Chuyen de GDCD

Nguyễn Văn Cừ
Nguyễn Văn Cừ (8908 tài liệu)
(11 người theo dõi)
Lượt xem 177
3
Tải xuống 2,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 41 | Loại file: DOC
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 08/06/2013, 01:27

Mô tả: Chuyên đề Đổi mới phơng pháp giảng dạy môn giáo dục công dân gắn với thực tiễn cuộc sống của học sinh ở thcs A- Đặt vấn đề 1- Cơ sở lý luận Dựa trên những quy luật của quá trình giáo dục, những kinh nghiệm thực tiễn giáo dục, ngời ta xây dựng đợc hệ thống các nguyên tắc giáo dục. Một trong số các nguyên tắc đó là nguyên tắc cần bảo đảm giáo dục phải gắn với thực tiễn đời sống, với lao động. Tức là quá trình giáo dục phải góp phần giáo dục, đào tạo ngời công dân, những ngời lao động hoà nhập đợc với cuộc sống nói chung với các hoạt động lao động sáng tạo nói riêng của đất nớc. Mặt khác, chính bản thân cuộc sống, bản thân hoạt động lao động này lại là môi trờng, là phơng tiện góp phần tích cực vào sự hình thành và phát triển nhân cách những con ngời sống và làm việc trong đó. Vì vậy trong quá trình giáo dục nói chung và dạy học môn GDCD nói riêng cần tổ chức cho ngời đợc giáo dục có những hiểu biết về cuộc sống nói chung, hoạt động lao động sáng tạo nói riêng của đất nớc đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc; từ đó giáo dục cho họ những chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực pháp luật, những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết hình thành nên một nhân cách toàn diện của một ngời công dân mới ; giáo dục cho họ ý thức đ- ợc đầy đủ vai trò làm chủ đất nớc của mình và những nghĩa vụ mà họ phải hoàn thành với đất nớc. Môn GDCD nói chung và môn GDCD ở THCS nói riêng là môn học có vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng t cách và trách nhiệm công dân cho học sinh mà luật giáo dục đã quy định: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mĩ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con ngời Việt Nam XHCN, xây dựng t cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng, và vệ tổ quốc. Môn học cung cấp cho học sinh một hệ thống chuẩn mực lối sống phù hợp với yêu cầu của xã hội ở 1 mức độ phù hợp với lứa tuổi, giúp học sinh biết sống hoà nhập với cuộc sống hiện tại với t cách là một công dân tích cực và năng động; góp phần quan trọng để hình thành những phẩm chất cần thiết của nhân cách con ngời Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nớc và tăng cờng khả năng hội nhập trong xu thế phát triển và tiến bộ của thời đại. Mỗi môn học đều có những đặc thù riêng, do vậy phơng pháp giảng dạy ở mỗi môn học cũng có những nét khác biệt. Dạy học môn GDCD là một quá trình liên tục giáo viên tổ chức, hớng dẫn học sinh hoạt động tự chiễm lĩnh các giá trị, các chuẩn mực đạo đức, pháp luật thông qua việc nắm tri thức, qua thực hành trong và ngoài giờ học. Chính vì vậy nhiệm vụ dạy học môn giáo dục công dân không phải là truyền thụ tri thức, mà phải chú trọng tất cả các mặt, các nhân tố khác nh hình thành niềm tin, tình cảm đạo đức, quan trọng nhất và cũng là mục đích cuối cùng là hình thành hành vi và thói quen đạo đức pháp luật ở mỗi học sinh. Mặt khác dạy học môn GDCD phải nhằm tạo ra sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, giữa lới nói và hành vi. Nh vậy, môn GDCD cần phải đảm bảo cung cấp cho học sinh những phơng thức ứng xử về đạo đức, pháp luật, văn hoá trong cuộc sống, hình thành ở mỗi học sinh sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, hớng học sinh vào việc thực hành trong cuộc sống hàng ngày các chuẩn mực và mẫu hành vi tích cực mà bài học đặt ra; khơi dậy trong học sinh ý chí thể hiện sự thống nhất đó. 2- Cơ sở thực tiễn Hiện nay các bậc phụ huynh học sinh nói riêng và toàn xã hội nói chung rất bức xúc trớc thực trạng một bộ phận thanh thiếu niên hiện nay có những biểu hiện tha hoá về đạo đức và lối sống, xa rời những thuần phong mỹ tục và dần lãng quên những nét đẹp truyền thống của dân tộc. Trong thực tế đã có xu hớng coi nhẹ hoặc phủ nhận những giá trị quý giá của truyền thống dân tộc, quý cái ngoại lai hơn bản sắc dân tộc; coi nặng giá trị vật chất, coi nhẹ giá trị tinh thần; cọi nặng lợi ích cá nhân, coi nhẹ lợi ích công cộng. Đây chính là những mặt trái của nền kinh tế thị trờng. Cùng với sự sôi động của nền kinh tế hội nhập là sự du nhập của những phong cách, những lối sống mới đã tác động trực tiếp tới tầng lớp thanh thiếu niên tầng lớp luôn thích khám phá và nhạy cảm với sự thay đổi của môi trờng. Vấn đề đặt ra hiện nay là chúng ta cần trang bị cho thanh thiếu niên một 2 liều thuốc kháng sinh đặc trị có đủ khả năng đề kháng lại những cơn gió độc hại và những căn bệnh nguy hiểm mà nền kinh tế thị trờng mang lại. Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó hiện nay, đòi hỏi sự nghiệp giáo dục nói chung và việc dạy- học môn GDCD ở THCS nói riêng cần có những điều chỉnh và thay đổi về nội dung chơng trình cũng nh phơng pháp dạy- học để đáp ứng kịp thời sự vận động và phát triển không ngừng trong xu thế hội nhập của đất nớc ta hiện nay. Chúng ta cần hình thành ở học sinh cho đợc những thói quen hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực pháp luật và lối sống văn hoá trong các mối quan hệ mà cuộc sống hàng ngày đặt ra có liên quan đến các em; nhằm hình thành cho đợc một nhân cách hoàn thiện của một ngời công dân trong thời kỳ mới. Trong các môn học ở bậc THCS, môn GDCD có một vai trò hết sức quan trọng trong việc giáo dục và hoàn thiện nhân cách học sinh. Đây là môn học mà các tri thức, chuẩn mực, kỹ năng của nó đều gắn chặt với các sự kiện và chất liệu của cuộc sống hiện thực. Đó là những vấn đề đạo đức, lối sống và pháp luật hàng ngày. Đó còn là sự tác động qua lại giữa con ngời với con ngời, con ngời với thiên nhiên và giữa con ngời với các thể chế xã hội. Môn học có nhiệm vụ dạy cho học sinh vừa biết là một ngời cháu, ngời con ngoan trong gia đình, ngời trò giỏi ở trờng, ở lớp và một ngời công dân biết sống hoà nhập với đời sống xã hội nh một thành viên xã hội với những yêu cầu về đạo đức, pháp luật và lối sống văn hoá hiện đại. Song hiện nay môn GDCD cha đợc coi trọng ở bậc THCS. Thực tế môn GDCD còn nhiều bất cập. Tâm lý chung của các bậc phụ huynh học sinh, thậm chí cả những nhà quản lý giáo dục, rồi các thầy giáo, cô giáo cho đến cả các em học sinh đều cho đây là môn học phụ. Điều này tạo cho các em học sinh thái độ thờ ơ, không đầu t thời gian, công sức cho việc tìm tòi, học tập và nghiên cứu một cách chủ động và say mê với môn học. Ngoài ra tình trạng phổ biến trong suốt một thời gian dài, thậm chí hiện nay ở một số trờng THCS vẫn có tình trạng phân công giáo viên không đợc đào tạo về chuyên môn dạy môn GDCD . ở một số trờng, sự phân công đã chú ý đến đặc trng của môn GDCD thuộc tổ khoa học xã hội quản lý, nhng giáo viên trực tiếp giảng dạy thờng là những ngời hạn chế trong việc giảng dạy những môn chính. Thậm chí, cá biệt có trờng còn chủ động phân công những giáo viên có tuổi đời cao, trình độ đào tạo gốc cha đạt chuẩn hiện nay rồi 3 để cân đối số giờ cho giáo viên trong tuần đối với những trờng thừa biên chế, một số tr- ờng không ngần ngại phân công nhiều giáo viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác đảm nhận môn này. ở nhiều nơi, các nhà trờng còn buông lỏng quản lí việc dạy và học môn GDCD, còn có tình trạng cắt xén giờ học một cách tuỳ tiện, ảnh hởng không tốt đến tâm lý của thầy va trò. Mặt khác, các nhà trờng cũng thiếu những biện pháp phù hợp và có hiệu quả nhằm động viên, khuyến khích giáo viên hăng say khai thác làm phong phú nội dung và phơng pháp giảng dạy. Do vậy các tiết học thờng khô khan, thể hiện sự nghèo nàn về phơng pháp, chủ yếu là thuyết trình. Cũng vì thế trong giờ học, học sinh rất ít hoạt động, nếu có thì cũng chỉ tâp trung vào một số câu hỏi do giáo viên đa ra mang tính khái niệm. Những giờ học nh vậy mang nặng tính chất lý thuyết khô cứng học sinh tiếp thu một cách thụ động . Vì vậy không gây đợc hứng thú cho học sinh trong và sau mỗi giờ học. Điều này tạo nên tâm lý không thích học môn GDCD, hoặc coi đây là môn học phụ học sinh học lấy lệ cho nên mục đích quan trọng là hình thành thái độ, tình cảm, niềm tin và những thói quen hành vi đạo đức, pháp luật phù hợp với chuẩn mực của cuộc sống hiện đại ngày nay bị hạn chế. Theo kết quả khảo sát thực tế của tôi ở một số lớp, những tiết dạy môn GDCD của giáo viên đợc đào tạo chính quy có 83% học sinh không chỉ nắm chắc các khái niệm chuẩn mực đạo đức, pháp luật mà còn thể hiện đợc hành vi ứng xử linh hoạt, phù hợp với những chuẩn mực đó trớc các tình huống thực tế đặt ra. Điều đó chứng tỏ trình độ, năng lực s phạm của đội ngũ giáo viên dạy môn giáo dục công dân giữ vai trò quan trọng trong việc đổi mới phơng pháp dạy- học môn GDCD ở THCS. B- GiảI quyết vấn đề I- Nội dung và phơng pháp 1- Khảo sát môn GDCD ở THCS Cũng giống nh các môn học khác, để dạy tốt đợc môn học mỗi giáo viên cần nắm đợc cấu trúc nội dung chơng trình của phân môn xuyên suốt cấp học, để từ đó xây dựng kế hoạch giảng dạy cụ thể cho từng bài, từng chủ đề. Chỉ có làm nh vậy, giáo viên mới chủ động đề ra các phơng pháp cần tiến hành trong việc tổ chức, hớng dẫn và cung cấp tri thức, kinh nghiệm để học sinh chủ động lĩnh hội và vận dụng. 4 Cấu trúc chơng trình môn GDCD ở THCS có 2 phần chính : - Phần đạo đức: bao gồm những chuẩn mực đạo đức (những phẩm chất, bổn phận đạo đức), thể hiện yêu cầu cơ bản về đạo đức đối với ngời công dân. - Phần pháp luật: bao gồm quyền và nghĩa vụ của công dân trong các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội, phù hợp với phạm vi hoạt động và yêu cầu đối với lứa tuổi của học sinh trờng THCS. Cấu trúc chơng trình mới có những điểm khác chơng trình cũ: - Chơng trình cũ chia thành hai giai đoạn rõ rệt, lớp 6 và 7 học các chuẩn mực đạo đức, lớp 8 và 9 học các chuẩn mực pháp luật. Đó là điều bất hợp lí vì giữa đạo đức và pháp luật có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ và tác động lẫn nhau, học sinh cần đồng thời nắm vững hai chuẩn mực đó để có thể vận dụng trong cuộc sống. Vì vậy, chơng trình mới bố trí cho học sinh học phần đạo đức ở học kỳ I, phần pháp luật ở học kỳ II trong tất cả các lớp, đảm bảo ở lớp nào học sinh cũng đợc học cả hai chuẩn mực của cả hai lĩnh vực trên và lĩnh hội đợc những phơng thức ứng xử cần thiết nhất của ngời công dân trong xã hội. - Trong chơng trình cũ, nội dung không chia thành các chủ đề, còn trong chơng trình mới, ở mỗi lĩnh vực nội dung đều chia thành các chủ đề. Chơng trình có 8 chủ đề đạo đức và 5 chủ đề pháp luật, đợc bố trí xuyên suốt ở tất cả các lớp. Về cấu trúc nội dung từng bài trong SGK mới cũng có những điểm khác so với SGK GDCD cũ. Nếu nh trớc đây ở SGK cũ mỗi bài chỉ có cấu trúc 2 phần : phần thông tin về khái niệm kết hợp với một số câu hỏi tìm hiểu và phần bài tập, thì nay SGK mới có cấu trúc phong phú hơn với 3 phần: Phần 1 đặt vấn đề (là các tình huống, câu chuyện, thông tin, sự kiện phong phú mang tính thực tiễn cao ) có liên quan đến nôị dung bài học, phần 2 nội dung bài học đợc thể hiện một cách ngắn gọn, xúc tích giúp học sinh dễ học, dễ nhớ, phần 3 bài tập với sự đa dạng của các dạng bài tập từ nhận biết, thông hiểu, tình huống, .giúp học sinh luyện tập và củng cố nắm chắc bài học từ nhiều ph ơng diện. Với chơng trình SGK cũ nội dung còn nặng về lý thuyết, ít thực hành và vận dụng thì giáo viên chủ yếu sử dụng là phơng pháp thuyết trình với mục đích truyền thụ một cách máy móc, đầy đủ nhất các đơn vị kiến thức (các khái niệm) mang tính áp đặt giáo điều tới học sinh. Học sinh thụ động lĩnh hội các đơn vị kiến thức mà không đợc thực hành vận dụng hay thể hiện chính kiến của mình, thậm chí còn cha hiểu, hiểu cha sâu 5 hoặc hiểu sai khái niệm. Điều này dẫn đến học sinh cảm thấy nhàm chán, không thiết tha, mặn mà với môn học nói gì đến việc hình thành tình cảm, niềm tin và thói quen hành vi phù hợp với các chuẩn mực đạo đức và pháp luật đặt ra trong cuộc sống. Qua việc nắm bắt cấu trúc chơng trình, tôi nhận thấy đối với môn học này đòi hỏi ngời giáo viên giảng dạy phải có trách nhiệm cao, có năng lực tổ chức các hoạt động học tập trong và ngoài giờ học, đặc biệt là sự hiểu biết xã hội và vốn sống thực tế. Từ đó giáo viên chủ động xây dựng các phơng pháp và đa dạng hoá phơng pháp dạy- học cả một ch- ơng trình luôn gắn với thực tiễn cuộc sống của học sinh. 2- Cách thức thực hiện Páp- lốp khi đề cập tới vấn đề phơng pháp, ông nói : Với một phơng pháp tốt, một ngời tài năng vừa phải, có thể làm đợc nhiều việc. Còn đối với phơng pháp không tốt thì ngay cả ngời thiên tài cũng sẽ không thể làm đợc gì và cũng không có thành tựu gì có giá trị và chính xác . Căn cứ vào nội dung chơng trình SGK môn GDCD, qua thực tế giảng dạy, tôi thấy quá trình vận dụng việc đổi mới phơng pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo gắn với thực tế cuộc sống của học sinh trong môn học cần có đợc những dấu hiệu sau: a- Quá trình dạy- học cần tạo ra đợc sự tác động qua lại giữa vốn kinh nghiệm sống đã có của bản thân học sinh với các yêu cầu, chuẩn mực đạo đức và pháp luật đặt ra. Học sinh THCS đã có vốn kinh nghiệm sống tơng đối phong phú, trong đó có những kinh nghiệm ứng xử đợc tích luỹ qua môn đạo đức ở bậc tiểu học. Đó chính là cơ sở giúp các em lĩnh hội tốt các chuẩn mực đạo đức và pháp luật ở THCS . Vì vậy trong quá trình dạy- học môn GDCD, giáo viên cần dẫn dắt và khai thác cho đợc những kinh nghiệm sống đã có của học sinh. Trong tiết dậy, giáo viên có thể đa ra các tình huống đạo đức, pháp luật nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày có dấu hiệu trái ngợc nhau để học sinh dựa vào vốn kinh nghiệm sống của mình để đa ra nhận xét, lý giải. VD: khi dạy bài : Trung thực, giáo viên đa ra tình huống : - Bạn An nhiều lần nói dối bố mẹ xin tiền đóng học để đi chơi điện tử. - Một lần ở nhà trông nhà khi bố mẹ đi làm, Lan phát hiện có một ngời lạ mặt đến hỏi thăm về gia đình ông B bên hàng xóm xem có ai ở nhà không. Phát hiện có 6 những dấu hiệu khả nghi, Lúc đó mặc dù biết nhà ông B không có ngời ở nhà nhng Lan vẫn nói là có ngời ở nhà. Em có nhận xét gì về hành vi của hai bạn trong hai tình huống trên ? Có bạn nói hành vi của Lan là thiếu trung thực, em có đồng tình không ? Vì sao ? Làm nh vậy trong thực tế, tôi đã tạo cho tiết học không khí tranh luận sôi nổi. Trong tiết học, học sinh tự giác, tích cực tham gia vào việc tự khai thác và lĩnh hội kiến thức nội dung bài học. b- Giờ dạy môn GDCD phải có tính vấn đề cao về nội dung để thu hút sự chú ý, tạo tính tích cực học tập của học sinh. Môn GDCD ở THCS, vấn đề bào trùm là mâu thuẫn giữa trình độ nhận thức, kinh nghiệm ứng xử hàng ngày của học sinh và các chuẩn mực đạo đức, pháp luật đợc đặt ra trong mỗi bài học. Vấn đề trong mỗi bài học phải cao hơn trình độ đã có của học sinh, đủ sức giữ vai trò thu hút trí tuệ, tình cảm của học sinh mà dẫn dắt hoạt động của các em. Trong vấn đề, những tri thức, kỹ năng, mẫu hành vi ứng xử, những tình huống đạo đức, pháp luật có tác dụng kích thích học sinh suy nghĩ, phán đoán, lựa chọn cho đợc phơng án xử lý. Thông qua đó, học sinh sử dụng vốn kinh nghiệm sống của mình để giải quyết các vấn đề và trong quá trình tìm tòi sẽ dẫn đến sự thay đổi kinh nghiệm khi các em tự giác chấp nhận những bằng chứng và lập luận hợp lý, xác thực. c- Trong giờ dạy môn GDCD, tôi luôn đa ra các tình huống thực tế đang diễn ra hàng ngày ở lớp, ở trờng, trong gia đình hoặc ngoài xã hội liên quan đến nội dung bài học mà học sinh dễ bắt gặp nhất để học sinh đa ra ý kiến, lập trờng cuả mình về một chuẩn mực, một vấn đề đạo đức hay pháp luật nào đó. Tổ chức chia nhóm cho học sinh thảo luận trong tiết dạy về một tình huống, một vấn đề học sinh có những ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngợc nhau, tạo ra sự lập luận, lý giải tranh cãi, thể hiện rõ thái độ, chính kiến của mỗi em. Trong quá trình làm nh vậy đã tạo cho học sinh cơ hội giao lu, trao đổi, cọ xát giữa các cá nhân với cá nhân, nhóm này với nhóm khác. Nhờ vậy mà học sinh chiếm lĩnh đợc các giá trị đạo đức, pháp luật, lối sống văn hoá một cách bền vững phù hợp với thực tế cuộc sống hiện nay. d- Trong giờ dạy- học tất cả các môn học nói chung và môn GDCD nói riêng, chúng ta cần chú ý tạo cho đợc không khí tiết học thật dân chủ, cởi mở, hấp dẫn, giàu cảm xúc, giàu tính nhân văn để kích thích, khơi dạy hứng thú, sự nhiệt tình sẵn có ở mỗi học 7 sinh THCS cho mỗi tiết học. Trong giờ dạy môn GDCD, tôi luôn coi trọng và phát huy tính dân chủ, thực hiện giờ dạy dựa trên mối quan hệ bình đẳng, thiện chí và tham gia hoạt động nh mọi học sinh. Tôi luôn đặt mình vào vị trí của học sinh để tham gia mọi hoạt động cùng học sinh, dẫn dắt, gợi mở một cách khéo léo nhằm động viên, cổ vũ và lôi kéo các em vào hoạt động học tập, đặc biệt là những học sinh nhút nhát, học sinh học yếu. Với cách làm này, không khí lớp học luôn sôi nổi, thoải mái, học sinh cảm thấy tự tin, tích cực chủ động tranh luận để chiếm các chuẩn mực đạo đức, pháp luật phù hợp với chuẩn mực mà xã hội đặt ra. Thực hiện theo phơng pháp này học sinh thấy bản thân mình cũng góp phần vào việc khặng định các giá trị đạo đức, pháp luật làm cho các em củng cố và bổ sung thêm vào vốn kinh nghiệm trong qúa trình học tập ; góp phần tạo cho các em niềm tin trong việc tự xác định hành vi ứng xử trong và ngoài nhà trờng. 3- Những phơng pháp đã thực hiện trong quá trình dạy học môn GDCD gắn với thực tiễn cuộc sống của học sinh Quan điểm chung trong quá trình sử dụng phơng pháp dạy học môn GDCD gắn với thực tế cuộc sống của học sinh, tôi luôn lấy học sinh (những con ngời thờng đợc xem là những đứa trẻ, những học trò) vào vị trí ngời công dân. Thực sự học sinh đang là những công dân (vị thành niên) giáo dục các chuẩn mực đạo đức, pháp luật không phải chỉ là công việc của ngời lớn mà còn là công việc của chính họ. Trong SGK, các tác giả gọi họ là công dân- học sinh (những công dân đang đi học) là hàm ý nh vậy. Học sinh đang sống trong các chuẩn mực đạo đức và pháp luật, và đang tiến sâu vào các quan hệ đạo đức, pháp luật trong đời sống xã hội. Học sinh cần đựơc nhìn nhận các vấn đề của nhà n- ớc, của xã hội với t cách ngời công dân, chứ không phải là họ tìm hiểu công việc của ng- ời lớn để mai sau họ trở thành ngời lớn. Chính vì vậy vấn đề đặt ra hiện nay là dạy học nói chung và dạy- học môn GDCD nói riêng cần gắn với thực tiễn cuộc sống. Việc dạy- học gắn với thực tiễn cuộc sống đem lại rất nhiều lợi ích: - Giúp học sinh củng cố, khắc sâu kiến thức đã học. - Rèn luyện đợc những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống cũng nh kĩ năng phân tích, giao tiếp ứng xử, kĩ năng thích ứng góp phần phát triển năng lực. 8 - Hình thành, phát triển niềm tin trong sáng lành mạnh, phát triển các phẩm chất tâm lí, cuộc sống tinh thần, hình thành lí tởng sống đúng đắn. - Trực tiếp góp phần vào sự nghiệp xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thực hiện mục tiêu CNH, HĐH đất nớc. Trong quá trình dạy học môn GDCD gắn với thực tiễn cuộc sống của học sinh, chúng ta nên cho học sinh vận dụng từ đơn giản đến phức tạp dần. Đầu tiên có thể lí giải, phân tích các tình huống, các bài tập trong SGK, sau đó hớng dẫn các em tìm các tình huống đạo đức, pháp luật ở lớp, ở tr ờng, trong gia đình ngoài xã hội hoặc trên các ph - ơng tiện thông tin đại chúng có liên quan đến nội dung bài học và lí giải các hiện tợng đó. ở mức độ cao hơn học sinh có thể đa ra những đánh giá, nhận xét về bản thân hoặc ngời khác và tự đề ra giải pháp phát huy mặt tốt, khắc phục mặt cha tốt. Ngoài ra giáo viên cần hớng dẫn học sinh trực tiếp tham gia vào các hoạt động lao động, hoạt động chính trị xã hội do trờng, địa phơng tổ chức. Để thực hiện đổi mới phơng pháp dạy học gắn với thực tiễn cuộc sống, tôi thờng tiến hành nh sau: a- Nghiên cứu và cải tiến nội dung bài học Trong quá trình chuẩn bị bài học, ở khâu soạn giảng giáo viên cần bổ sung các thông tin t liệu thực tế có liên quan , những sự kiện đạo đức pháp luật hàng ngày, tình hình thực hiện pháp luật ở địa phơng, cộng đồng ; bổ sung các thông tin, số liệu mang tính cập nhật, mới mẻ nh các điều luật sửa đổi, những quy định cụ thể của luật, các pháp lệnh, thông t hay tình hình thực tế học sinh, tập thể học sinh nhà trờng về việc thực hiện các kỷ luật về đạo đức, pháp luật hàng ngày nh thế nào Việc làm đó làm cho nội dung bài học không khô khan, xa rời thực tiễn, xa lạ đối với học sinh mà nó biến thành những nội dung thiết thực, sống động, gắn với cuộc sống hàng ngày trong nhà trờng, trong gia đình và ngoài xã hội. Đây là việc làm thiết thực và có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi bài giảng. Ngoài ra tuỳ thuộc vào từng bài học, nhằm tạo sự phù hợp cho tiến trình bài giảng với các phơng pháp đặc trng, giáo viên có thể thay đổi thứ tự các phần để tránh sự dập khuôn máy móc. Ví dụ ở mỗi bài đều có 3 phần là đặt vấn đề, nội dung bài học và bài 9 tập , giáo viên có thể thay đổi thứ tự đó bằng cách đa bài tập ở phần bài tập lên phần đặt vấn đề nh một bài tập tình huống có vấn đề để phục vụ việc khai thác nội dung bài học. b- Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học Muốn làm tốt việc giáo dục học sinh thông qua môn GDCD gắn với thực tiễn cuộc sống, chúng ta phải đặc biệt chú trọng đến khâu tạo ra nhiều hình thức tổ chức dạy học cho giờ học môn này. Xuất phát từ cơ sở lý luận: Đổi mới ph ơng pháp gắn liền với đổi mới hình thức tổ chức dạy học, trong dạy học phải tăng cờng tính tơng tác, tính chất đối thoại, tính chất hoà nhập của các quan hệ. Học sinh ở lứa tuổi này có thể tham gia nhiều nhóm xã hội, nh nhóm học tập trên lớp, học trong giờ ngoại khoá, học ở nhóm, tổ, nhóm Đội, nhóm tại địa bàn nơi ở; có nhóm chính thức do nhà trờng hay đoàn TNCS tổ chức, nhng cũng có nhóm không chính thức. Vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên cần vận dụng linh hoạt các loại nhóm này để đảm bảo tính tối u và hiệu quả giáo dục. A.K Macarenco đã từng nói: Một tập thể trẻ em đ ợc đặt vào những điều kiện s phạm lành mạnh có thể phát triển lên tầm cao hoàn toàn không thể đoán trớc đợc . Trong các hình thức này, hình thức cao nhất là sự tự giáo dục. Lúc này, chủ thể giáo dục đã chiếm lĩnh đ- ợc, làm chủ đợc những mục tiêu, phơng pháp, phơng tiện mà xã hội, nhà trờng, tập thể, nhóm đã giáo dục mình và chuyển những điều đã chiếm lĩnh đợc thành của mình để hoàn thiện nhân cách và lĩnh hội những cái mới. c- Sử dụng linh hoạt các phơng pháp dạy - học Cấu trúc chơng trình môn GDCD có 8 chủ đề đạo đức và 5 chủ đề pháp luật. ở mỗi chủ đề đạo đức hay pháp luật ngời giáo viên cần vận dụng linh hoạt các phơng pháp cho phù hợp với từng chủ đề. c.1- Với các chủ đề pháp luật, chúng ta có thể tiến hành nh sau: - Trớc hết, khi nêu ra các quy định của pháp luật, cần chỉ rõ điều đó xuất phát từ thực tế nào, và nó là thế nào trong thực tế, nhất là thực tế địa phơng. VD: công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhng tại sao pháp luật lại quy định những trờng hợp bắt giữ, giam ngời: Điều này có cơ sở thực tế nh thế nào ? Cho HS xem một lệnh bắt giữ làm ví dụ. Khi dậy về tôn trọng tài sản nhà nớc và lợi ích công cộng, cần chỉ rõ ở chỗ nào (thôn, xóm, địa phơng nào ) có những hành vi tốt, xấu nh thế nào. Ngoài ra chúng ta có thể sử dụng bài tập điều tra thực tế địa ph- 10 . của mình và những nghĩa vụ mà họ phải hoàn thành với đất nớc. Môn GDCD nói chung và môn GDCD ở THCS nói riêng là môn học có vai trò quan trọng trong việc. sinh. Mặt khác dạy học môn GDCD phải nhằm tạo ra sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, giữa lới nói và hành vi. Nh vậy, môn GDCD cần phải đảm bảo cung

— Xem thêm —

Xem thêm: Chuyen de GDCD, Chuyen de GDCD, Chuyen de GDCD

Lên đầu trang
Đăng ký

Generate time = 0.20223808288574 s. Memory usage = 17.67 MB