Bài giảng An toàn Lao Động - P1

kieuan
kieuan(1478 tài liệu)
(14 người theo dõi)
Lượt xem 541
12
Tải xuống 2,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 62 | Loại file: PDF
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 22/10/2012, 13:07

Mô tả: 1/Mục đích, tính chất của công tác bảo hộ 2/các khái niệm cơ bản về bảo hộ lao động 3/các nội dung về bào hộ lao động 4/các mối liên hệ giưa bảo hộ lao động với môi trường. - lu đức hoà - giáo trình an toàn lao động đà nẵng - 2002 1 chơng 1 những khái niệm chung về khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động 1.1. Mục đích, ý nghĩa, tính chất của công tác BHlđ 1.1.1 Mục đích của công tác BHLĐ Là thông qua các biện pháp về khoa học kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại đợc phát sinh trong quá trình sản xuất; từ đó cải thiện điều kiện lao động hoặc tạo điều kiện an toàn trong lao động, ngăn ngừa bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau làm giảm sút sức khoẻ cũng nh những thiệt hại khác đối với ngời lao động; nhằm bảo vệ sức khoẻ, đảm bảo an toàn về tính mạng ngời lao động và cơ sở vật chất, góp phần bảo vệ và phát triển lực lợng sản xuất, tăng năng suất lao động. 1.1.2. ý nghĩa của công tác BHLĐ Bảo hộ lao động (BHLĐ) trớc hết là phạm trù của lao động sản xuất, do yêu cầu của sản xuất và gắn liền với quá trình sản xuất. Bảo hộ lao động mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi ngời nên nó mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Mặt khác, nhờ chăm lo sức khoẻ của ngời lao động mà công tác BHLĐ mang lại hiệu quả xã hội và nhân đạo rất cao. BHLĐ là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc, là nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu đợc trong các dự án, thiết kế, điều hành và triển khai sản xuất. BHLĐ mang lại những lợi ích về kinh tế, chính trị và xã hội. Lao động tạo ra của cải vật chất, làm cho xã hội tồn tại và phát triển. Bất cứ dới chế độ xã hội nào, lao động của con ngời cũng là yếu tố quyết định nhất. Xây dựng giàu có, tự do, dân chủ cũng là nhờ ngời lao động. Trí thức mở mang cũng nhờ lao động (lao động trí óc) vì vậy lao động là động lực chính của sự tiến bộ loài ngời . ở nớc ta, trớc cách mạng tháng Tám, trong thời kỳ kháng chiến ở vùng tạm chiến của Pháp và ở miền Nam dới chế độ thực dân mới của Mỹ tình cảnh ngời lao động rất điêu đứng, tai nạn lao động xảy ra lại càng nghiêm trọng. Các nhà lý luận t sản lập luận rằng: Tai nạn lao động trong sản xuất là không thể tránh khỏi, khi năng suất lao động tăng thì tai nạn lao động cũng tăng lên theo. Họ nêu lên lý lẽ nh vậy nhằm xoa dịu sự đấu tranh của giai cấp công nhân và che dấu tình trạng sản xuất thiếu các biện pháp an toàn. Thực ra, số tai nạn xảy ra hàng năm ở các nớc t bản tăng lên có những nguyên nhân của nó. Chẳng hạn, công nhân phải làm việc với cờng độ lao động quá cao, thời gian quá dài, thiết bị sản xuất thiếu các cơ cấu an toàn cần thiết. Nơi làm việc không đảm - lu đức hoà - giáo trình an toàn lao động đà nẵng - 2002 2 bảo có điều kiện vệ sinh, cha có chế độ bồi dỡng thích đáng đối với ngời lao động v.v . Dới chế độ xã hội chủ nghĩa, khi ngời lao động đã đợc hoàn toàn giải phóng và trở thành ngời chủ xã hội, lao động đã trở thành vinh dự và nghĩa vụ thiêng liêng của con ngời. Bảo hộ lao động trở thành chính sách lớn của đảng và nhà nớc. V.I. LêNin viết: Sau nhiều thế kỷ phải lao động cho ngời khác, phải lao động nô lệ cho bọn bóc lột, lần đầu tiên con ngời đã có thể lao động cho mình và có thể dựa vào tất cả các thành quả của kỹ thuật và của văn hoá hiện đại mà làm việc. Dới chế độ xã hội chủ nghĩa, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng làm điều khiển làm việc đợc vệ sinh, hàng triệu công nhân thoát khỏi cảnh khói, bụi và biến đổi các xởng bẩn thỉu, hôi hám thành những phòng thí nghiệm sạch sẽ, sáng sủa, xứng đáng với con ngời. ở nớc ta, công tác bảo hộ lao động đợc Đảng và Nhà nớc đặc biệt quan tâm. Ngay trong thời kỳ bí mật, Đảng đã kêu gọi công nhân đấu tranh đòi ngày làm 8 giờ, phản đối việc bắt phụ nữ và thiếu nhi làm việc quá sức, đòi cải thiện điều kiện làm việc. Tháng 8 năm 1947, sắc lệnh số 29 - SL đợc ban hành trong lúc cuộc trờng kỳ kháng chiến bớc vào giai đoạn gay go. Đây là sắc lệnh đầu tiên về lao động của nớc Việt Nam Dân Chủ công hoà, trong đó có nhiều khoản về bảo hộ lao động. Điều 133 của sắc lệnh quy định Các xí nghiệp phải có đủ phơng tiện để bảo an và giữ gìn sức khoẻ cho công nhân . Điều 140 quy định: Những nơi làm việc phải rộng rãi, thoáng khí và có ánh sáng mặt trời. Những nơi làm việc phải cách hẳn nhà tiêu, những cống rãnh, để tránh mùi hôi thối, đảm bảo vệ sinh môi trờng làm việc. Ngày 22-5-1950, Nhà nớc đã ban hành sắc lệnh số 77/SL quy định thời gian làm việc, nghĩ ngơi và tiền lơng làm thêm giờ cho công nhân. Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, toàn dân ta bớc vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế. Từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, số lợng công nhân ít ỏi, tiến thẳng lên một xã hội chủ nghĩa có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, việc đào tạo một đội ngũ công nhân đông đảo là một nhiệm vụ cấp bách. Trong tình hình đó, công tác bảo hộ lao động lại trở nên cực kỳ quan trọng. Hội nghị ban chấp hành Trung ơng Đảng lần thứ 14 (Đại hội III) đã vạch rõ: Phải hết sức quan tâm đến việc đảm bảo an toàn lao động, cải thiện điều kiện lao động, chăm lo sức khoẻ của công nhân. Tích cực thực hiện mọi biện pháp cần thiết để bảo hộ lao động cho công nhân. Chỉ thị 132-CT ngày 13-3-1959 của Ban Bí Th Trung ơng Đảng có đoạn viết: Công tác bảo vệ lao động phục vụ trực tiếp cho sản xuất và không thể tách rời sản xuất. Bảo vệ tốt sức lao động của ngời sản xuất là một yếu tố quan trọng để đẩy mạnh sản xuất phát triển, xem nhẹ bảo đảm an toàn lao động là biểu hiện thiếu quan điểm quần chúng trong sản xuất . Trong những năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, ta vẫn triển khai công tác nghiên cứu khoa học về bảo hộ lao động. Bộ phận nghiên cứu vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp của Viện vệ sinh dịch tễ đợc thành lập và từ năm 1961 đến nay đã hoàn - lu đức hoà - giáo trình an toàn lao động đà nẵng - 2002 3 thành nhiều công trình nghiên cứu, phục vụ công nghiệp có giá trị. Năm 1971, Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động trực thuộc Tổng Công Đoàn Việt Nam đã đợc thành lập và đang hoạt động có hiệu quả. Môn học Bảo hộ lao động đã đợc các trờng Đại học, trung học chuyên nghiệp và các trờng dạy nghề đa vào chơng trình giảng dạy chính khóa. Ngày nay, công tác bảo hộ đã đợc nâng lên một tầm cao mới. Hàng tuần công nhân chỉ phải làm việc 5 ngày, các công xởng, xí nghiệp phải đợc kiểm tra công tác bảo an định kỳ và chặt chẻ. Tổng công đoàn Việt nam có các phân viện BHLĐ đóng ở các Miền để kiểm tra và đôn đốc việc thực hiên công tác bảo an. 1.1.3. Tính chất của công tác bảo hộ lao động BHLĐ Có 3 tính chất chủ yếu là: Pháp lý, Khoa học kỹ thuật và tính quần chúng. a/ BHLĐ mang tính chất pháp lý Những quy định và nội dung về BHLĐ đợc thể chế hoá chúng thành những luật lệ, chế độ chính sách, tiêu chuẩn và đợc hớng dẫn cho mọi cấp mọi ngành mọi tổ chức và cá nhân nghiêm chỉnh thực hiện. Những chính sách, chế độ, quy phạm, tiêu chuẩn, đợc ban hành trong công tác bảo hộ lao động là luật pháp của Nhà nớc. Xuất phát từ quan điểm: Con ngời là vốn quý nhất, nên luật pháp về bảo hộ lao động đợc nghiên cứu, xây dựng nhằm bảo vệ con ngời trong sản xuất, mọi cơ sở kinh tế và mọi ngời tham gia lao động phải có trách nhiệm tham gia nghiên cứu, và thực hiện. Đó là tính pháp lý của công tác bảo hộ lao động . b/ BHLĐ mang tính KHKT Mọi hoạt động của BHLĐ nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại, phòng và chống tai nạn, các bệnh nghề nghiệp . đều xuất phát từ những cơ sở của KHKT. Các hoạt động điều tra khảo sát phân tích điều kiện lao động, đánh giá ảnh hởng của các yếu tố độc hại đến con ngời để đề ra các giải pháp chống ô nhiễm, giải pháp đảm bảo an toàn đều là những hoạt động khoa học kỹ thuật. Hiện nay, việc vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào công tác bảo hộ lao động ngày càng phổ biến. Trong quá trình kiểm tra mối hàn bằng tia gamma (), nếu không hiểu biết về tính chất và tác dụng của các tia phóng xạ thì không thể có biện pháp phòng tránh có hiệu quả. Nghiên cứu các biện pháp an toàn khi sử dụng cần trục, không thể chỉ có hiểu biết về cơ học, sức bền vật liệu mà còn nhiều vấn đề khác nh sự cân bằng của cần cẩu, tầm với, điều khiển điện, tốc độ nâng chuyên v.v . Muốn biến điều kiện lao động cực nhọc thành điều kiện làm việc thoải mái, muốn loại trừ vĩnh viễn tai nạn lao động trong sản xuất, phải giải quyết nhiều vấn đề tổng hợp phức tạp không những phải có hiểu biết về kỹ thuật chiếu sáng, kỹ thuật thông gió, cơ khí hoá, tự động hoá v.v . mà còn cần có các kiến thức về tâm lý lao động, thẩm mỹ - lu đức hoà - giáo trình an toàn lao động đà nẵng - 2002 4 công nghiệp, xã hội học lao động v.v .Vì vậy công tác bảo hộ lao động mang tính chất khoa học kỹ thuật tổng hợp. c/ BHLĐ mang tính quần chúng Tất cả mọi ngời từ ngời sử dụng lao động đến ngời lao động đều là đối tợng cần đợc bảo vệ. Đồng thời họ cũng là chủ thể phải tham gia vào công tác BHLĐ để bảo vệ mình và bảo vệ ngời khác. Bảo hộ lao động có liên quan đến tất cả mọi ngời, tham gia sản xuất, công nhân là những ngời thờng xuyên tiếp xúc với máy móc, trực tiếp thực hiện các qui trình công nghệ v.v . Do đó họ có nhiều khả năng phát hiện những sơ hở trong công tác bảo hộ lao động, đóng góp xây dựng, các biện pháp về kỹ thuật an toàn, tham gia ý kiến về mẫu mực, quy cách dụng cụ phòng hộ, quần áo làm việc v.v . mà còn cần có các kiến thức về tâm lí lao động, thẫm mĩ công nghiệp, xã hội học lao động. Mặt khác dù các qui trình, quy phạm an toàn đợc đề ra tỉ mỉ đến đâu, nhng công nhân cha đợc học tập, cha đợc thấm nhuần, cha thấy rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của nó thì rất dễ vi phạm. Muốn làm tốt công tác bảo hộ lao động, phải vận động đợc đông đảo mọi ngời tham gia. Cho nên BHLĐ chỉ có kết quả khi đợc mọi cấp, mọi ngành, quan tâm, đợc mọi ngời lao động tích cực tham gia và tự giác thực hiện các luật lệ, chế độ tiêu chuẩn, biện pháp để cải thiện điều kiện làm việc, phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. BHLĐ là hoạt động hớng về cơ sở sản xuất và con ngời và trớc hết là ngời trực tiếp lao động. Nó liên quan với quần chúng lao động, bảo vệ quyền lợi và hạnh phúc cho mọi ngời, mọi nhà, cho toàn xã hội. Vì thế BHLĐ luôn mang tính quần chúng sâu rộng. Tóm lại: Ba tính chất trên đây của công tác bảo hộ lao động: tính pháp lý, tính khoa học kỹ thuật và tính quần chúng có liên quan mật thiết với nhau và hỗ trợ lẫn nhau. 1.1.4. Thực trạng công tác BHLĐ ở nớc ta hiện nay Đảng và Nhà nớc ta đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết, hớng dẫn về công tác BHLĐ. Các ngành chức năng của nhà nớc (Lao động và TBXH, Ytế, tổng liên đoàn LĐVN, . ) đã có nhiều cố gắng trong công tác BHLĐ. Tuy nhiên nhiên cơ quan, doanh nghiệp cha nhận thức một cách nghiêm túc công tác BHLĐ; coi nhẹ hay thậm chí vô trách nhiệm với công tác BHLĐ. Hệ thống tổ chức quản lý về BHLĐ từ trung ơng đến địa phơng cha đợc củng cố. Các văn bản pháp luật về BHLĐ cha đợc hoàn chỉnh, việc thực hiện cha nghiêm chỉnh. Điều kiện làm việc còn nhiều nguy cơ đe doạ về an toàn lao động; điều kiện vệ sinh lao động bị xuống cấp nghiêm trọng. Tình hình tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp còn là thách thức lớn đối với nớc ta. - lu đức hoà - giáo trình an toàn lao động đà nẵng - 2002 5 1.2. Những khái niệm cơ bản về BHLĐ 1.2.1. Điều kiện lao động Là tập hợp tổng thể các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế xã hội đợc biểu hiện thông qua các công cụ và phơng tiện lao động, đối tợng lao động, quá trình công nghệ, môi trờng lao động, và sự sắp xếp bố trí cũng nh các tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với con ngời tạo nên những điều kiện nhất định cho con ngời trong quá trình lao động. Điều kiện lao động có ảnh hởng đến sức khoẻ và tính mạng con ngời. Điều kiện lao động nên xét cả về hai mặt: công cụ lao động và phơng tiện lao động. Những công cụ và phơng tiện đó có tiện nghi, thuận lợi hay gây khó khăn nguy hiểm cho ngời lao động, đối tợng lao động cũng ảnh hởng đến ngời lao động rất đa dạng nh dòng điện, chất nổ, phóng xạ, . Những ảnh hởng đó còn phụ thuộc quy trình công nghệ, trình độ sản xuất (thô sơ hay hiện đại, lạc hậu hay tiên tiến), môi trờng lao động rất đa dạng , có nhiều yếu tố tiện nghi, thuận lợi hay nghợc lại rất khắc nghiệt, độc hại, đều tác động lớn đến sức khoẻ của ngời lao động. 1.2.2. Khái niệm về vùng nguy hiểm Là khoảng không gian trong đó các nhân tố nguy hiểm có ảnh hởng trực tiếp hay luôn đe doạ đối với sự sống và sức khoẻ của ngời lao động. Vùng nguy hiểm có thể là: Phạm vi hoạt động của các cơ cấu truyền động: Bộ truyền bánh răng, mâm cặp, . Phạm vi chuyển động của các bộ phận máy nh đầu bào (theo phơng ngang), đầu máy búa (theo phơng thẳng đứng) v.v . Phạm vi hoạt động của các bộ phận quay, bán kính quay đánh búa khi rèn , . Phạm vi mà các vật gia công, phoi, bột đá mài v.v . có thể văng ra, phạm vi mà các ngọn lữa hàn, giọt kim loại lỏng bắn toé v.v . Phạm vi mà cần cẩu đang hoạt động, xe, cầu trục chuyển động qua lại . Khu vực điện cao thế, các thiết bị điện. Khu vực có vật dễ cháy, nổ v.v . 1.2.3. Các yếu tố nguy hiểm và có hại Trong một điều kiện lao động củ thể, bao giờ cũng xuất hiện cac yếu tố vật chất có ảnh hởng xấu, nguy hiểm, có nguy cơ gây tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp cho ngời lao động, ta gọi đó là các yếu tố nguy hiểm và có hại. Củ thể là: Các yếu tố vật lý nh nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ có hại, bụi. Các yếu tố hoá học nh hoá chất độc, các loại hơi, khí, bụi độc, các chất phóng xạ. - lu đức hoà - giáo trình an toàn lao động đà nẵng - 2002 6 Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật nh các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng, côn trùng, rắn. Các yếu tố bất lợi về t thế lao động, không tiện nghi do không gian chỗ làm việc, nhà xởng chật hẹp, mất vệ sinh. Các yếu tố tâm lý không thuật lợi . đều là những yếu tố nguy hiểm và có hại. 1.2.4. Tai nạn lao động Tai nạn lao động là tai nạn không may xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ lao động làm tổn thơng, làm ảnh hởng sức khoẻ, làm giảm khả năng lao động hay làm chết ngời. Tai nạn lao động còn đợc phân ra: chấn thơng, nhiểm độc nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp Chấn thơng: là tai nạn mà kết quả gây nên những vết thơng hay huỷ hoại một phần cơ thể ngời lao động, làm tổn thơng tạm thời hay mất khả năng lao động vĩnh viễn hay thậm chí gây tử vong. Chấn thơng có tác dụng đột ngột. Nhiểm độc nghề nghiệp: là sự huỷ hoại sức khoẻ do tác dụng của các chất độc xâm nhập vào cơ thể ngơì lao động trơng điều kiện sản xuất Bệnh nghề nghiệp: là sự làm suy yếu dần dần sức khoẻ hay làm ảnh hởng đến khả năng làm việc và sinh hoạt của ngời lao động do kết quả tác dụng của những điều kiện làm việc bất lợi (tiếng ồn, rung, .) hoặc do thờng xuyên tiếp xúc với các chất độc hại nh sơn, bụi , . Bệnh nghề nghiệp có ảnh hởng làm suy yếu sức khoẻ một cách dần dần và lâu dài. - lu đức hoà - giáo trình an toàn lao động đà nẵng - 2002 7 1.3. Những nội dung chủ yếu của khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động 1.3.1. Nội dung khoa học kỹ thuật Nội dung khoa học kỹ thuật chiếm một vị trí rất quan trọng, là phần cốt lõi để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại, cải thiện điều kiện lao động. Khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động là lệnh vực khoa học rất tổng hợp và liên ngành, đợc hình thành và phát triển trên cơ sở kết hợp và sử dụng thành tựu của nhiều ngành khoa học khác nhau, từ khoa học tự nhiên (nh toán, vật lý, hoá học, sinh học .) đến khoa học kỹ thuật chuyên ngành và còn liên quan đến các ngành kinh tế, xã hội, tâm lý học .Những nội dung nghiên cứu chính của Khoa học bảo hộ lao động bao gồm những vấn đề: a/ Khoa học vệ sinh lao động Môi trờng xung quanh ảnh hởng đến điều kiện lao động, và do đó ảnh hởng đến con ngời, dụng cụ, máy móc thiết bị, ảnh hởng này còn có khả năng lan truyền trong một phạm vi nhất định. Sự chịu đựng quá tải (điều kiện dẫn đến nguyên nhân gây bệnh) dẫn đến khả năng sinh ra bệnh nghề nghiệp. Để phòng bệnh nghề nghiệp cũng nh tạo ra điều kiện tối u cho sức khoẻ và tình trạng lành mạnh cho ngời lao động chính là mục đích của vệ sinh lao động. Các yếu tố tác động xấu đến hệ thống lao động cần đợc phat hiện và tối u hoá. Mục đích này không chỉ nhằm đảm bảo về sức khoẻ và an toàn lao động, đồng thời tạo nên những cơ sở cho việc làm giảm sự căng thẳng trong lao động, nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế, điều chỉnh những hoạt động của con ngời một cách thích hợp. Với ý nghĩa đó thì điều kiện môi trờng lao động là điều kiện xung quanh của hệ thống lao động cũng nh là thành phần của hệ thống. Thuộc thành phần của hệ thống là những điều kiện về không gian, tổ chức, trao đổi cũng nh xã hội. - Các yếu tố của môi trờng lao động: đợc đặc trng bởi các điều kiện xung quanh về vật lý, hoá học, vi sinh vật (nh các tia bức xạ, rung động, bụi .). Chúng đợc đánh giá dựa trên cơ sở: + Khả năng lan truyền của các yếu tố môi trờng lao động từ nguồn. + Sự lan truyền của các yếu tố này thông qua con ngời ở vị trí lao động. Nguồn truyền Phơng tiện bảo vệ Nơi tác động (chỗ làm việc) - lu đức hoà - giáo trình an toàn lao động đà nẵng - 2002 8 Mục đích chủ yếu của việc đánh giá các điều kiện xung quanh là: Đảm bảo sức khoẻ và an toàn lao động. Tránh căng thẳng trong lao động, tạo khả năng hoàn thành công việc. Đảm bảo chức năng các trang thiết bị hoạt động tốt. Tạo hứng thú trong lao động. - Tác động chủ yếu của các yếu tố môi trờng lao động đến con ngời: là các yếu tố môi trờng lao động về vật lý, hoá học, sinh học ảnh hởng đến con ngời. Tình trạng sinh lý của cơ thể cũng chịu tác động và phải đợc điều chỉnh thích hợp, xét cả hai mặt tâm lý và sinh lý. Tác động của năng suất lao động cũng ảnh hởng trực tiếp về mặt tâm lý đối với ngời lao động. Vì vậy khi nói đến các yếu tố ảnh hởng của môi trờng lao động, phải xét cã các yếu tố tiêu cực nh tổn thơng, gây nhiễu . và các yếu tố tích cực nh yếu tố sử dụng. Một điều cần chú ý là sự nhận biết mức độ tác động của các yếu tố khác nhau đối với ngời lao động để có các biện pháp xử lý thích hợp. - Cơ sở về các hình thức vệ sinh lao động: Các hình thức của các yếu tố ảnh hởng của môi trờng lao động là những điều kiện ở chỗ làm việc (Trong nhà máy hay văn phòng .), trạng thái lao động (làm việc ca ngày hay ca đêm .), yêu cầu của nhiệm vụ đợc giao (lắp ráp, sửa chữa, gia công cơ hay thiết kế, lập chơng trình .) và các phơng tiện lao động, vật liệu. Phơng thức hành động cần chú ý đến các vấn đề sau: Xác định đúng các biện pháp về thiết kế công nghệ, tổ chức và chống lại sự lan truyền các yếu tố ảnh hởng của môi trờng lao động (Biện pháp u tiên). Biện pháp chống sự xâm nhập ảnh hởng xấu của môi trờng lao động đến chỗ làm việc, chống lan toả (Biện pháp thứ hai). Hình thức lao động cũng nh tổ chức lao động. Biện pháp tối u làm giảm sự căng thẳng trong lao động (Thông qua tác động đối kháng). Các biện pháp cá nhân (Bảo vệ đờng hô hấp, tai .). b/ Cơ sở kỹ thuật an toàn Kỹ thuật an toàn là hệ thống các biện pháp, phơng tiện, tổ chức và kỹ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố nguy hiểm gây chấn thơng sản xuất đối với ngời lao động. Phân tích tác động: là phơng pháp mô tả và đánh giá những sự cố không mong muốn xảy ra. Ví dụ: tai nạn lao động, tai nạn trên đờng đi làm, bẹnh nghề nghiệp, nổ v.v . Những tiêu chuẩn đặc trng cho tai nạn lao động là: - lu đức hoà - giáo trình an toàn lao động đà nẵng - 2002 9 Sự cố gây tổn thơng và tác động từ bên ngoài. Sự cố đột ngột. Sự cố không bình thờng. Hoạt động an toàn Phân tích tình trạng: là phơng pháp đánh giá chung tình trạng an toàn và kỹ thuật an toàn của hệ thống lao động. ở đây cần quan tâm là khả năng xuất hiện những tổn thơng. Phân tích chính xác những khả năng dự phòng trên cơ sở những điều kiện lao động và những giả thiết khác nhau. c/ Khoa học về các phơng tiện bảo vệ ngời lao động Ngành khoa học này có nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo những phơng tiện bảo vệ tập thể hay cá nhân ngời lao động để sử dụng trong sản xuất nhàm chống lại những ảnh hởng của các yếu tố nguy hiểm và có hại, khi các biện pháp về mặt kỹ thuật an toàn không thể loại trừ đợc chúng. Ngày nay các phơng tiện bảo vệ cá nhân nh mặt nạ phòng độc, kính màu chống bức xạ, quần áo chống nóng, quần áo kháng áp, các loại bao tay, giày, ủng cách điện . là những phơng tiện thiết yếu trong lao động. d/ Ecgônômi với an toàn sức khoẻ lao động Ecgônômi là môn khoa học liên ngành nghiên cứu tổng hợp sự thích ứng giữa các phơng tiện kỹ thuật và môi trờng lao động với khả năng của con ngời về giải phẩu, tâm lý, sinh lý nhằm đảm bảo cho lao động có hiệu quả nhất, đồng thời bảo vệ sức khoẻ, an toàn cho con ngời. Ecgônômi tập trung vào sự thích ứng của máy móc, công cụ với ngời điều khiển nhờ vào việc thiết kế. Tập trung vào sự thích nghi giữa ngời lao động với máy móc nhờ sự tuyển chọn và huấn luyện. Tập trung vào việc tối u hoá môi trờng xung quanh thích hợp với con ngời và sự thích nghi của con ngời với điều kiện môi trờng. Ngời lao động phải làm việc trong t thế gò bó, ngồi hoặc đứng trong thời gian dài, thờng bị đau lng, đau cổ và căng thẳng cơ bắp. Hiện tợng bị chói loá do chiếu sáng không tốt làm giảm hiệu quả công việc, gây mệt mỏi thị giác và thần kinh, tạo nên tâm lý khó chịu. Sự khác biệt về chủng tộc và nhân chủng học cần đợc chu ý, khi nhập khẩu hay chuyển giao công nghệ của nớc ngoài có sự khác biệt về cấu trúc văn hoá, xã hội, có thể dẫn đến hậu quả xấu. - Những nguyên tắc Ecgônômi trong thiết kế hệ thống lao động: Cơ sở nhân trắc học, cơ sinh, tâm sinh lý và những đặc tính khác của ngời lao động. Cơ sở về vệ sinh lao động, về an toàn lao động. Các yêu cầu về thẩm mỹ kỹ thuật. - Thiết kế không gian làm việc và phơng tiện lao động: - lu đức hoà - giáo trình an toàn lao động đà nẵng - 2002 10 Thích ứng với kích thớc ngời điều khiển Phù hợp với t thế của cơ thể con ngời, lực cơ bắp và chuyển động Có các tín hiệu, cơ cấu điều khiển, thông tin phản hồi. - Thiết kế môi trờng lao động: Môi trờng lao động cần phải đợc thiết kế và bảo đảm tránh đợc tác động có hại của các yếu tố vạat lý, hoá học, sinh học và đạt điều kiện tối u cho hoạt động chức năng của con ngời. - Thiết kế quá trình lao động: Thiết kế quá trình lao động nhằm bảo vệ sức khoẻ an toàn cho ngời lao động, tạo cho họ cảm giác dể chịu, thoải mái và dể dàng thực hiện mục tiêu lao động. 1.3.2. nội dung xây dựng và thực hiện pháp luật về BHLĐ ở mỗi quốc gia công tác BHLĐ đợc đa ra một luật riêng hoặc thành một chơng về BHLĐ trong bộ luật lao động, ở một số nớc, ban hành một văn bản dới luật nh pháp lệnh điều lệ. ở Việt nam quá trình xây dựng và phát triển hệ thống luật pháp chế độ chính sách BHLĐ đã đợc Đảng và Nhà nớc hết sức quan tâm (xem chơng 2). 1.4. Mối quan hệ giữa BHLĐ và môi trờng Vấn đề môi trờng nói chung hay môi trờng lao động nói riêng là một vấn đề thời sự cấp bách đợc đề cập đến với quy mô toàn cầu. Các nhà khoa học từ lâu đã biết đợc sự thải các khí gây hiệu ứng nhà kính có thể làm trái đất nóng dần lên. Hiệu ứng nhà kính là kết quả hoạt động của con ngời trong quá trình sử dụng các loại nhiên liệu hoá thạch (dầu mỏ, than đá, khí đốt .) đã thải ra bầu khí quyển một khối lợng rất lớn các chất độc hại (trong số đó quan trọng nhất là CO2). Những khí độc này có xu hớng phản xạ ánh sáng, làm trái đất nóng dần lên. Và trong vòng 50 năm nữa sự phát thải đó làm cho nhiệt độ tăng lên từ 1,50 đến 4,50. Giờ đây các dòng sông băng ở Alaska và Bắc Xiberie đang bắt đầu tan chảy. Điều này sẽ dẫn đến mực nớc biển dâng cao, nhấn chìm một số miền duyên hải và những hòn đảo, là mầm móng của những trận bảo lụt thế kỷ và những nguy cơ của thảm hoạ sinh thái. Trong năm 1997, hiện tợng En Nino đã làm nhiệt độ trung bình của bầu khí quyển tăng 0,430C. Mỗi năm, con ngời đỗ ít nhất 7 tỉ tấn cácbon vào bầu khí quyền, vùng bị ô nhiễm nhiều nhất là khu vực ở biển Ban tích. Nếu con ngời hôm nay không thực hiện các biện pháp hữu hiệu để giảm bớt sự nóng lên của trái đất, thì không chỉ hôm nay mà cã thế hệ mai sau sẽ phải hứng chịu hậu . - lu đức hoà - giáo trình an toàn lao động đà nẵng - 2002 4 công nghiệp, xã hội học lao động v.v...Vì vậy công tác bảo hộ lao động mang tính. An toàn lao động, vệ sinh lao động. Chơng III. Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Chơng IV. Quyền và nghĩa vụ của ngời sử dụng lao động, ngời lao động.

— Xem thêm —

Xem thêm: Bài giảng An toàn Lao Động - P1, Bài giảng An toàn Lao Động - P1, Bài giảng An toàn Lao Động - P1

Lên đầu trang

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.111908912659 s. Memory usage = 17.61 MB