Giáo trình bảo quản thuốc và dụng cụ y tế

Hận Mộc
Hận Mộc(3144 tài liệu)
(47 người theo dõi)
Lượt xem 6156
109
Tải xuống 2,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 40 | Loại file: DOC
3

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 26/10/2012, 10:26

Mô tả: Giáo trình bảo quản thuốc và dụng cụ y tế DS. NGUYN VN KHOATRNG TRUNG CP Y T BC NINH GIO TRèNHBảo quản thuốc và dụng cụ y tế(Giỏo trỡnh lu hnh ni b)DS. NGUYN VN KHOATháng 09/2011TRNG TRUNG CP Y T BC NINH 1DS. NGUYN VN KHOABảo quản thuốc và dụng cụ y tế(Giỏo trỡnh lu hnh ni b)DS. NGUYN VN KHOATháng 09/20112DS. NGUYN VN KHOAPhụ lụcstt trangBài 1Đại cơng về bảo quản thuốc và dụng cụ y tế 4Bài 2Các yếu tố ảnh hởng đến chất lợng thuốc, dụng cụ y tế 6Bài 3Kỹ thuật bảo quản thuốc, hóa chất, dợc liệu 19Bài 4Kỹ thuật bảo quản dụng cụ thủy tinh 26Bài 5Kỹ thuật bảo quản dụng cụ kim loại 29Bài 6Kỹ thuật bảo quản dụng cụ cao su chất rẻo 32Bài 7Kỹ thuật bảo quản bông, băng, gạc, chỉ khâu phẫu thuật 37BI 1: I CNG V BO QUN THUC V DNG C Y T3DS. NGUYỄN VĂN KHOAMỤC TIÊU1.Trình bày được nội dung, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác bảo quản thuốc - dụng cụ y tế2.Trình bày được những nội dung chính của môn bảo quản thuốc-dụng cụ y tếNỘI DUNG1. ĐẠI CƯƠNG VỀ BẢO QUẢNThuốc và dụng cụ y tế (DCYT) là phương tiện không thể thiếu được trong công tác phòng, chữa bệnh. Chất lượng của thuốc và DCYT (tốt hay xấu) có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, tính mạng của người dùng thuốc. Thuốc là loại hàng hoá đặc biệt, có nguồn gốc rất đa dạng (Tự nhiên: động vật, thực vật, khoáng vật, . ; Nhân tạo: tổng hợp hoá học, sinh học ), do có bản chất khác nhau nên có tính chất lý – hoá khác nhau, mức độ bền vững khác nhau với các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học (Ví dụ: Aspirin dễ bị thuỷ phân, dễ bị hỏng bởi ẩm, nhiệt; Vitamin C dễ bị oxy hoá, ố vàng khi để ngoài không khí .). Vì vậy, thuốc nếu bảo quản không tốt, không đúng rất dễ bị hư hỏng trong quá trình tồn trữ, lưu thông và sử dụng, điều này không chỉ gây thiệt hại về mặt kinh tế mà quan trọng hơn là có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khoẻ của người dùng. Công tác bảo quản không chỉ có ý nghĩa về mặt chuyên môn, đảm bảo chất lượng thuốc, mà còn có ý nghĩa về mặt kinh tế xã hội của một quốc gia giúp sử dụng nguồn thuốc có hiệu quả, kinh tế nhằm giảm chi phí khám chữa bệnh từ ngân sách, cũng như của bệnh nhân. Vì vậy, công tác bảo quản thuốc - DCYT được đặt ra như là một nhiệm vụ không thể thiếu được đối với người Dược sĩ và những cán bộ làm công tác bảo quản. Với ý nghĩa, tầm quan trọng của việc bảo quản thuốc và DCYT như trên, người Dược sĩ là người trực tiếp tham gia công tác dược cần phải có những kiến thức về môn học bảo quản. Mục tiêu của công tác bảo quản thuốc và DCYT là nhằm “Đảm bảo đủ, kịp thời thuốc có chất lượng, giá cả hợp lý cho công tác phòng và chữa bệnh cho cộng đồng” mà chính sách thuốc Quốc gia đã đề ra.Bảo quản là môn học nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của thuốc - dụng cụ y tế và các biện pháp bảo quản thuốc - DCYT nhằm đảm bảo giữ được chất lượng tốt khi sử dụng.Như vậy, đối tượng chính của môn học bảo quản là thuốc và dụng cụ y tế.Ngày nay, đối tượng của môn bảo quản được mở rộng hơn, nó không chỉ quan tâm đến chất lượng thuốc - DCYT, mà còn nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và các kỹ thuật bảo quản đối với tất cả các nguyên liệu, vật tư, bao bì dùng trong sản xuất, mọi bán thành phẩm trong quá trình sản xuất và các thành phẩm trong kho . Bảo quản (hay tồn trữ) bao gồm cả quá trình xuất, nhập hàng hoá vì vậy nó yêu cầu phải có một hệ thống sổ sách phù hợp để ghi chép, đặc biệt là sổ sách ghi chép việc xuất nhập hàng hoá từng ngày.Bảo quản không chỉ là việc cất giữ hàng hoá trong kho mà nó còn là cả một quá trình xuất, nhập kho hợp lý, quá trình kiểm tra, kiểm kê, dự trữ và các biện pháp kỹ thuật bảo quản hàng hoá từ khâu nguyên liệu đến các thành phẩm hoàn chỉnh trong kho. Công tác tồn trữ là một trong những mắt xích quan trọng của việc đảm bảo cung cấp thuốc cho 4DS. NGUYỄN VĂN KHOAngười tiêu dùng với số lượng đủ nhất và chất lượng tốt nhất, giảm đến mức tối đa tỷ lệ hư hao trong quá trình sản xuất và phân phối thuốc.Ở nước ta, khí hậu nhiệt đới ẩm là điều kiện không thuận lợi trong công tác tồn trữ. Điều kiện kho tàng và các trang thiết bị phục vụ cho công tác bảo quản thuốc chưa đầy đủ. Hơn nữa, trình độ chuyên môn về lĩnh vực này của các cán bộ Dược còn hạn chế. Vì vậy, môn bảo quản sẽ giúp cho người Dược sĩ nắm được những nguyên tắc chung nhất trong công tác bảo quản, xuất nhập thuốc, các hàng hoá liên quan đến thuốc - dụng cụ y tế . nhằm góp phần làm tốt công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.Việt Nam nói chung và ngành Dược nói riêng có rất nhiều khó khăn trong việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị tốt phục vụ cho công tác bảo quản thuốc men và DCYT. Vì vậy, công tác bảo quản lại càng quan trọng và cần được quan tâm nhiều hơn.Trong điều kiện Quốc tế hoá và hội nhập của nền kinh tế nói chung và ngành Dược nói riêng, thuốc và DCYT không chỉ được sản xuất và sử dụng trong nước mà còn được xuất-nhập khẩu và giao lưu với nhiều nước khác nhau. Do đó, việc nghiên cứu đóng gói, bảo quản thuốc và DCYT cho phù hợp với điều kiện mỗi nước cũng cần được quan tâm để đảm bảo thuốc và DCYT có chất lượng tốt khi sử dụng. 2. Nội dung của công tác bảo quản- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng, số lượng của thuốc, dụng cụ y tế như độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng…- Đề ra những phương pháp và kỹ thuật bảo quản tốt nhất nhằm bảo vệ chất lượng của thuốc và dụng cụ y tế.- Góp phần xây dựng nội qui, quy chế chuyên môn sát với thực tế để chống nhầm lẫn, hư hỏng, mất mát, tham ô, lãng phí tài sản của Nhà nước và Xã hội.Bài 2: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG THUỐC, DỤNG CỤ Y TẾMỤC TIÊU1. Trình bày được ảnh hưởng của các yếu tố môi trường tới chất lượng thuốc - dụng cụ y tế và các biện pháp phòng chống.2. Nêu được các nguyên tắc chung trong công tác bảo quản thuốc và dụng cụ y tế5DS. NGUYỄN VĂN KHOATrình bày những ảnh hưởng của tính chất lý hoá, hạn dùng, đồ bao gói tới chất lượng thuốc và dụng cụ y tế.NỘI DUNG1. NHỮNG YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG THUỐC - DỤNG CỤ Y TẾ: TÁC HẠI VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO QUẢN1.1. Các yếu tố vật lý1.1.1. Độ ẩmLượng hơi nước luôn thay đổi theo thời tiết, theo địa phương và theo từng vùng. Ví dụ: Trời nắng thì khô ráo, trời mưa thì ẩm ướt, ban đêm ẩm hơn ban ngày. Mùa hè ở miền Bắc có độ ẩm cao (80-90%) do có gió nồm thổi từ biển vào mang theo không khí ẩm, trái lại mùa đông không khí lại rất khô (20-30%), độ ẩm thấp, do gió mùa Đông Bắc thổi từ lục địa khô khan (trừ khi có mưa). Ở miền nam có 2 mùa, mùa mưa có độ ẩm cao hơn mùa khô, tuy nhiên do có khí hậu cận xích đạo, mưa rào xong tạnh ngay, nắng chói chang cả ngày, không khí bị đốt nóng tạo độ ẩm cao và kéo dài; Còn mùa khô có ít mưa, luôn có nắng, không khí hầu như khô.+ Một số khái niệm về độ ẩmĐộ ẩm tuyệt đối: là lượng hơi nước thực có trong 1m3 không khí, được ký hiệu là a (g/m3).Độ ẩm cực đại : là lượng hơi nước tối đa có thể chứa trong 1 m3 không khí ở nhiệt độ và áp suất nhất định, ký hiệu là A (g/m3). Ở một nhiệt độ và áp suất xác định, độ ẩm cực đại có giá trị xác định. Như vậy, độ ẩm cực đại luôn phụ thuộc vào nhiệt độ và áp suất không khí.Độ ẩm cực đại cho biết khả năng chứa hơi nước của không khí. Thông thường ở áp suất nhất định, nhiệt độ càng cao thì độ ẩm cực đại càng lớn và ngược lại.Độ ẩm tương đối : Là tỷ lệ phần trăm giữa độ ẩm tuyệt đối và độ ẩm cực đại, ký hiệu là r = a. 100/A (%). Độ ẩm tương đối càng thấp thì không khí càng khô hanh, ngược lại độ ẩm tương đối càng cao thì không khí càng ẩm ướt. Trên thực tế, nếu độ ẩm tương đối r < 30% sẽ rất khô hanh và không khí rất ẩm ướt khi r >70%.Nhiệt độ điểm sương: là nhiệt độ mà độ ẩm tuyệt đối vượt quá độ ẩm cực đại, khi đó không khí sẽ bão hoà hơi nước và đọng lại tạo thành những giọt nước nhỏ li ti như hạt sương. Hiện tượng này rất nguy hiểm trong công tác bảo quản vì nước dễ đọng lại trong các bao bì đóng gói, dụng cụ y tế . gây tác động không tốt đối với thuốc, dụng cụ y tế, đặc biệt là các thuốc kỵ ẩm.Sự bão hoà hơi nước: là hiện tượng xảy ra khi độ ẩm tương đối bằng độ ẩm cực đại (a - A), khi đó độ ẩm tương đối đạt mức cực đại (r = 100%). Trong trường hợp không khí đã bão hoà hơi nước, chúng ta không thể làm khô bất kỳ một vật nào vì khả năng chứa nước của không khí đã đạt mức tối đa.+ Cách tính độ ẩm: muốn tính độ ẩm, người ta thường dùng 2 phương pháp sau:- Tra bảng tính sẵn- Dùng công thức tính: Cách tính độ ẩm tuyệt đối khi biết độ ẩm tương đối và nhiệt độ, theo công thức biểu thị độ ẩm tương đối ta có: r = Aa. 100 (%) (công thức 1) 6DS. NGUYỄN VĂN KHOASuy ra: a = 100. Ar (%) (cơng thức 2)Trong đó: r: là độ ẩm tương đối được xác định bằng ẩm kế.A: là độ ẩm cực đại được xác định bằng các tra bảng.a: là độ ẩm tuyệt đối cần tính.Ví dụ: Dùng ẩm kế ta đo được độ ẩm khơng tương đối trong kho là 40%, nhiệt độ trong kho tại thời điểm đo là 250C. Ta tính độ ẩm tuyệt đối như sau: Xác định độ ẩm cực đại A ở 250C bằng cách tra bảng tính sẵn, ta có A = 23 g/m3. Áp dụng cơng thức 2: a = 40.23 / 100 = 9,2 g/m3.+ Các dụng cụ đo độ ẩm: thường dùng ẩm kế Asman, ẩm kế khơ ướt, ẩm kế Oguyt, ẩm kế tóc.- Ẩm kế khơ ướt: cấu tạo gồm 2 nhiệt kế gắn trên bảng gỗ, ở một bầu thủy ngân của nhiệt kế được nhúng trong nước (đó là nhiệt kế ướt), khoảng giữa nhiệt kế khơ và nhiệt kế ướt là bảng ghi độ ẩm tương đối.Ngun tắc hoạt động: (Dựa trên ngun tắc nước bay hơi) tuỳ theo mơi trường khí quyển khơ hay ẩm mà tốc độ bay hơi nước trên bầu nhiệt kế nhanh hay chậm, kèm theo nhiệt độ bên nhiệt kế ướt. Căn cứ vào sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai nhiệt kế mà ta biết được độ ẩm tương đối của mơi trường.Cách dùng ẩm kế khơ ướt: Đổ nước cất hay nước mưa vào bầu thuỷ tinh treo tại vị trí thích hợp (tránh treo nơi đầu gió hay trước quạt). Để nhiệt độ ổn định, đọc các giá trị nhiệt độ trên hai nhiệt kế, tìm độ chênh lệch rồi xoay trụ ứng với độ chênh lệch. Đối chiếu với nhiệt độ bên nhiệt kế ướt ngang với giá trị ghi trên trụ xoay, ta tìm được độ ẩm tương đối.Ẩm kế tóc: Ngun tắc hoạt động: Dựa vào khả năng co giãn rất nhạy cảm của sợi tóc với nhiệt độ, độ ẩm bên ngồi, khi nắng nóng khơ thì sợi tóc sẽ bị bốc hơi khơ nên co ngắn lại, khi trời ẩm thì hút hơi nước vào và tự giãn ra, chính sự co giãn của sợi tóc làm quay kim đồng hồ chỉ độ ẩm trên ẩm kế.+ Tác hại của độ ẩmĐộ ẩm khơng khí là yếu tố có ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng thuốc và dụng cụ y tế trong q trình bảo quản. Độ ẩm khơng khí q cao hay q thấp đều có ảnh hưởng khơng tốt.Ảnh hưởng của độ ẩm cao: - Độ ẩm cao gây hư hỏng các loại thuốc và hố chất dễ hút ẩm như: Các muối kim loại kiềm, kiềm thổ (KI, NaCl, CaCl2 .) sẽ bị chảy lỏng, các viên bọc đường, viên nang sẽ bị chảy dính.Làm vón cục, ẩm mốc thuốc bột.Làm lỗng hay giảm nồng độ một số thuốc, hố chất như siro, glycerin, cồn cao độ, acid sulfuric…Các thuốc tạng liệu như cao gan, men… bị phá huỷ.- Độ ẩm cao là điều kiện cho phản ứng thuỷ phân một số thuốc, hố chất như alcaloid có cấu tạo ester, acetylsalicylic…7DS. NGUYỄN VĂN KHOA- Độ ẩm cao tạo điều kiện cho một số phản ứng hoá học xảy ra và toả nhiệt rất mạnh như anhydrid phosphoric (P2O5), Natri dioxyd (Na2O2), Natri, kali kim loại - Làm mất nhanh tác dụng của các kháng sinh, nội tiết tố, vaccin…- Làm han gỉ dụng cụ kim loại hoặc tạo điều kiện cho nấm mốc phát triển trên dụng cụ thủy tinh, cao su, chất dẻo.- Làm hư hỏng đồ bao gói thuốc như gây nấm mốc, làm bong rách đồ bao gói và nhãn, làm hư hỏng dược liệu thảo mộc và bông băng gạc Ảnh hưởng của độ ẩm thấp: Nếu môi trường bảo quản quá khô hanh sẽ làm hỏng một số thuốc và dụng cụ y tế như làm cho dụng cụ cao su, chất dẻo bị hư hỏng nhanh do hiện tượng lão hoá, làm cho muối kết tinh bị mất nước (Na2SO3.10H2O, MgSO4.7 H2O, Zn SO4.7H2O ).+ Các biện pháp chống ẩmNguyên tắc chung là muốn chống ẩm phải áp dụng mọi cách nhằm hạ thấp lượng hơi nước có trong không khí. Để bảo quản thuốc và dụng cụ y tế, người ta thường áp dụng các biện pháp sau:o Thông gió tự nhiên: Đây là cách làm tiết kiệm nhất, dễ thực hiện nhất và có thể áp dụng rộng trong công tác bảo quản. Có hai cách thông gió là thông gió tự nhiên và thông gió nhân tạo. Tuỳ vào từng hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để áp dụng cho phù hợp. Để thông gió có hiệu quả, phải có đủ 4 điều kiện sau (điều kiện thông gió): - Thời tiết phải tốt: phải chọn ngày có thời tiết tốt: nắng ráo, trời quang mây, gió nhẹ (dưới cấp 4).- Độ ẩm tuyệt đối trong kho lớn hơn độ ẩm tuyệt đối ngoài kho.- Phải ngăn ngừa hiện tượng đọng sương sau khi thông gió bằng cách là chỉ thông gió khi nhiệt độ điểm sương của môi trường có nhiệt độ cao bằng hay nhỏ hơn nhiệt độ của môi trường có nhiệt độ thấp.Ví dụ: Nhiệt độ trong kho là 230C, r = 95%.Nhiệt độ ngoài kho là 240C, r = 75%.Ngoài kho là môi trường có nhiệt độ cao, tính nhiệt độ điểm sương của môi trường ngoài kho là 19,30C.Vậy trường hợp này không bị đọng sương khi thông gió vì nhiệt độ điểm sương của môi trường có nhiệt độ cao nhỏ hơn nhiệt độ của môi trường có nhiệt đô thấp (19,30C < 230C).- Sau khi thông gió, nhiệt độ trong kho phải phù hợp với yêu cầu cho hàng cần bảo quản.Sau khi đã xác định và có đầy đủ 4 điều kiện nêu trên, sẽ tiến hành thông gió cho kho theo trình tự sau: -> Mở cửa cho kho theo hướng gió thổi tới.-> Mở cửa đối diện.-> Lần lượt mở các cửa bên.Tránh mở tất cả các cửa cùng một lúc vì sẽ gây sự thay đổi nhiệt độ đột ngột. Thời gian mở cửa thông gió từ 10 - 15 phút, sau đó phải đóng tất cả các cửa để tránh sự trao đổi nhiệt độ và độ ẩm với môi trường bên ngoài.8DS. NGUYỄN VĂN KHOA+ Thông gió nhân tạo: Hiện nay, do trình độ phát triển của khoa học công nghệ, người ta chế tạo được nhiều thiết bị chống ẩm hiện đại. Việc sử dụng các thiết bị này có nhiều ưu điểm, nhưng đòi hỏi phải đầu tư kinh phí mua sắm thiết bị và các điều kiện khác nên khó áp dụng rộng rãi.+ Dùng chất hút ẩm: Ngoài các phương pháp thông gió để chống ẩm, người ta còn dùng các chất hút ẩm để chống ẩm. Phương pháp này chỉ được áp dụng khi bảo quản thuốc trong phạm vi không gian bảo quản hẹp như hòm, tủ, hộp…, không áp dụng được với kho có không gian rộng.Khi sử dụng chất hút ẩm, phải tìm hiểu về khả năng hút ẩm và phải biết cách sử dụng hợp lý. Tuỳ theo đối tượng bảo quản mà lựa chọn chất hút ẩm thích hợp. Để chống ẩm thường người ta đặt thuốc, hoá chất hay dụng cụ vào trong hòm, thùng kín cùng với chất hút ẩm. Lượng chất hút ẩm cần dùng tuỳ thuộc vào dung tích hòm, hộp và độ ẩm cần đạt. Thường dùng 0,28g CaO hay 0,5g Silicagel cho một lít thể tích không khí.Thuốc viên, thuốc bột, dụng cụ quang học có thể dùng chất hút ẩm như silicagel. Lượng chất hút ẩm phải được tính trước để tạo môi trường bảo quản thích hợp.Các chất hút ẩm thường dùng:- Calci oxyd (CaO) hay vôi sống: là một trong những chất hút ẩm hay được dùng để chống ẩm vì CaO có một số ưu điểm là rẻ tiền, dễ kiếm, khả năng hút ẩm mạnh. Khả năng hút ẩm của CaO là 30% so với khối lượng của nó. Nhược điểm của CaO là sau khi hút ẩm sẽ tăng thể tích 3 lần, dễ bay bụi, toả nhiệt và có thể phản ứng với một số thuốc, gây ăn mòn kim loại.- Silicagen (keo thuỷ tinh): có hình thù và màu sắc khác nhau, khả năng hút ẩm phụ thuộc vào cách sản xuất và độ tinh khiết của nguyên liệu. Thường khả năng hút ẩm của silicagel từ 10- 30% so với khối lượng của nó. Để phân biệt khi nào silicagel đã hút no nước phải dùng chỉ thị màu để nhuộm vào silicagel. Nhờ sự chuyển màu của chỉ thị nên dễ dàng xác định được khả năng hút ẩm của silicagel.Ví dụ: - Khi silicagel có màu xanh, độ ẩm của môi trường là 50%.- Khi silicagel có màu tím, độ ẩm của môi trường là 60%.- Khi silicagel có màu hồng, độ ẩm của môi trường là 70%.Có thể phục hồi khả năng hút ẩm của silicagel sau khi đã no hơi ẩm.Đây là chất hút ẩm lý tưởng và tiện lợi nhất vì có nhiều ưu điểm như sạch, có thể phục hồi sau khi đã sử dụng nên rất kinh tế.- Calci clorid khan: là chất hút nước rất mạnh và có toả nhiệt khi hút ẩm, khả năng hút ẩm từ 100 - 250%. Sau khi hút ẩm, calci clorid chuyển thành thể lỏng. Nhược điểm của nó là dễ ăn mòn kim loại, dễ phản ứng với thuốc.+ Tăng nhiệt độ không khí: Khi nhiệt độ tăng thì khả năng chứa ẩm của không khí cũng tăng làm cho hơi ẩm từ thuốc chuyển vào không khí. Thực tế việc phơi sấy chống ẩm là dựa trên khả năng này của không khí. Thực nghiệm cho thấy muốn làm giảm độ ẩm tương đối xuống 65% thì phải tăng nhiệt độ như sau:- Nếu độ ẩm ban đầu là 100% thì phải tăng nhiệt độ lên 70C.- Nếu độ ẩm ban đầu là 90% thì phải tăng nhiệt độ lên 60C.- Nếu độ ẩm ban đầu là 80% thì phải tăng nhiệt độ lên 40C.- Nếu độ ẩm ban đầu là 70% thì phải tăng nhiệt độ lên 20C.9DS. NGUYỄN VĂN KHOABiện pháp hạ thấp độ ẩm này có thể áp dụng vào mùa rét cho các kho lớn và các hòm, tủ.Để tăng nhiệt độ cho kho có thể dùng các thiết bị toả nhiệt như lò sưởi, bếp điện, bóng điện…1.1.2. Nhiệt độĐối với thuốc và dụng cụ y tế, bảo quản trong điều kiện nhiệt độ quá cao hay quá thấp đều có ảnh hưởng không tốt. Tuy nhiên, nhiệt độ cao thường có tác hại nhiều hơn. + Tác hại của nhiệt độ caoVề phương diện vật lý: Nhiệt độ cao làm mất nước kết tinh của một số hoá chất và làm bốc hơi một số thuốc ở thể lỏng dễ bay hơi hay hoá chất bị thăng hoa như cồn, ether, tinh dầu, long não… Nhiệt độ cao làm hư hỏng một số loại thành phẩm như cồn thuốc, cao thuốc, thuốc tạng liệu, thuốc viên, vaccin, kháng sinh…Về phương diện hoá học: Nhiệt độ cao làm cho tốc độ của một số phản ứng hoá học xảy ra nhanh hơn. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi nhiệt độ tăng lên 100C thì tốc độ phản ứng phân huỷ thuốc tăng lên từ 2- 4 lần.Về phương diện sinh vật: Khi nhiệt độ trên 200C và độ ẩm cao là điều kiện để vi khuẩn, nấm mốc phát triển làm hư hỏng thuốc và dụng cụ y tế. Ví dụ: Siro và các thuốc có đường bị chua do lên men, dược liệu thảo mộc bị mốc meo và vụn nát; các đồ bao gói bằng vải, giấy dễ bị mủn nát, hư hỏng; các dụng cụ bằng kim loại dễ bị hoen gỉ và hư hỏng nhanh.+ Tác hại của nhiệt độ thấpTrong quá trình bảo quản, nhiệt độ môi trường bảo quản quá thấp cũng là yếu tố làm hư hỏng một số thuốc như: các loại thuốc ở dạng nhũ tương dễ bị tách lớp, một số thuốc tiêm dễ bị kết tủa (Cafein, calci gluconat), dụng cụ cao su, chất dẻo bị cứng giòn.+ Các biện pháp chống nóng cho thuốcThông gió để chống nóngNguyên tắc: Căn cứ vào nhiệt độ trong kho và ngoài kho, nếu nhiệt độ trong kho lớn hơn nhiệt độ ngoài kho thì có thể tiến hành thông gió để làm giảm nhiệt độ trong kho, nhưng cần chú ý đến yếu tố độ ẩm.Người ta có thể áp dụng biện pháp chống nóng bằng cách ngăn không để nắng chiếu trực tiếp vào thuốc và dụng cụ y tế bằng các vật liệu cách nhiệt như chiếu cói, rơm rạ, cỏ khô, phèn, rèm … để che chắn trần, cửa kho để chống nóng, bảo vệ thuốc và dụng cụ.Chống nóng bằng máy: Đây là biện pháp có nhiều ưu điểm và chủ động hơn cả. Nếu có điều kiện trang bị máy điều hoà nhiệt độ để bảo quản một số thuốc dễ hỏng ở nhiệt độ cao hoặc sử dụng tủ lạnh, kho lạnh để bảo quản một số thuốc dễ hỏng ở nhiệt độ thường.Các biện pháp khác: Có thể để nước đá trong kho khi quá nóng, biện pháp này có nhược điểm là làm tăng độ ẩm trong kho nên không áp dụng với các kho chứa các thuốc dễ bị hỏng bởi ẩm.1.1.3. Ánh sáng+ Tác hại của ánh sángÁnh sáng là một trong những yếu tố gây hư hại cho thuốc và dụng cụ y tế. Dưới tác dụng của ánh sáng, thuốc, hoá chất và dụng cụ y tế thường bị hư hỏng, biểu hiện là: - Làm biến màu sắc của thuốc và hoá chất. Ví dụ: dưới tác dụng của ánh sáng, promethazin, aminazin chuyển thành màu hồng; natri salicylat thành màu 10 . trangBài 1Đại cơng về bảo quản thuốc và dụng cụ y tế 4Bài 2Các y u tố ảnh hởng đến chất lợng thuốc, dụng cụ y tế 6Bài 3Kỹ thuật bảo quản thuốc, hóa chất, dợc. dụng cụ y tế và các biện pháp phòng chống.2. Nêu được các nguyên tắc chung trong công tác bảo quản thuốc và dụng cụ y tế5 DS. NGUYỄN VĂN KHOATrình bày

— Xem thêm —

Xem thêm: Giáo trình bảo quản thuốc và dụng cụ y tế, Giáo trình bảo quản thuốc và dụng cụ y tế

Lên đầu trang

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.262634992599 s. Memory usage = 15.54 MB