bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo, mở mang công nghiệp thực hiện ngày làm 8h. · Về văn hóa- xã hội: thực hiện nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục, dân chúng được tổ chức hội họp. · Về lực lượng cách mạng: cương lĩnh xác định Đảng phải thu phục được hạng dân cày và dựa vào hạng dân cày làm thổ địa cách mạng để đánh đổ bọn địa chủ phong kiến, gia sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức trung lâm để lôi kéo họ vào phe vô sản giai cấp. Đối với phú nông, trung tiểu địa chủ chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng họ ít lâu mới cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào ra mặt phản cách mạng thì phải kiên quyết đánh đổ. · Về lãnh đạo cách mạng: khẳng định giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng VN và Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận giái cấp và phải lãnh đạo được đại bộ phận giai cấp và phải lãnh đạo được dân chúng trong khi liên lạc với các giai cấp phải cẩn thận không khi nào nhượng bộ 1 chút lợi ích gì của công nông mà đi vào con đường thỏa hiệp. · Quan hệ của VN với cách mạng thế giới: xác định cách mạng VN là một bộ phận của cách mạng thế giới. Do vậy phải thực hành liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới nhất là vô sản Pháp Câu 3: Hội nghị 10/1930 – Cách mạng tháng 8/1945 a.Hoàn cảnh triệu tập Hội nghị. - Vừa mới ra đời Đảng cộng sản Việt Nam đã phát động được một cao trào cách mạng rộng lớn, với đỉnh cao Xô viết Nghệ -Tỉnh. - Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào cách mạng đang dâng cao. Ban chấp hành Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị lần thứ nhất vào 10/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc) do đồng chí Trần Phú chủ trì. b.Nội dung Hội nghị. - Đổi tên Đảng cộng sản Việt Nam thành Đảng cộng sản Đông Dương. - Thảo luận và thông qua Luận cương chính trị 10/1930 do Đồng chí Trần Phú soạn thảo. - Bầu BCH TW chính thức do Trần Phú làm tổng bí thư. c.Những điểm chủ yếu trong luận cương chính trị tháng 10/1930. *.Đường lối của cách mạng: Lúc đầu làm cách mạng tư sản dân quyền sau khi thắng lợi tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa *.Nhiệm vụ của cách mạng: Đánh đổ phong kiến và đế quốc.Hai nhiệm vụ đó khắng khít nhau. *.Mục tiêu của cách mạng: Làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. *.Lực lượng tham gia: Công nhân và nông dân là gốc của cách mạng. *.Lãnh đạo cách mạng: Là Đảng cộng sản Đông Dương. *.Quan hệ quốc tế.Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng thế giới. **Nhận xét: Luận cương đã xác định được nhiều vấn đề thuộc về chiến lược cách mạng nhưng cũng bộc lộ một số nhược điểm và hạn chế: - Chưa vạch rõ được mâu thuẩn chủ yếu của xã hội thuộc địa nên không nêu cao được vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu, mà còn nặng về đấu tranh giai cấp, vấn đề ruộng đất. - Đánh giá không đúng khả năng cách mạng của các giai cấp ngoài công nông như tư sản, tiểu tư sản và một bộ phận giai cấp địa chủ. *Cao trào 1930-1931 và 1936-1939 Sau cao trào 30-31(Xô viết- Nghệ Tĩnh) bị đế quốc phong kiến đàn áp cách mạng lui vào tạm thời thoái trào. Từ năm 36 trở đi trước tình hình chủ nghĩa phát xít xuất hiện, Đảng chuyển hướng từ phong trào đấu tranh với đường lối “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” sang “Đấu tranh cho hoà bình, dân chủ và cải thiện đời sống” đáp ứng được yêu cầu của quần chúng. Tại sao nói đây là hai cuộc tổng diễn tập cho CMt8-1945 vì: Đường lối của đảng được đưa ra thể nghiệm trong thực tế. Đã khẳng định trên thực tiễn vai trò và khả năng lãnh đạo CM của giai cấp công nhân Việt Nam thông qua Đảng lãnh đạo. Đã khẳng định vai trò và sức mạnh to lớn của q/chúng nhân dân, công nông và hình thành khối liên minh công nông trong thực tế đấu tranh Qua các cao trào đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng và nhân dân ta được tôi luyện, trưởng thành trong cuộc đấu tranh quyết liệt với kẻ thù. Rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý về xây dựng lực lượng cách mạng, và kết hợp hình thức đấu tranh, quy luật giành giữ chính quyền. Qua thực tiễn đấu tranh nhân dân ta càng thấy được bộ mặt thâm độc, tàm bạo của kẻ thù đế quốc, phong kiến. Đồng thời cũng xây dựng và củng cố được niềm tin vào thực lực của chính mình, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và tuơng lai, tiền đồ của cách mạng, để tiếp tục bền gan vững bước tiến lên. - Cao trào cách mạng 30-31 là cuộc tổng diễn tập đầu tiên chuẩn bị cho thắng lợi của CMT8 ở những bài học kinh nghiệm sau: + Muốn giành thắng lợi cho cách mạng phải có ĐCS được vũ trang bằng lý luận M-L lãnh đạo + Xây dựng đội quân chính trị của quần chúng mà nền tảng là khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo. + Phải sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để giành chính quyền và phải có đầy đủ thời cơ. - Cao trào CM 36-39 là cuộc tổng diễn tập lần thứ 2 ở chỗ: + Cao trào dân chủ 1936-1939 nói lên sức sống mãnh liệt của Đảng và nhân dân ta, sau thời kỳ thoái trào, sau đợt khủng bố tào bạo của kẻ thù đã nhanh chóng khôi phục được lực lượng và phát triển phong trào lên một quy mô mới. + Cao trào dân chủ 1936-1939, không phải là một cuộc vận động cải cách dân chủ thông thường. Nội dung thực chất của của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, vì nó chống cả hai kẻ thù là đế quốc và phong kiến(nhưng tập trung chống kẻ thù trực tiếp nhất là bọn phát xít và bọn phản động thuộc địa). Đó là nghệ thuật đánh lui từng bứơc, đánh đổ từng bộ phận kẻ thù, giành thắng lợi từng bước thích hợp cho cách mạng. + Cao trào dân chủ 1936-1939 đã đưa lại cho nhân dân ta những thắng lợi nhất định, buộc giai cấp thống trị phải thực hiện ít nhiều tự do, dân chủ và cải thiện đời sống cho nhân dân. Làm cho nhân dân càng tin tưởng và đoàn kết dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng. + Phong trào CM 1936-1939 một lần nữa, đã làm cho cán bộ và nhân dân ta được tôi luyện vững vàng, có thêm nhiều kinh nghiệm, bài học quý, nhất là kinh nghiệm kết hợp các nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài, nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ quốc tế; các bài học về sử dụng hình thức , các phương pháp để lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia hoạt động đấu tranh; các bài học về liên minh tầng lớp, các giai cấp, các tổ chức chính trị. Hội nghị tháng 7/1936 *Hoàn cảnh lịch sử: Căn cứ vào biến chuyển của tình hình thế giới và trong nước , tháng 7/1936 Hội nghị BCHTW Đảng được triệu tập ở Thượng Hải do Lê Hồng Phong chủ trì. *Nội dung: Xác định - Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng tư sản dân quyền Đông Dương là chống đế quốc và phong kiến - Nhiệm vụ trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo và hòa bình”; - Đảng đề ra chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương, đến tháng 3/1938 đổi tên thành Mặt trận dân chủ Đông Dương nhằm tập hợp mọi lực lượng yêu nước, dân chủ, tiến bộ đứng lên đấu tranh chống Phát xít, đế quốc Pháp phản động. - Hình thức đấu tranh: hợp pháp, nửa hợp pháp, công khai, nửa công khai. *Ý nghĩa: + Đánh dấu sự chuyển hướng đầu tiên về chủ trương của Đảng. + Thể hiện sự nhạy bén của Đảng khi tình hình thay đổi . Chuyển hướng chỉ đạo chiến lược 1.Hoàn cảnh lịch sử và sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng. a)Tình hình thế giới. -Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ: +1.9.1939 Đức tấn công Ba Lan. +3.9.1939 Anh,Pháp tuyên chiến với Đức,Đức lần lượt chiếm các nước ở Châu Âu. +Nhật đẩy mạnh xâm lược TQ,tiến sảt biên giới Việt-Trung. +Bọn thực dân ở Đông Dương tăng cường đàn áp bắt bớ những người yêu nước của cách mạng. b)Tình hình trong nước. -Pháp thi hành chính sách thời chiến rất trắng trợn,chúng phát xít hóa bộ máy thống trị,thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân ta. -Chúng ban bố lệch tổng động viên,thi hành chính sách “kinh tế chỉ huy” nhằm vơ vét sức người sức của để phục vụ chiến tranh. -22.9.1940 Nhật tiến vào Lạng Sơn,cho quân đổ bộ vào Hải Phòng.Ngày 23.9,Pháp kí hiệp định đầu hàng Nhật.Mâu thuẫn dân tộc ta với đế quốc, phát xít Nhật-Pháp ngày càng trở lên gay gắt hơn bao giờ hết. 2.Nội dung chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng. -Thông qua các văn kiện:Thông cáo của ĐCS Đông Dương(9.39),HN TW 6(11.39),HN TƯ 7(11.40),HN TW 8(5.41).Trên cơ sở diễn biến chiến tranh thế giới thứ hai và căn cứ vào tình hình cụ thể trong nước,BCH TW quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược như sau: +Tất cả các Hội nghị của Đảng khẳng định 2 nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là đúng đắn và không thay đổi nhưng trong lúc này đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu,nhiệm vụ dân chủ hay chồng phong kiến được thực hiện từng bước có kế hoạch để phục vụ cho nhiệm vụ chống đế quốc giải phóng dân tộc. -HN TW 6 nhận thức 1 số vấn đề sau: · HN khẳng định bước đường sinh tồn các dân tộc Đông Dương không có con đường nào khác con đường đánh đổ đế quốc Pháp,chống tất cả ách ngoại xâm vô lượng da trắng hay da vàng nhằm đặt mục tiêu giải phóng dân tộc lên hàng đầu · Chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất mà chỉ nêu ra khẩu hiệu :”Chống địa tô cao,chống cho vay nặng lãi”. · Chủ trương thành lập Mặt trận dân tôc thống nhất phản đé Đônng Dương nhằm tâp hợp mọi lực lượng cho giải phóng dân tộc. · Mô hình Nhà nước:Thay khẩu hiệu thành lập Chính quyền Xô Viết công nông thành thành lập Liên bang Cộng hòa Dân chủ Đông Dương. -HN TW 7 và HN TW 8 đã hoàn chỉnh chuyển hướng chỉ đạo chiến lược trên cơ sở: +HN TW 8 khằng định: · Cách mạng Đông Dương lúc này không phải là cách mạng tư sản dân quyền mang tính chất phản đế và thổ địa mà là cách mạng giải phóng dân tộc.Vì vậy,vấn để giải phóng dân tộc tiếp tục được đặt lên hàng đầu.Vấn đề dân tộc phải được giải quyết trong khuôn khổ từng nước Đông Dương hỗ trợ nhưng không phụ thuộc vào nhau. · Tiếp tục tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất mà chỉ nêu khẩu hiệu “tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo. · Chủ trương thành lập ở mỗi nước Đông Dương 1 mặt trận riêng,ở VN đó là Mặt trân Việt Nam độc lập đồng minh. · Mô hình Nhà nước:Tôn trọng quyền tự quyết của mỗi dân tộc.Ở VN,nếu cách mạng thành công thì đặt tên nước là nước VN Dân chủ Cộng hòa,lấy quốc kì là cờ đỏ sao vàng. a. Thời cơ trong cách mạng tháng Tám: - Điều kiện khách quan vô cùng thuận lợi: + Liên Xô và Đồng minh đánh bại chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật đã tạo điều kiện khách quan thuận lợi cho các dân tộc đứng lên giải phóng. + Quân Nhật ở Đông Dương và bọn tay sai thân Nhật hoang mang rệu rã đến cực điểm. Kẻ thù của cách mạng nước ta suy yếu đến cực độ. - Điều kiện chủ quan cho cuộc cách mạng nổ ra và giành được thắng lợi rất đầy đủ: + Đảng cộng sản Đông Dương đã có quá trình chuẩn bị chu đáo cho thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám trong suốt 15 năm với ba cao trào cách mạng: 1930 - 1931, 1936 - 1939, 1939 - 1945. Trong cao trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945, Đảng cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo nhân dân ta chuẩn bị đầy đủ và chu đáo về mặt đường lối, lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng và bước đầu taaph hợp được cho quần chúng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. + Khi phát xít Nhật đầu hàng không điều kiện quân Đồng Minh, Đảng ta kịp thời chớp thời cơ, chuẩn bị chu đáo hơn nữa và dũng cảm phát động toàn dân nổi dậy Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào từ 13 đến 15 - 8 - 1945 đã quyết định phát động Tổng khởi nghĩa và Đại hội quốc dân Tân Trào ngày 16 và 17 - 8 - 1945 hưởng ứng mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa của Đảng quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, chuẩn bị những công việc cuối cùng cho Tổng khởi nghĩa. b. Chủ trương của Đảng: - Ngày 12 - 3 - 1945, ban thường vụ trung ương Đảng ra chỉ thị Nhật - Pháp đánh nhau và hành động của chúng ta. Chỉ thị đã nêu rõ là điều kiện khởi nghĩa vũ trang đã chín muồi, phát xít Nhật là kẻ thù chính và cụ thể của cách mạng Đông Dương, thay khẩu hiệu Đánh đổ Nhật, Pháp bằng Đánh đuổi phát xít Nhật. - Đấu tranh từ bất hợp tác, bãi công, biểu tình, thị uy, vũ trang du kích chuyển sang hình thức tổng khởi nghĩa. - Phát động phong trào chống Nhật cứu nước, làm tiền đề cho cuộc khởi nghĩa. Ý nghĩa: thể hiện sự sáng suốt, kịp thời của Đảng là kim chỉ nam cho hành động của Đảng. c. Khởi nghĩa từng phần: - Ở khu căn cứ Cao - Bắc - Lạng: Đội Việt Nam tuyên truyền cứu quân và lực lượng chính trị của quần chúng giải phóng hàng loạt xã, huyện, thành lập chính quyền, các hội cứu quốc được củng cố và phát triển. - Ở Bắc Kì: Diễn ra phong trào phá kho thóc Nhật, giải quyết nạn đói ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Quảng Yên, . - Ở Quảng Ngãi: Tù chính trị ở nhà lao Ba Tơ nổi dậy, thành lập chính quyền cách mạng, tổ chức đội du kích Ba Tơ. - Ở nhà tù đế quốc: Hỏa Lò ( Hà Nội ), Nghĩa Lộ, Sơn La, . tù chính trị nổi dậy đấu tranh, đòi tự do, phá nhà lao. Đây là nguồn cán bộ bổ sung rất lớn cho cách mạng. - Hội nghị quân sự Bắc Kì ( họp từ 15 đến 20 - 4 -1945 ): - Hội nghị quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang, phát triển lực lượng vũ trang và nửa vũ trang, mở trường đào tạo cấp tốc cho cán bộ quân sự và chính trị, phát triển du kích, xây dựng căn cứ địa phá Nhật. Ủy ban quân sự Bắc Kì được thành lập. - Sau hội nghị: + Ngày 16 - 4 - 1945, Việt Minh ra chỉ thị thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng trung ương và các cấp. + Ngày 15 - 5 - 1945, đội Việt Nam tuyên truyền phối hợp với cứu quân thành Việt Nam giải phóng quân và có bảy chiến khu trung ương ra đời. + Tháng 5 - 1945, Hồ Chí Minh chuyển từ Pắc Pó ( Cao Bằng ) về Tân Trào ( Tuyên Quang ), lấy đây là trung tâm chỉ đạo phong trào cách mạng cả nước. + Tháng 6 - 1945, khu giải phóng Việt Bắc được thành lập. Công việc chuẩn bị cho cách mạng tháng Tám vẫn đang diễn ra và cả dân tộc ở trong tư thế chờ thời cơ để giành chính quyền. 2. Tổng khởi nghĩa tháng Tám giành chính quyền trong cả nước: . việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam. Câu 2: Đảng được thành lập và đường lối cách mạng của Đảng *Hội nghị thành lập Đảng: -Hoàn cảnh lịch sử: Cuối năm. tiên về chủ trương của Đảng. + Thể hiện sự nhạy bén của Đảng khi tình hình thay đổi . Chuyển hướng chỉ đạo chiến lược 1.Hoàn cảnh lịch sử và sự chuyển hướng

— Xem thêm —

Xem thêm: Lịch sử Đảng, Lịch sử Đảng

Lên đầu trang
Đăng ký

Generate time = 0.15204906463623 s. Memory usage = 14 MB