SKKN: Môn Thể dục Tiểu học

Henry Cavendish
Henry Cavendish (8743 tài liệu)
(10 người theo dõi)
Lượt xem 1214
15
Tải xuống 2,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 17 | Loại file: DOC
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 01/08/2013, 05:41

Mô tả: Phần thứ nhất I/ lý do chọn đề tài: 1. Lý do khách quan - Trong sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo nhằm mục tiêu dân giầu, nớc mạnh, xã hội công bằng và văn minh. Thì yếu tố con ngời luôn luôn chiếm vi trí quan trọng hàng đầu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Muốn có chủ nghĩa xã hội phải có con ngời xã hội chủ nghĩa. Trong hình mẫu và phẩm chất con ngời, sức khoẻ và thể chất chiếm một vị trí đáng cần thiết để đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Do đó thể dục thể thao là một bộ phận của nên giáo dục xã hội chủ nghĩa, nó tổng hợp các phơng tiện, phơng pháp nhằm con ngời phát triển toàn diện, hài hoà, đặc biệt hoạt động thể dục, thể thao là một trong những hình thức cơ bản, chuẩn bị thể lực phục vụ cho lao động và các hoạt động khác. Vì thế mỗi quốc gia đều chú trọng đến công tác thể dục thể thao và đa nền TDTT nớc mình lên đỉnh cao nhất cũng nh giữ vững và phát triển những môn TDTT manh tính bản sắc dân tộc. Kinh nghiệm của các nớc phát triển cho thấy rằng : Truyền thống dân tộc là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nớc. TDTT là một lĩnh vực của nền văn hoá vì vậy nó cũng mang tính dân tộc đậm nét, ở Việt Nam cũng đã trải qua hàng nghìn năm các môn thể thao dân tộc nh : Vật, đua thuyền, đánh đu, vẫn tồn tại và trở thành một nội dung hấp dẫn trong các dịp lễ hội dân tộc. Trong công tác ngoại giao TDTT có chức năng là nhịp cầu nối giao lu, nối tình hữu nghị và thắt chặt tình đoàn kết giữa các dân tộc, các quốc gia trên thế giới. Thông qua thi đấu thể thao các quốc gia trên thế giới có sự trao đổi tiếp thu tinh hoa của nhau , qua đó tìm hiểu học tập, giúp đỡ lấn nhau đa thế giới vào cuộc sống hoà bình đầy tình hữu nghị . Ngày nay đất nớc ta đang đi trên con đờng công nghiệp hoa, hiện đại hoávới khẩu hiệu: Khoẻ để xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Hiểu đợc ý nghĩa tác dụng của việc tập luyện TDTT đã đem lại sức khoẻ cho con ngời, hoàn thiện về thể chất cho 1 nhân dân lao động, có thể nói sức khoẻ con ngời là một yếu tố hợp thành quan trọng của lực lợng sản xuất, có sức khoẻ mới có lao động, có lao động mới có sự sáng tạo sản xuất ra của cải vật chất, đất nớc mạnh cùng với sự lớn mạnh của nhiều ngành trong cả nớc TDTT ngày nay đợc phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu . Điền kinh là môn thể thao cơ bản nó chiếm vị trí quan trọng trong chơng trình thi đấu của các đại hội Olympíc Quốc tế và trong đời sống thể thao của nhân loại, điền kinh đợc phát triển cùng với sự ra đời của xã hội loài ngời. Ngay từ những ngày đầu tiên xuất hiện xã hội loài ngời, các bài tập điền kinh đã đợc loài ngời sử dụng từ thời cổ Hy Lạp. Song lích sử phát triển của nó đợc ghi nhận trong cuộc thi đấu chính thức từ năm 776 trớc công nguyên, cùng với sự phát triển của xã hội loài ngời, từ những hoạt động trong lao động sản xuất tạo ra những kỹ năng, kỹ sảo, để tự vệ, để chiến đấu và phòng chống thiên tai, dần dần hình thành các trò chơi vận động, các cuộc thi đấu và nó thu hút mọi ngời tham gia tập luyện, chính vì thế mà điền kinh đợc coi là một trong những nội dung chính và không thể thiếu đợc trong các kỳ thi đấu của thế vận hội Olympíc, giải thế giới châu lục và quốc gia. Nội dung điền kinh không chỉ các môn thi đấu mà nó có ý nghĩa tập luyện, do đó điền kinh là một trong những môn thể thao có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục thể chất, đồng thời là môn học chủ yếu đối với học sinh ở cảc trờng trung học, cao đẳng, đại học 2. Lý do chủ quan: Bên cạnh những bài tập điền kinh thì các bài tập trò chơi vận động cũng đợc đa vào trong các giờ học TDTT của trờngTHCS, THPT, CĐ, ĐH, các trờng dạy nghề Trò chơi vận động nhằm vui trơi giải trí giáo dục và giáo dỡng con ngời phát triển toàn diện do vậy trò chơi vận động cũng là một nội dung học tập, đồng thời là phơng pháp, phơng tiện rèn luyện sức khoẻ. Giáo dục đạo đức cho học sinh đạt kết quả cao, đợc trẻ em yêu thích, hầu hết các trò chơi vận động đợc sử dụng trong giáo dục thể chất đã mang tính mục đích rõ ràng. Trong quá trình chơi trò chơi học sinh tiếp súc với nhau, cá nhân phải hoàn thiện nhiệm vụ của mình trớc tập thể ở mức độ 2 cao, tập thẻ có nhiệm vụ động viên giúp đỡ cá nhân hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy tình bạn, lòng nhân ái, tinh thần tập thể đ ợc hình cũng trong quá trình chơi, xây dựng cho các em học sinh tác phong khẩn trơng, nhanh nhẹn, tính kỷ luật, sự sáng tạo để hoàn thành với chất lợng cao. Trò chơi vận động nhằm phát triển tố chất thể lực, sức mạnh tốc độ trong lứa tuổi 14, 15 là vô cùng cần thiết và chiếm một vị trí quan trọng vì lứa tuổi này quá trình thần kinh hng phấn chiếm u thế nên các em rất hiếu động, do vậy quá trình phát triển thể lực cho các em sử dụng bài tập đa dạng với các hình thức tập luyện phong phú các nhà khoa học cho rằng: Khi phát triển thành tích đỉnh cao phải có trình độ học tập tốt muốn có một thể lực tốt chỉ có một con đờng là thông qua quá trình luyện tập lâu dài, liên tục, có hệ thống, có khoa học mới đảm bảo các tố chất thể lực phát triển tốt, song mỗi tố chất thể lực mang đặc trng Nhanh, mạnh, bền, khéo léođóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao thành tích của các môn TDTT. Việc phát triển thể thao đối vói trẻ em đợc đặc biệt coi trọng bởi nó là nền tảng cho việc tăng cờng sức khỏe và giáo dục đối với thế hệ trẻ. Đối với các em lứa tuổi 14, 15 muốn đạt đựơc thành tích thể thao cần phải xây dựng nội dung các buổi tập thể lực, nội dung tập luyện là quá trình chuẩn bị về mặt thể lực, kỹ thuật, chiến thuật, đạo đức, ý trí, tâm lý, tất cả các mặt chuẩn bị này có quan hệ chặt chễ với nhau và tạo một quá trình hoàn thiện cho các em thông qua các phơng tiện, phơng pháp giảng dậy và các hình thức khác của lợng vận động trong tập luyện và thi đấu. việc giáo dục các chức năng thể chất và các thuộc tính của nó có liên quan đến các tố chất thể lực ở lứa tuổi học sinh nhằm thúc đẩy sự thể hiện và phát triển một cách đầy đủ ,các năng lực thể chất có vai trò hết sức quan trọng đối với sự nắm vững những kỹ năng , kỹ xảo vận động, phát triển khả năng thích ứng cao đối với lợng vận độngcủa các hệ thống cơ thể . Xuất phát từ các vấn đề nêu trên tôi đã mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu đề tài : 3 Nghiên cứu ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm phát triển tố chất thể lực, sức mạnh tốc độ cho học sinh lứa tuổi 14-15 trong trờng cơ sở Địch Quả - Thanh Sơn- Phú Thọ . Với đề tài trên tôi mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc giảng dạy và huấn luyện một số trò chơi vận động đã đợc lựa chọn nhằm mục đích nâng cao tố chất thể lực, sức mạnh tốc độ cho các em học sinh lứa tuổi 14-15. 3. Mục đích nghiên cứu: Thông qua việc ứng dụng một số bài tập trò chơi vận động nhằm phát triển thể lực, sức mạnh tốc độ giúp tôi đánh giá đơc hiệu quả bài tập trò chơi vận động có phù hợp với đối tợng trong sự phát triển thể lực, sức mạnh tốc độ cho trẻ 14, 15 tuổi. Từ đó tạo cơ sở cho việc xác định chuẩn các nội dung bài tập phát triển thể lực chung cho lứa tuổi 14, 15 4. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Để hoà thành đề tài tốt xác định hai nhiệm vụ sau: Nhiệm vụ chung: Nghiên cứu lựa chọn cá trò chơi vận động nhằm phát triển tố chất thể lực, sức mạnh tốc độ cho các em học sinh lứa tuổi 14 - 15. Nhiệm vụ cụ thể: Đánh giá hiệu quả ứng dụng các bài tập trò chơi vận động nhằm phát triển tố chất thể lực, sức mạnh tốc độ cho các em học sinh lứa tuổi 14-15 trờng THCS Địch Quả. 5. Đối t ợng nghiên cứu : - 30 học sinh (15 nam, 15 nữ) ở lứa tuổi 14-15 trờng THCS Địch Quả. 6. Ph ơng pháp nghiên cứu: Để giải quyết các nhiệm vụ trên của đề tài, tôi đã sử dụng phơng pháp nghiên cứu sau: a. phơng pháp nghiên cứu và tổng hợp tài liệu: Các tài liệu liên quan đến đề tài, nhằm tìm hiểu tình hình phát triển thể dụcthể thao nói chung và môn điền kinh nói riêng ở các nớc và trên thế giới hiện 4 nay. Hiện nay tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý độ tuổi, tìm hiểu về nguồn gốc và những tác động của trò chơi vận động . b. Phơng pháp quan sát s phạm Qua quan sát của các em học sinh lứa tuổi 14, 15 để đánh giá tiếp thu lợng vận động, khải năng phối hợp vận động cũng nh sự hứng thú củan các em với các tròn chơi đợc đa ra. Qua đó để sử dụng khối lợng, cờng độ và sự phân bố các trò chơi cho hợp lý, phù hợp với điều kiện cụ thể. c. Phơng pháp sử dụng Test: Để đánh giá thể lực chung của các em và sau thực nghiệm tôi sử dụng: +Test bật xa tại chỗ (m) để đánh giá sức mạnh tốc độ + Test chạy 30m tốc độ cao (s) đánh giá sức mạnh tốc độ d. Phơng pháp thực nghiệm s phạm: Sau khi xác định và lựa chọn đợc một số trò chơi tôi tiến hành phân nhóm thực nghiệm trên 30 em học sinh (15 nam, 15 nữ) lứa tuổi 14, 15 với điều kiện tập luyện nh nhau. Nhng chỉ khác là: - Một nhóm tập luyện bình thờng theo phơng pháp cũ. - Một nhóm tập luyện theo nội dung đã đợc tôi lựa chọn luyện tập. 7. Cơ sở nghiên cứu: - Trờng THCS Địch Quả Thanh Sơn Phú Thọ. Phần II: Nội dung 1. Thực trạng ban đầu: a- Tình hính nhà tr ờng. 5 Ngày đầu thành lập, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cón thiếu, cha đồng bộ. Song những năm qua, nhà trờng đã khắc phục những khó khăn từng bớc phấn đấu. Mở rộng quy mô, nâng cao chất lợng giáo dục toàn diện đẩy mạnh các hoạt động giáo dục, làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục. b- Thực trạng ban đầu : Năm học 2005 - 2006 nhà trờng có lớp với tổng số học sinh trong đó học sinh ở lứa tuổi 14, 15 là học sinh. Cụ thể nh sau : - Khối 6 : có em - Khối 7 : Có em - Khối 8 : Có em - Khối 9 : có em Qua thời gian giảng dạy bộ môn thể dục ở trờng THCS Địch Quả tôi nhận thấy sự phát triển thể lực chung của các em học sinh còn nhiều mặt hạn chế dẫn đến kết quả của bộ môn cha thực sự cao . c- Nguyên nhân của thực trạng trên: * Đối với giáo viên - Do bớc đầu tiếp cận với đối tợng học sinh nên cha thực sự hiểu đợc khả năng tiếp thu đợc phơng pháp học và hoàn cảnh của học sinh . - Do phơng pháp của giáo viên cha phù hợp với học sinh, sự kết hợp giữa các phơng pháp giảng dạy cha thực sự đợc mềm dẻo, linh hoạt, khoa học. * Đối với học sinh : Do đặc thù bộ môn hoạt động ở ngoài trời, học sinh cha có ý thức tự giác tích cực, chủ động trong quá trình lập luyện ở nhà trờng và gia đình. - Tình trạng sức khoẻ của học sinh còn cha tốt để phát huy hết tính năng, yêu cầu của bộ môn. - Điều kiện học về thời gian của các em học sinh ở gia đình còn rất hạn hẹp, do tình hình kinh tế trên địa bàn là miền núi còn nhiều khó khăn nên hầu hết học sinh học nửa buổi ở trờng, nửa buổi phải tham gia lao dộng giúp đỡ gia đình. 2. Biện pháp tác động : 6 * Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn 1 : + Phân tích lý luận thực tiễn, xác định hớng nghiên cứu chọn đề tài: + Xác định nhiệm vụ nghiên cứu, chọn phơng pháp nghiên cứu đối tợng nghiên cứu, chuẩn bị tài liệu và cơ sở vật chất. Giai đoạn 2 : + Phân tích tổng hợp tài liệu. + Liên hệ địa điểm và đối tợng nghiên cứu. Giai đoạn 3 : + Lựa chọn các bài tập phù hơp với đối tợng nghiên cứu. + Thu thập và xử lý số liệu. + Viết kết luận và kiến nghị đề tài. + Đánh máy hoàn thiện đề tài. + Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Hội đồng khoa học. a. Biện pháp cụ thể: + Nghiên cứu lựa chọn các trò chơi vận động nhằm phát triển các tố chất thể lực chung cho các em học sinh lứa tuổi 14, 15. a.1. Đặc điểm về sinh lý. Đặc điểm nổi bật về cơ sở sinh lý giải phẫu là sự hình thành quá trình. Đó là thay đổi phức tạp của sự phát triển cơ thể do đó vận dụng các bài tập phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi. + Hệ thần kinh : ở lứa tuổi này đang phát triển nhng quá trình hng phấn và ức chế cha thật cân bằng, quá trình hng phấn chiếm u thế hơn, sự phân phối động tác cứng, vụng về cha có tính nhịp điệu, não đang trong giai đoạn phát triển, tính linh hoạt trong trung ơng thần kinh cao nhng rễ bị khuyếch tán, sức bền chung kém, dễ mệt mỏi. Căn cứ vào đặc điểm trên thì quá trình giảng dạy phải thi phạm, nhiều nội dung các buổi tập phải sinh động, đa dạng hoá, đa các bài tập để cho hệ thần kinh phát triển một cách nhịp nhàng giữa các hệ thống tín hiệu. 7 + Hệ hô hấp : Đợc điều chỉnh dung tích sống và nhịp tim đạt cao, tuy vậy hẹe thần kinh giao cảm nhạy bén nên dễ bị tăng do hồi hộp, xúc động, tần số hô hấp của các em trong độ tuổi 14- 15 sâu để tăng cờng cơ năng trong cơ hô hấp.+ Hệ tiêu hoá: Rất tốt, sự hấp thụ các chất dinh dỡng qua hệ tiêu hoá nhanh, hiệu suất lớn. + Hệ hô hấp ở tuổi 15 cơ bản gần giống nh ngời lớn khoảng 10-12 lần/phút tuy nhiên cơ thể vẫn còn yêu nên sức co giãn của lồng ngực chủ yếu các em thở bằng bụng, vì vậy trong luyện tập cần chú ý thở chậm, thở i tiết : Hoạt động khá hiệu quả, đặc biệt là các bài tập có tác dụng qua da. Do vậy hồi phục sau luyện diễn ra nhanh chóng hơn so với ngời lớn. + Hệ xơng : Hệ xơng phát triển nhanh và đột ngột, đàn tính của xuơng giảm xuất hiện sự cốt hoá ở một số bộ phận của xơng (nh cột xơng sống) nên cùng với sự phát triển về chiều dài cột sống thì khả năng biến đổi của cột sống không giảm mà trái lại tăng lên xu hớng cong vẹo + Hệ cơ : ở giai đoạn này hẹe cơ phát triển với tốc độ nhanh, khối lợng và số lợng tăng đáng kể, các nhóm cơ nhỏ phát triển nhanh hơn so với hệ xơng. Cơ bắp phát triển nhanh, đàn tính của cơ nhanh, không đồng đều. Chủ yếu là các cơ lớn phát triển tơng đối nhanh nh cơ đùi, cơ cánh tay, vì sự phát triển không đều đó nên khi tập luyện ngời giáo viên chú ý phát triển cơ bắp cho các em. + Hệ tuần hoàn: Tế bào cơ tim và tính đàn hồi của các em còn nhỏ, van tim phát triển kém, dung tích và thể tích của tim nhỏ, nhịp tim nhanh. Cùng với sự lớn lên của tuổi tác, sự điều tiết hệ thống tim mạch (thần kinh thực vật) càng hoàn thiện kích thớc của tim các em chịu ảnh hởng rất mạnh của tập luyện, nếu thi đấu căng thẳng việc trao đổi diễn ra rất mạnh mẽ, ở giai đoạn này các em chỉ có thể đáp lại bằng việc tăng nhanh tần số mạch đập để tăng lu lợng phút, nếu tăng mạch quá nhanh thì máu vào tâm nhĩ ít do thời gian tâm chơng bị rút ngắn, sự tạo thành thiếu máu và ô xy trong cơ thể, do lợng vận động của các em lứa tuyôỉ này không quá lớn, cần phải đa ra hệ thống các bài tập, trò chơi có cờng độ trung bình nhằm làm 8 cho tim tăng lên, điều đó rất có lợi cho việc nâng cao cơ năng của hệ thống tim mạch. a.2. Đặc điểm về tâm lý: ở lứa tuổi này các em tỏ ra mình là ngời lớn, đòi hỏi mọi ngời xung quanh phải tôn trọng mình, tỏ ra mình là ngời hiểu biết không phải là trẻ con nh lứa tuổi các em đã hiểu biết nhiều, biết rộng hơn, a hoạt động hơn, quá trình hng phấn chiếm u thế so với quá trình ức chế, nên các em tiếp thu cái mới nhanh nhng lại chóng chán, chóng quên và các em dễ bị môi trờng tác động vào tạo nên sự đánh giá về mình, sự đánh giá cao đó sẽ gây tác động không tốt trong luyện tập TDTT. Vì vậy khi tiến hành công tác giáo dục TDTT cho lứa tuổi này cần phải uốn nắn, nhắc nhở, chỉ bảo, định hiớng và động viên các em hoàn thành tốt nhiệm vụ kèm theo khen thởng, động viên đúng mức trong quá trình giảng dạy cần dẫn dắt từng b- ớc, động viên những em học sinh tiếp thu chậm để từ đó các em tỏ ra không chán nản, có định hớng đúng hiệu quả bài tậoh đợc nâng lên. Trong điều kiện cơ sở vật chất tập luyện không đảm bảo, đặc biệt là quá trình giảng dạy các trờng cha chú trọng về sự phát triển cân đối với các em. Từ đặc điểm trên, dựa trên cơ sở tâm lý lựa chọn một số bài tập trên cơ sở khối lợng, cờng độ phù hợp với lứa tuổi 14, 15 đặc biệt khi áp dụng các bài tập nhằm phát triển thể lực chung phát triển toàn diện, con ngời phát triển toàn diện thể chất đồng thời là các nội dung thi đấu ở các trờng phổ thông cơ sở lôi cuốn các qm tham gia tập luyện và thi đấu. a.3. Đặc điểm phân loại trò chơi vận động. Đặc điểm trò chơi: Tổ chức có tính chủ đề hoạt động của ngời chơi đợc chơi tơng ứng với chủ đề, có tính chất hình ảnh hoặc tính quy ớc nhằm đạt đợc một mục đích nhất định trong điều kiện các tình huống luôn thay đổi với thay đổi đột ngột ở mức đáng kể, chủ đề có thể lấy trực tiếp từ hiện thực xung quang để phản ánh một cách có hình ảnh các hoạt động dụng và quan hệ sinh hoạt nào đó hoặc có thể tự tạo ra xuất phát từ nhu cầu giáo dục thể chất. b. Cơ sở lý luận của việc lựa chọn các bài tập trò chơi vận động. 9 Bài tập thể lực là những hoạt động vận động chuyên biệt do con ngời sáng tạo ra một cách có ý thức, có chủ định phù hợp với các quy luật giáo dục tố chất, là những hoạt động nhằm tác động tốt đến tính bản thân con ngời và dựa trên những kỹ năng vận động cơ bản của con ngời, những tác động trong lao động là những bài tập tự nhiên (đi, chạy, nhảy, ném, leo, chèo ) c. Cơ sở lý luận của sức mạnh. Sức mạnh là khả năng sinh ra lại cơ học bằng sự nỗ lực cơ bắp, sức mạnh tốc độ là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh, sức mạnh này một mặt phụ thuộc vào đặc tính sinh lý cơ của động tác mặt khác phụ thuộc vào mức độ hoạt động của từng nhóm có riêng biệt và sự phối hợp giữa chúng. d. Cơ sở lý luận các tố chất sức nhanh. Sức nhanh là tổ hợp cá thuộc tính chức năng của con ngời, có quy định chủ yếu và trực tiếp đặc tính tốc độ động tác cũng nh thời gian phản ứng vận động. Tốc độ là khả năng thực hiện động tác trong thời gian ngắn nhất, yếu tố quyết định của tốc độ là kinh hoạt của quá trình thần kinh và tốc độ co cơ đợc chia làm 4 yếu tố. - Xuất hiện hng phấn trong cơ quan cảm thụ. - Dẫn truyền vào hệ thần kinh trung ơng. - Truyền tín hiệu từ hệ thần kinh trung ơng tới cơ. - Hng phấn cơ vào hoạt động tích cực. e. Lựa chọn một số trò chơi vận động nhằm phát triển thể lực, sức mạnh tốc độ cho học sinh lứa tuổi 14, 15. Để đạt đợc các tố chất thể lực chung, cần xác định thông qua hệ tống chỉ tiêu thành tích để lựa chọn một số trò chơi tơng ứng phù hợp nh: + Các trò chơi nhằm phát triển tố chất sức mạnh bao gồm : Làm theo lời tôi, mèo đuổi chuột, ngời cuối cùng. + Các trò chơi vận động nhằm phát triển sức mạnh gồm : Chọi gà, nhảy cừu, lò cò tiếp sức. * Hệ thống các nội dung tập luyện ban đầu cần đáp ứng yêu cầu: 10 . trong những môn thể thao có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục thể chất, đồng thời là môn học chủ yếu đối với học sinh ở cảc trờng trung học, cao đẳng,. khoẻ và thể chất chiếm một vị trí đáng cần thiết để đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Do đó thể dục thể thao là một bộ phận của nên giáo dục xã

— Xem thêm —

Xem thêm: SKKN: Môn Thể dục Tiểu học, SKKN: Môn Thể dục Tiểu học, SKKN: Môn Thể dục Tiểu học

Lên đầu trang

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.123657941818 s. Memory usage = 13.94 MB