Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO

Fritjof Capra
Fritjof Capra(9037 tài liệu)
(10 người theo dõi)
Lượt xem 1
0
Tải xuống
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 12 | Loại file: DOC
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 20/08/2013, 19:10

Mô tả: Quá trình Việt Nam đàm phán gia nhập WTO Tháng 1/1995, Việt Nam chính thức nộp đơn xin gia nhập WTO…đến nay đã 10 năm. Đây là cuộc đàm phán toàn diện về chính sách vĩ mô, mở rộng cửa hàng hoá và dịch vụ… đến cuối năm 2004 Việt Nam đã tiến hành được 9 phiên đàm phán đa phương, kết thúc đàm phán song phương với 6 đối tác (trong tổng số 28 đối tác có yêu cầu) trong khuôn khổ "Nhóm công tác về gia nhập WTO của Việt Nam": Singapore, Chi-lê, Cu-ba, Bra-xin, Argentina và EU (đại diện cho 25 nước thành viên). Trong năm 2005, Việt Nam đàm phán được một phiên "không chính thức" và 1 phiên chính thức về đàm phán đa phương và kết thúc đàm phán song phương với 15 đối tác: Uruguay, Canada, Columbia, Thổ Nhĩ Kỳ, Kyrgyzstan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Iceland, Thụy Sĩ, Na-uy, Paraguay, Đài Loan, và El Salvador. Trong 2 tháng đầu năm 2006, Việt Nam đã kết thúc đàm phán song phương với 2 đối tác là New Zeland, và Australia,. Như vậy cho đến trước phiên thứ 11, đã ký được với 23 đối tác (chỉ còn lại 4 đối tác ở châu Mỹ) là Hoa Kỳ, Mê-hi-cô, Hon-du-rat và CH Dominic… Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với những hiệp định của WTO. Quốc hội Việt Nam đã thông qua 29 văn bản luật quan trọng như Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật hải quan, luật Ngân hàng, Luật bảo hiểm, Luật Lao động, Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng, Luật Dầu khí, Luật về Thuế… Về những nội dung cam kết cụ thể: Tại phiên đàm phán đa phương thứ 10 ở Giơ-ne-vơ (9/2005), chúng ta đã cam kết thực hiện một loạt các hiệp định trong khuôn khổ WTO ngay kể từ thời điểm gia nhập (khác với các nước khác đề nghị có thời gian quá độ), như Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại/TRIPS, Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại/TRIPS, Hiệp định về định giá hải quan/CVA, Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại/TBT, Hiệp định về các biện pháp vệ sinh dịch tễ/SPS Hiệp đinh về cấp phép nhập khẩu, Hiệp định về các biện pháp chống bán phá gía và các biện pháp đối kháng, Hiệp định về Quy tắc xuất xứ… Bản chào mới của ta về hàng hóa đã cam kết sửa đổi tới 99,9% số dòng thuế (hơn 10.000 dòng thuế) theo Danh mục chuẩn "HS" 8 số của thế giới, với mức thuế bình quân là 18% (trong đó thuế về hàng công nghiệp và hàng nông nghiệp trung bình là 15%, đối với khối EU hàng công nghiệp là 16% và nông nghiệp là 20%…). Phí-lệ phí giảm xuống gần như bằng 0%. Bản chào về dịch vụ cam kết mở cửa thị trường 11 ngành và khoảng 110 phân ngành cụ thể trong đó có cả những lĩnh vực như ngân hàng-tài chính, viễn thông, dịch vụ kinh doanh… Trong một số vấn đề nhạy cảm như quyền kinh doanh, trợ cấp, Doanh nghiệp nhà nước, chính sách thuế, cơ chế đầu tư,… Việt Nam đã có những đề xuất, nhân nhượng nhất định để rút ngắn khoảng cách với một số đối tác song phương. Đồng thời cũng có những giải thích xác đáng có lý có tình để các đối tác trong Nhóm công tác hiểu rõ hơn tình hình thực tế và những khó khăn trở ngại và đề nghị dành cho ta một số điều kiện thuận lợi như được hưởng các ưu đãi đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển, được hưởng thời gian chuyển đối… Phiên đa phương thứ 11 tại Giơ-ne-vơ: Trong các ngày từ 20-28/3/2006, tại Giơ-ne-vơ, đã diễn ra phiên đàm phán đa phương chính thức thứ 11 và các cuộc đàm phán song phương với 4 đối tác cuối cùng nói trên…kết quả đạt được: Về đàm phán song phương, Việt Nam đã kết thúc được với 2 đối tác là Hon-du-rat và CH Dominic. Các cuộc đàm phán với Hoa Kỳ và Mexico cũng đạt được những kết quả khả quan. Theo Thứ trưởng Lương Văn Tự, Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ, đã có những tiến bộ rất thực chất quan trọng với Hoa Kỳ và chỉ còn một số điểm khác biệt rất nhỏ với Mexico. Về đàm phán đa phương, tại phiên 11 Việt Nam đã cùng các đối tác thành viên "Nhóm công tác /WP" rà soát lại toàn bộ các điểm của bản dự thảo “Báo cáo của Nhóm công tác/WP về gia nhập WTO của Việt Nam”…Các thành viên của Nhóm công tác/WP đánh giá cao việc Việt Nam đã thông qua một loạt các bộ luật và pháp lệnh trong "Chương trình luật hoá" trong năm 2005, liên quan đến các lĩnh vực như điều ước quốc tế, doanh nghiệp, thuế, ngoại hối, đầu tư, thương mại, đấu thầu, du lịch, hàng hải, hàng không, đường sắt, giao dịch điện tử, dich vụ giáo dục, y tế-dược phẩm, thuế xuất nhập khẩu, hải quan, Luật dân sự, sở hữu trí tuệ…Đồng thời họ cũng nêu nhiều cầu hỏi thực thi các văn bản luật, nhất là các vấn đề trợ cấp, ngân hàng, xuất nhập khẩu của các nhà đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ…Họ cũng quan tâm đến các văn bản luật sẽ được Quốc hội thông qua trong phiên họp tháng 5-6/2006 tới đây, liên quan đến các vấn đề như thị trường chứng khoán, dịch vụ về luật pháp, giải quyết các vụ kiện hành chính, nâng cao năng lực toà án, tiêu chuẩn hoá và quy chế thi hành án… Kết luận phiên họp, ngài Chủ tịch-Đại sứ I.Glenne đã khẳng định “tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam đã bước vào gia đoạn cuối cùng…" ông yêu cầu các thành viên "Nhóm công tác/WP cho kiến nghị trong vòng 2 tuần lễ tới" (Ngắn hơn một nữa thời gian thông thường) để thúc đẩy nhanh hơn nữa tiến trình này cho Việt Nam… Bộ trưởng Trương Đình Tuyển nhấn mạnh, quá trình đàm phán gia nhập WTO bao giờ cũng gay go, phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian, chẳng hạn Trung Quốc phải mất 14 năm cho quá trình này, còn đối với Việt Nam, nếu gia nhập WTO trong năm 2006, cũng phải mất 11 năm đàm phán song phương và đa phương. Bộ trưởng Trương Đình Tuyển khẳng định nguyên tắc của Việt Nam là không phải gia nhập WTO với bất cứ điều kiện nào. Việt Nam đưa nền kinh tế hội nhập với thế giới là do tiến trình cải cách trong nước của Việt Nam tạo điều kiện cho sự hội nhập đó. Việt Nam lấy cải cách trong nước làm đích và làm chuẩn để bảo đảm sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Bộ trưởng Trương Đình Tuyển cho biết Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO đánh giá quá trình đàm phán với Việt Nam đã đến gần thời điểm kết thúc. Rất nhiều thành viên Ban công tác mong muốn Việt Nam sớm gia nhập WTO… Vì vậy có nhiều cơ sở để hy vọng khả năng gia nhập WTO của Việt Nam trong năm 2006, cụ thể là trước Hội nghị APEC tại Hà Nội vào tháng 11/2006… Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tiến trình đàm phán gia nhập của Việt Nam I. Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ra đời ngày 1/1/1995. Tiền thân của WTO là Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT), thành lập 1947. Trong gần 50 năm hoạt động, GATT là công cụ chính của các nước công nghiệp phát triển nhằm điều tiết thương mại hàng hóa của thế giới… WTO là kết quả của Vòng đàm phán Uruguay kéo dài 8 năm (1987 – 1994), để tiếp tục thể chế hóa và thiết lập trật tự mới trong hệ thống thương mại đa phương của thế giới cho phù hợp với nhứng thay đổi mạnh mẽ đang diễn ra trong quan hệ kinh tế, thương mại giữa các quốc gia. Về cơ bản, WTO là sự kế thừa và phát triển của GATT. Sự ra đời của WTO giúp tạo ra cơ chế pháp lý điều chỉnh thương mại thế giới trong các lĩnh vực mới là dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ, đồng thời đưa vào khuôn khổ thương mại đa phương hai lĩnh vực dệt may và nông nghiệp. Với 149 thành viên (tính đến tháng 10/2006), WTO là tổ chức quốc tế duy nhất đưa ra các quy tắc, luật lệ điều tiết quan hệ thương mại giữa các quốc gia. Khối lượng giao dịch giữa các thành viên WTO hiện chiếm trên 98% giao dịch thương mại quốc tế. Chức năng chính của WTO: Là diễn đàn thương lượng về mậu dịch theo hướng tự do hoá thương mại thông qua việc loại bỏ các rào cản trong thương mại; Đưa ra các nguyên tắc và cơ sở pháp lý cho thương mại quốc tế do các nước thành viên thương lượng và ký kết với mục đích đảm bảo thuận lợi hóa thương mại giữa các thành viên WTO; Giải quyết tranh chấp thương mại giữa các thành viên; Giám sát việc thực hiện các Hiệp định trong khuôn khổ WTO. Phạm vi điều tiết: Hạt nhân của WTO là các hiệp định thương mại hoặc “liên quan tới thương mại" được các thành viên WTO thương lượng và ký kết. Các hiệp định này là cơ sở pháp lý cho thương mại quốc tế, bao gồm Hiệp định về các lĩnh vực nông nghiệp, kiểm dịch động thực vật, dệt và may mặc, hàng rào kỹ thuật trong thưong mại, đầu tư, chống bán phá giá, xác định trị giá tính thuế hải quan, giám định hàng hóa trước khi xếp hàng, quy tắc xuất xứ, thủ tục cấp phép nhập khẩu, trợ cấp và các biện pháp đối kháng, các biện pháp tự vệ, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp . Đây là những hiệp định mang tính ràng buộc, các chính phủ phải duy trì chính sách thương mại trong những giới hạn đã thỏa thuận. Các nguyên tắc chính của WTO: - Không phân biệt đối xử (một nước không được phân biệt đối xử giữa các đối tác thương mại của mình dành quy chế tối huệ quốc – MFN cho tất cả các thành viên WTO; không được phân biệt đối xử giữa các sản phẩm, dịch vụ và công dân của nước mình và nước ngoài - tất cả phải được hưởng chế độ đãi ngộ quốc gia - NT); - Thúc đẩy thương mại tự do hơn (thông qua thương lượng loại bỏ các hàng rào cản thuế quan và phi thuế quan); - Đảm bảo tính ổn định/tiên đoán được bằng các cam kết minh bạch hoá (các công ty, các nhà đầu tư và chính phủ nước ngoài phải được đảm bảo rằng, các rào cản thương mại, kể cả thuế, các rào cản phi quan thuế và các biện pháp khác, không được nâng lên một cách độc đoán; ngày càng có nhiều mức thuế và cam kết mở cửa thị trường mang tính ràng buộc tại WTO); - Thúc đẩy cạnh tranh công bằng (bằng cách loại bỏ các hoạt động mang tính "không công bằng" như trợ cấp sản xuất, trợ cấp xuất khẩu, bán phá giá nhằm tranh giành thị phần); - Khuyến khích cải cách và phát triển kinh tế: Các nước đang phát triển chiếm ¾ thành viên của WTO. WTO có các qui định dành cho các nước này nhiều thời gian hơn, điều kiện linh hoạt hơn và một số ưu đãi đặc biệt hơn để điều chỉnh nền kinh tế trong quá trình thực hiện các cam kết tự do hoá của mình. Tuy nhiên, việc chiếu cố này không phải mặc nhiên, mà có được là trên cơ sở đàm phán với các thành viên WTO. II. Tiến trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam Việt Nam chính thức nộp đơn gia nhập WTO tháng 1/1995. Năm 1996, tại WTO, Nhóm Công tác (WP) về Việt Nam gia nhập WTO được thành lập với sự tham gia của trên 20 nước (hiện nay con số này là gần 40). Từ năm 1996 đến 2001, đàm phán tập trung chủ yếu vào việc làm rõ chế độ và chính sách thương mại của ta, với việc ta phải trả lời hơn 2000 câu hỏi có liên quan đến chính sách thương mại, kinh tế, đầu tư. Đến tháng 8/2001, ta chính thức đưa ra Bản chào ban đầu về hàng hóa và dịch vụ (Ininitial Offer) để bước vào giai đoạn đàm phán thực chất về mở cửa thị trường với các nước thành viên Ban Công tác. Về đàm phán song phương: Với việc ta và Hoa Kỳ ký thỏa thuận chính thức kết thúc đàm phán song phương về gia nhập WTO của Việt Nam (TP Hồ Chí Minh, ngày 31/5/2006), ta đã chính thức hoàn tất đàm phán với toàn bộ 28 đối tác yêu cầu đàm phán với ta. Ta đang tích cực vận động Quốc hội Hoa Kỳ sớm thông qua quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam. Về đàm phán đa phương: Đến nay, ta đã tiến hành 15 Phiên họp với Nhóm Công tác về Việt Nam gia nhập WTO. Từ Phiên 9 (tháng 12/2004), ta cùng với Ban Công tác đã bắt đầu xem xét và thảo luận Dự thảo Báo cáo (DR) của Nhóm Công tác. Tại các Phiên 14 và 15 (10/2006), ta đã giải quyết được toàn bộ các vấn đề đa phương còn tồn đọng giữa Việt Nam với một số đối tác, hoàn tất về cơ bản đàm phán gia nhập WTO, hoàn chỉnh toàn bộ các tài liệu, chuẩn bị cho phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng WTO xem xét, thông qua việc gia nhập của Việt Nam sẽ được tổ chức vào ngày 7/11/2006. Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm sẽ dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ ta tham dự Lễ kết nạp Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO. Tại Lễ gia nhập ngày 7/11/2006, Phó Thủ tướng và các thành viên WTO sẽ chứng kiến việc ký Nghị định thư gia nhập giữa Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển và Tổng Giám đốc WTO Pascal Lamy. Sau đó, văn kiện này sẽ được trình lên Quốc hội để xem xét thông qua và gửi lại cho Ban thư ký WTO. 30 ngày kể từ sau khi Ban thư ký WTO nhận được văn bản phê chuẩn này của Quốc hội Việt Nam, Việt Nam sẽ trở thành thành viên chính thức của WTO. Những bước tiến quan trọng sau 2 năm gia nhập WTO Ngày 23/4/2009, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Quốc hội tổ chức cuộc Hội thảo về đánh giá tác động đối với Việt Nam sau hơn 2 năm gia nhập WTO . Tại cuộc Hội thảo, đồng chí Vũ Khoan, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, người đã từng được giao nhiệm vụ chỉ đạo trực tiếp quá trình đàm phán để gia nhập WTO đã có bài phát biểu. Cổng TTĐT Chính phủ xin trích đăng để bạn đọc tham khảo: Nước ta gia nhập WTO mới trên 2 năm. Đó là một thời đoạn quá ngắn, vả lại không giống như Trung Quốc gia nhập WTO khi kinh tế thế giới phục hồi, nước ta gia nhập WTO vào thời điểm kinh tế thế giới đầy xáo động rồi lâm vào cuộc suy thoái trầm trọng nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ II nên khó bề đánh giá chuẩn xác. Bên cạnh đó còn phải kể đến nhiều nhân tố khác tác động tới kinh tế nước ta, kể cả sự yếu kém vốn có từ lâu của nền kinh tế và những cam kết quốc tế khác… nên càng khó bóc tách rạch ròi. Do vậy mọi sự đánh giá chỉ mang tính tương đối. Để đánh giá có thể dựa trên 4 căn cứ khác nhau: (i) theo những cơ hội và thách thức chúng ta đã dự báo; (ii) theo những quan điểm chỉ đạo đã được đề ra; (iii) theo những cam kết ta đã nhận và (iv) theo những chủ trương, chính sách lớn được Đảng và Chính phủ nêu lên. Vì đây là cuộc hội thảo của các Văn phòng ở TW cho nên, có lẽ nên lấy căn cứ (iv) thì hợp lý hơn. Thực hiện cơ bản Nghị quyết của Đảng và Chương trình hành động của Chính phủ Sau khi nước ta gia nhập WTO, Hội nghị TW 4 khoá X họp tháng Giêng 2007 đã ra Nghị quyết “về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên WTO”, trong đó nêu ra 10 chủ trương, chính sách lớn. Tiếp đó, Chính phủ đã thông qua Chương trình hành động để thực hiện. Nay ta thử nhìn lại xem đã làm được gì, điều gì chưa làm được theo những chủ trương, chính sách ấy ở những nội dung liên quan trực tiếp tới việc gia nhập WTO. 1. Về chủ trương “Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân” nay đã đạt được sự đồng thuận rộng rãi về nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; đã có sự hiểu biết nhất định về “luật chơi” và ở chừng mực nào đó đã thích ứng với chúng. Tuy nhiên, về mặt này cũng còn tồn tại một số vấn đề. Lúc đầu đã nẩy sinh tâm tư kỳ vọng quá lớn; không ít người cứ tưởng gia nhập WTO sẽ phồn vinh ngay; trái lại khi gặp khó khăn do giá cả thế giới tăng cao và nhất là khi nổ ra cuộc khủng hoảng toàn cầu lại nẩy sinh tâm tư cho rằng, mọi khó khăn đều do gia nhập WTO. Nói một cách khác chưa thật quán triệt nhận thức rằng, gia nhập WTO chỉ là một phương tiện, nội lực mới có ý nghĩa quyết định. Bên cạnh đó nhiều người, kể cả những người liên quan trực tiếp chưa hiểu thật sâu những cam kết khi gia nhập WTO. Đặc biệt là chưa phát huy cao độ tinh thần chủ động sáng tạo để biến cơ hội thành hiện thực; nhiều chương trình hành động mang tính hình thức, chưa được quan tâm thực hiện; chưa biết tận dụng những công cụ WTO cho phép để bảo vệ lợi ích của mình như các tiêu chuẩn kỹ thuật, chống bán phá giá, độc quyền… 2. Về chủ trương “khẩn trương bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế” đã nêu ra 4 nhiệm vụ cụ thể; trong đó đã và chưa đạt được những mặt sau: (i) chưa bao giờ việc bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật lại được tiến hành với cường độ cao như vừa qua; về đại thể những điều bổ sung, hoàn thiện đều phù hợp với những cam kết khi gia nhập và được thực hiện nghiêm chỉnh, chưa một đối tác nào chê trách. Mặt khác vẫn tồn tại những căn bệnh cố hữu là các văn bản dưới luật chậm được ban hành; nhiều quy định trùng chéo, mâu thuẫn nhau; sự hiểu biết pháp luật chưa sâu và việc thực thi pháp luật chưa tốt. (ii) về nhiệm vụ “hình thành nhanh và đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường” thì cho đến nay đã hình thành về cơ bản thị trường hàng hoá, thị trường dịch vụ, thị trường tài chính-tiền tệ, thị trường bất động sản, thị trường lao động, thị trường khoa học-công nghệ. Chúng ta đã mở cửa từng bước cho các đối tác nước ngoài đúng với cam kết. Tuy nhiên, thị trường dịch vụ chưa phát triển đúng mức; thị trường chứng khoán giảm mạnh và nay phản ánh đúng hơn thực trạng kinh tế; thị trường tài chính-ngân hàng có khó khăn nhất định nhưng không bị đổ vỡ như ở nhiều nước khác; thị trường bất động sản trì trệ kéo dài, vấn đề đất đai vẫn còn phức tạp gây trở ngại cho phát triển kinh tế, kể cả đối với nhà đầu tư nước ngoài; thị trường khoa học-công nghệ chưa phát huy tác dụng cần có; thị trường lao động gặp khó khăn do sản xuất giảm sút. Về cơ chế giá, vừa qua đã có bước tiến mới là áp dụng cơ chế giá thị trường đối với xăng dầu và điện. Nhiều cơ chế trợ cấp đã được dỡ bỏ, tuy nhiên cần đề phòng sự trở lại của cơ chế bao cấp, xin-cho nhân các biện pháp hỗ trợ của Chính phủ trước sự suy giảm kinh tế. Công cụ thuế ngày càng được hoàn thiện cho dù thủ tục còn nhiều rắc rối; thất thu còn lớn; do kinh tế suy giảm, thu ngân sách giảm thiểu, chi hỗ trợ lớn, bội chi ngân sách tăng cao, do đó cần đề phòng lạm phát quay trở lại. Nhiệm vụ “nâng cao hiệu quả đầu tư” chưa đạt, hệ số ICOR ngày càng cao: 2001- 2005 là 4,89; 2006 là 5; 2007 là 5,4 và 2008 là 6,8, năm nay theo kế hoạch là 6,1. Về sự điều hành của Nhà nước trên tầm vĩ mô thì sau khi gia nhập WTO, ta chủ trương tăng tốc phát triển. Khi vốn nước ngoài vào nhiều, có phần làm tăng phát hành tiền, tín dụng, đầu tư, nhập khẩu, bội chi ngân sách đưa tới lạm phát cao; để kiềm chế lạm phát ta đã phải thắt chặt tiền tệ, ở mặt nào đó đã gây khó khăn cho sản xuất, nhất là vào lúc kinh tế thế giới suy giảm, làm cho sản xuất giảm thiểu, nhiều người mất việc làm. Rõ ràng, sau khi gia nhập WTO, sự điều hành nền kinh tế thị trường lại hội nhập đầy đủ với kinh tế thế giới là một vấn đề mới mẻ và phức tạp, cần thích nghi dần. 3. Về nhiệm vụ “đẩy nhanh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý Nhà nước” tuy đã làm được thêm một số việc, nhất là việc xếp sắp lại bộ máy hành pháp và giảm thiểu thủ tục, song vẫn tồn tại nhiều bất cập, trong đó đáng chú ý là việc thực hiện chủ trương “đẩy mạnh phân cấp gắn với tăng cường trách nhiệm và kiểm tra, giám sát” có nhiều vướng mắc do nguồn nhân lực ở các địa phương chưa tương xứng với nhiệm vụ. 4. “Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm” là nhiệm vụ lớn, lâu dài, trong hơn 2 năm chúng ta chưa thể làm được gì nhiều. Tuy nhiên, cái được là qua quá trình hội nhập càng bộc lộ rõ hơn những yếu kém về mặt này; riêng ở tầm quốc gia nổi lên 3 khâu “thắt nút cổ chai” là kết cấu hạ tầng; chất lượng nguồn nhân lực và thể chế, nhất là thủ tục, đi đôi với nạn tham nhũng chưa bị đẩy lùi, ảnh hưởng tới hiệu quả phát triển của nền kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài. 5. Trong quá trình hội nhập chúng ta luôn quan tâm tới những tác động không thuận đối với nông nghiệp, nông dân như trong Nghị quyết TW 4 đã nêu bật vấn đề này và Hội nghị TW 7 đã thông qua hẳn một nghị quyết riêng về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Tuy nhiên, trong hơn 2 năm qua, xét riêng về góc độ liên quan trực tiếp tới việc gia nhập WTO thì cũng chưa kịp triển khai được nhiều việc, kể cả quyền được sử dụng 10% giá trị sản lượng để hỗ trợ cho nông nghiệp; xuất khẩu nông sản vẫn gia tăng nhưng chủ yếu vẫn ở dạng thô, chất lượng và vệ sinh an toàn sản phẩm chưa có sự cải thiện rõ rệt, toàn diện; đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào nông nghiệp vẫn ở mức cực thấp. 6. Do thời gian còn quá ngắn nên khó bóc tách rõ những vấn đề xã hội nào do việc gia nhập WTO gây ra, những vấn đề nào do quá trình phát triển nội tại đưa tới. Tuy nhiên, có thể thấy, do xuất khẩu gia tăng, nhất là đầu tư nước ngoài tăng đột biến, khả năng xuất khẩu lao động được mở rộng, chúng ta đã tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho nhân dân.Thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản bùng nổ đã góp phần tăng thu nhập của một bộ phận dân cư. Tiếc rằng, tình trạng lạm phát cao và tác động của khủng hoảng toàn cầu đã hạn chế, thậm chí phần nào đã xoá đi những gì gặt hái được, buộc chúng ta phải ứng phó với nạn thất nghiệp và chi tiêu nhiều hơn cho nhiệm vụ an sinh xã hội; công cuộc xoá đói giảm nghèo tuy đạt được nhiều thành tựu, nhưng nay phải đứng trước những thách thức mới; việc thu hẹp khoảng cách ngày càng doãng ra giữa các tầng lớp dân cư và vùng miền tiếp tục mang tính thời sự cao. 7. Không chỉ do gia nhập WTO mà do chính sách mở cửa dưới tác động của xu thế toàn cầu hoá và công nghệ thông tin nói chung, chúng ta đã tiếp thu được không ít thành tựu, tinh hoa văn hoá của nhân loại, tuy về mặt trái của quá trình ấy, sản phẩm văn hoá của các nước có điều kiện xâm nhập sâu rộng, mạnh mẽ vào nước ta, đặt nền văn hoá dân tộc trước nhiều thách thức mới, trong một số lĩnh vực còn có phần bị văn hóa ngoại lấn lướt. Chúng ta đã làm được không ít việc để giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc đi đôi với việc quảng bá văn hoá nước ta ra nước ngoài song nhìn tổng thể nói chung hiệu quả còn chưa được như mong muốn. 8. Vấn đề môi trường ngày càng trở nên bức bách, sau khi nước ta gia nhập WTO một số nhà đầu tư nước ngoài có ý định đưa vào ta những dự án có thể gây ô nhiễm nặng, gây lo ngại sâu sắc trong dư luận xã hội và có thể ảnh hưởng xấu tới tính bền vững trong sự phát triển của nước ta. Khắc phục nhược điểm, đẩy mạnh hội nhập Tóm lại, trong hơn 2 năm qua, chúng ta đã làm được nhiều việc theo Nghị quyết TW 4 và Chương trình hành động của Chính phủ nhằm bảo đảm việc gia nhập WTO góp phần làm cho nước ta phát triển nhanh và bền vững. Tuy nhiên như trên đã nói, do thời gian quá ngắn, đồng thời lại rơi vào đúng thời điểm kinh tế thế giới khủng hoảng, nhiều vấn đề liên quan tới nhiều nhân tố khách quan và chủ quan khác nên khó có thể đánh giá hết những thành tựu đã đạt được, cũng như những gì chúng ta cần phải phấn đấu, khắc phục. Mặc dầu vậy có thể hình dung rằng, bên cạnh một số kết quả “hữu hình” rất quan trọng như đầu tư nước ngoài tăng cao, nguồn ngoại tệ vào nhiều, xuất khẩu có bước phát triển mới,…chúng ta đã gặt hái được một số kết quả “vô hình” có ý nghĩa to lớn, trong đó nổi lên 4 việc: có sự đồng thuận cao hơn về nhu cầu hội nhập; luật pháp, thể chế được hoàn thiện hơn, góp phần gia tăng niềm tin của các doanh nghiệp trong và ngoài nước; vị thế quốc tế của nước ta được nâng cao thêm và sau hơn 2 năm hội nhập, chúng ta càng nhận thức được rõ hơn những điểm yếu trong nền kinh tế nước ta. Việc phát huy những mặt làm được, khắc phục những nhược điểm còn tồn tại cần đặt trong sự gắn kết với 3 quá trình: về ngắn hạn là tiếp tục đối phó với tác động của suy thoái toàn cầu; về trung hạn cần chủ động chuẩn bị cho thời kỳ “hậu khủng hoảng”; về dài hạn là chuẩn bị Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm tới để đưa nước ta lên bước phát triển mới về chất là về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đây là những vấn đề lớn cần được bàn thảo tiếp tục./. (chinhphu.vn ngày 1/5/2009) Đánh giá tác động sau 2 năm Việt Nam gia nhập WTO Tác động tích cực của việc gia nhập WTO là đầu tư nước ngoài tăng mạnh, thị trường xuất khẩu được mở rộng, kim ngạch xuất khẩu tăng cao, nhưng quan trọng nhất là đã hình thành được tư duy mới… Sáng nay (23/4), Văn phòng Chính phủ phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội tổ chức Hội thảo “Đánh giá tác động đối với Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO”. Hội thảo nhằm cung cấp thông tin, trang bị kiến thức về hội nhập quốc tế nói chung và WTO nói riêng cho cán bộ, công chức các Văn phòng ở Trung ương để nâng cao khả năng tham mưu, giúp việc cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Phát biểu khai mạc, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, sau hơn 2 năm, thời gian tuy chưa dài để đánh giá toàn diện và lượng hóa đầy đủ tác động của sự kiện này nhưng đã có thể thấy rõ tác động tích cực của nó như đầu tư nước ngoài tăng mạnh, thị trường xuất khẩu được mở rộng, kim ngạch xuất khẩu tăng cao, nhưng quan trọng nhất là đã hình thành được tư duy mới, chuẩn mực kinh doanh mới… Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007. Năm 2008, vốn FDI thực hiện tiếp tục tăng, ước đạt 11,3 tỷ USD, chiếm 29,8% tổng vốn đầu tư. Nguồn thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu trong cả 2 năm 2007-2008 đều tăng cao, tương ứng 31,9% và 61,1% so với năm trước đó. Theo Đại sứ, Trưởng phái đoàn Ủy ban châu Âu tại Việt Nam Sean Doyle, những nét đặc trưng trong "câu chuyện WTO" của Việt Nam là Việt Nam đã có khung pháp lý minh bạch hơn, đã giúp tăng sự tự tin của của những nhà sản xuất Việt Nam để cạnh tranh trên trường quốc tế. Ngoài ra, trong bối cảnh suy thoái kinh tế khi một số quốc gia có xu hướng trở lại chủ trương bảo hộ nền công nghiệp, Việt Nam công khai phản đối chủ nghĩa bảo hộ và đã nhạy bén áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại phù hợp. Bên cạnh đó, các tác động của việc gia nhập WTO cũng bộc lộ rõ hơn, như cạnh tranh gay gắt hơn, nhập siêu tăng, sự biến động của thị trường thế giới tác động nhanh và mạnh đến thị trường trong nước. Và minh chứng rõ nhất là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đang và đang ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển kinh tế Việt Nam… Tại Hội thảo, sẽ có 13 ý kiến phát biểu của các diễn giả nguyên là lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà quản lý, nhà khoa học, đại diện doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế nhằm làm rõ các vấn đề đã và đang tác động đến sự phát triển của nền kinh tế nước ta trong thời gian trước mắt và lâu dài. Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Nguyễn Xuân Phúc cho biết, sau Hội thảo, các đơn vị liên quan sẽ hoàn thiện báo cáo đánh giá tác động sau 2 năm gia nhập WTO để báo cáo Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp Chính phủ thường kỳ sắp tới. Tiếp đó, Văn phòng Chính phủ sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức hội thảo vào tháng 7/2009 về “Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến Việt Nam” nhằm làm rõ hơn những thách thức và việc thực hiện các giải pháp của Chính phủ để đối phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu./. CTTĐTCP Việt Nam sau hai năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài viết của ông PHẠM GIA KHIÊM, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế quốc tế nhân sự kiện Việt Nam kỷ niệm hai năm sau ngày gia nhập WTO. Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11-1-2007 là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Những thành tựu đạt được trong hai năm qua cho thấy, việc Việt Nam tham gia vào WTO là phù hợp với thực tế khách quan và xu thế hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc trên thế giới hiện nay. Trên tinh thần chủ động hội nhập, cùng với việc tham gia Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA), Thỏa thuận ASEAN - Trung Quốc, ASEAN - Hàn Quốc, . thực hiện các thỏa thuận song phương như Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định đối tác Kinh tế toàn diện với Nhật Bản, tham gia các diễn đàn hợp tác kinh tế liên khu vực ASEM, APEC, Việt Nam đã thật sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Ngay sau khi gia nhập WTO, chúng ta cũng đã bắt tay vào xây dựng Chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế. Ngày 5-2-2007, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/T.Ư về "Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO". Theo đó, Chính phủ, các bộ, ngànhvà địa phương cũng đã ban hành các Chương trình hành động theo các định hướng lớn của Ðảng. Ðể thực hiện nghĩa vụ thành viên WTO, Việt Nam đã tiến hành điều chỉnh chính sách thương mại theo hướng minh bạch và thông thoáng hơn, ban hành nhiều luật và các văn bản dưới luật để thực hiện các cam kết đa phương, mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, cũng như các biện pháp cải cách đồng bộ trong nước nhằm tận dụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thức trong quá trình hội nhập. Mặc dù thời gian hai năm chưa đủ để có thể đánh giá toàn diện những tác động kinh tế - xã hội của việc gia nhập WTO, nhưng chúng ta cũng có thể thấy một số kết quả tích cực như sau: Thứ nhất, việc gia nhập WTO đã góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế về kinh tế, chính trị, ngoại giao, . Các đối tác kinh tế, thương mại đánh giá Việt Nam như là một đối tác quan trọng và giàu tiềm năng của khu vực Ðông - Nam Á. Vai trò của nước ta trong các hoạt động của WTO, ASEAN, APEC, ASEM và các tổ chức quốc tế ngày càng được nâng cao. Ðặc biệt, việc trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2008 - 2009 đã chứng tỏ uy tín quốc tế ngày càng cao của Việt Nam. Thứ hai, việc điều chỉnh thể chế kinh tế, hoàn thiện từng bước khung pháp lý, xóa bỏ các rào cản và nâng cao tính minh bạch trong chính sách kinh tế, thương mại, cải thiện môi trường kinh doanh đã làm tăng hiệu quả và thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững hơn. Mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, tiền tệ toàn cầu, nhưng GDP năm 2008 của nước ta vẫn tăng trưởng ở mức 6,23%, xuất khẩu vẫn bảo đảm nhịp độ tăng trưởng khá: Năm 2007, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 48,56 tỷ USD, tăng 21,9% so với năm 2006; Năm 2008, dù đa số các thị trường lớn rơi vào suy thoái nhưng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn rất đáng khích lệ, ước tính đạt khoảng 63 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007. Thị trường xuất khẩu của Việt Nam đã đa dạng hơn và hàng hóa của Việt Nam đã thâm nhập tốt hơn, đứng vững hơn trong các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, . Thứ ba, do việc điều chỉnh chính sách kinh tế theo các cam kết quốc tế, môi trường kinh doanh và đầu tư trở nên thông thoáng và minh bạch hơn, dẫn đến việc gia tăng luồng vốn FDI vào Việt Nam. Năm 2007, Việt Nam đã thu hút trên 20,3 tỷ USD, tăng 69,2% so với năm 2006. Sang năm 2008, dù tình hình kinh tế thế giới xấu đi, nhưng vốn FDI cam kết đã đạt hơn 64 tỷ USD, gấp gần ba lần năm 2007. Ðiều này phản ánh niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào tiến trình hội nhập, mở cửa thị trường, cũng như vào triển vọng và tiềm năng phát triển kinh tế của Việt Nam, tin tưởng vào sự ổn định chính trị, xã hội và những quyết sách tích cực và hiệu quả của Chính phủ Việt Nam trong việc đối phó với cơn khủng hoảng tài chính hiện nay. Thứ tư, việc mở cửa thị trường dịch vụ theo cam kết WTO góp phần phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nâng cao trình độ công nghệ cho các nhà sản xuất, dẫn tới việc tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài. Mặt khác, thông qua việc liên doanh, hợp tác với nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam cũng được tăng cường thêm về vốn, trình độ quản lý, nhân sự và phát triển công nghệ. Thứ năm, ngành công nghiệp Việt Nam đã phát triển theo hướng tích cực, sản xuất công nghiệp đạt năng suất tương đối cao: Năm 2007 giá trị sản xuất công nghiệp đạt trên 574 nghìn tỷ đồng, tăng 17,1% so với 2006; Năm 2008 ước đạt 650 nghìn tỷ đồng tăng 14,6% so với năm 2007; Các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động như thủy sản, may mặc, giày dép, đồ nội thất, thủ công cũng có tốc độ tăng trưởng cao. Hai năm gia nhập WTO càng làm rõ thêm những thời cơ và thách thức mà Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X đã chỉ ra, đặc biệt là những tác động không thuận đối với nước ta do những biến động của nền kinh tế thế giới. Bước vào năm 2009, Chính phủ đã đề ra năm nhóm giải pháp để ngăn chặn và đẩy lùi suy giảm kinh tế, trong đó biện pháp quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu. Việc thực hiện cam kết với WTO và điều chỉnh chính sách theo các cam kết quốc tế phải bám sát và hỗ trợ những nhiệm vụ cấp bách mà Chính phủ đã đề ra. Trong thời gian tới, trước mắt là năm 2009, chúng ta cần tập trung giải quyết các vấn đề sau: . các thành viên WTO. II. Tiến trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam Việt Nam chính thức nộp đơn gia nhập WTO tháng 1/1995. Năm 1996, tại WTO, Nhóm Công. hơn, dẫn đến việc gia tăng luồng vốn FDI vào Việt Nam. Năm 20 07, Việt Nam đã thu hút trên 20 ,3 tỷ USD, tăng 69 ,2% so với năm 20 06. Sang năm 20 08, dù tình hình

— Xem thêm —

Xem thêm: Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO, Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO, Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO

Lên đầu trang

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.16167998313904 s. Memory usage = 17.7 MB