Sáng Kiến Kinh Nghiệm Môn Toán Lớp 3 Năm Học 2009-2010

Jonathan Hạnh Nguyễn
Jonathan Hạnh Nguyễn (9037 tài liệu)
(10 người theo dõi)
Lượt xem 109
7
Tải xuống 2,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 36 | Loại file: DOC
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 29/09/2013, 11:10

Mô tả: Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010 MỤC LỤC Phần A. Mở đầu……………………………………………………….Trang 2 Phần B . Nội dung Chương 1: Cơ sở lí luận ……………………………………………….Trang 5 Chương 2: Thực Trạng…………………………………………………Trang 10 Chương 3: Giải pháp ………………………………………………… Trang 13 Phần C. Kết luận – đề xuất…………………………………………… Trang 34 tàiĐề : NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC Trang Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A. 1 Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010 KHI ÁP DỤNG DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG THỰC HÀNH PHÉP NHÂN CHO HỌC SINH LỚP 3. PHẦN A. MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1. Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của dạy phép nhân trong việc dạy mơn Tốn tiểu học. Việc dạy học ở các trường tiểu học nước ta có một q trình phát triển lâu.Chương trình mơn Tốn ở bậc Tiểu học gồm có 5 tuyến kiến thức chính là: Số đại số, các yếu tố hình học, đo các đại lượng, giải tốn. Trong đó số lớn nhất trọng tâm đóng vai trò “cái trục chính” mà bốn mạch chuyển động chung quanh nó, phụ thuộc vào nó. Các biện pháp tính, của phép nhân và dãy tính. Trong ba mảng kiến thức này thì mảng các biện pháp tính là quan trọng nhất, đặc biệt là việc rèn luyện kỹ năng thực hành phép nhân, chia đóng vai trò hết sức chủ đạo, nó là trọng tâm của tuyến kiến thức số học, đại số và là hạt nhân của tồn bộ chương trình tiểu học. Bắt đầu từ năm 2003-2004, bảng nhân 2, 3, 4, 5 chính thức được đưa vào chương tình Tốn lớp hai ở bậc tiểu học. Nói như vậy thấy tầm quan trọng và vai trò của phép nhân trong mơn Tốn.Trong các kỳ thi mơn Tốn của lớp 2, 3, 4, 5 đặc biệt là thi học sinh giỏi bậc tiểu học ln xuất hiện các bài tốn có liên quan đến phép tính nhân.Vì vậy tính nhân, chính là “ chìa khố” và “ cầu nối” giữa tốn học và thực tiễn đời sống. Nó chiếm vị trí rất quan trọng trong chương trình mơn tốn lớp 3 và mơn tốn tiểu học nói chung nhất là về mặt thực hành tính tốn. 2. Xuất phát từ nhu cầu đặt ra trong cơng cuộc đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới dạy học mơn tốn ở tiểu học nói riêng. Cơng cuộc đổi mới kinh tế, xã hội đang diễn ra từng ngày từng giờ trên khắp đất nước. Nó đòi hỏi phải có những lớp người lao động mới có bản lĩnh, có năng lực, chủ động sáng tạo, dám nghĩ dám làm, thích ứng được với thực tiễn đời sống xã hội ln ln phát triển. Nhu cầu này làm cho mục tiêu đào tạo của Trang Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A. 2 Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010 nhà trường phải được điều chỉnh một cách hợp lý dẫn đến sự thay đổi tất yếu về nội dung và phương pháp dạy học. Đặc điểm của phương pháp dạy học cũ là có sự mất cân đối rõ rệt giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động của học sinh. Trong đó: Giáo viên thường chỉ truyền đạt, giảng giải các tài liệu đã có sẵn trong sách giáo khoa, sách giáo viên (hướng dẫn giảng dạy). Vì vậy giáo viên thường làm việc một cách máy móc và ít quan tâm đến việc phát huy khả năng sáng tạo của học sinh. - Học sinh học tập một cách thụ động, chủ yếu chỉ nghe giảng ghi nhớ rồi làm theo bài mẫu. Do đó học sinh ít có hứng thú học tập, nội dung các hoạt động học tập thường rất nghèo nàn, đơn điệu, các năng lực vốn có của học sinh ít có cơ hội phát triển. -Giáo viên là người duy nhất có quyền đánh giá kết quả học tập của học sinh. Học sinh ít khi được tự đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau. Tiêu chuẩn đánh giá học sinh là kết quả ghi nhớ, tái hiện những điều giáo viên đã giảng. - Cách dạy học như vậy đang cản trở việc đào tạo những người lao động năng động, tự tin, linh hoạt, sáng tạo, sẵn sàng với những đổi mới đang diễn ra hàng ngày. Do đó chúng ta phải có cố gắng đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng nhu cầu cơng nghiệp hố, hiện đại hố của đất nước trong thế kỷ XXI. 3. Xuất phát từ thực trạng việc dạy học mơn tốn cụ thể là kỹ năng thực hành phép nhân cho học sinh lớp 3 trong nhà trường Tiểu học hiện nay. Trong chương trình mơn học ở bậc tiểu học, mơn tốn chiếm số giờ rất lớn. Bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia được sử dụng hầu hết vào các khâu trong q trình dạy học tốn. Tuy vậy, phép nhân, phép chia là khái niệm trừu tượng. Vì vậy việc nâng cao hiệu quả rèn luyện kỹ năng thực hành phép nhân, phép chia là một vấn đề cấp bách và thường xun. Một trong những mục tiêu của mơn Tốn ở bậc tiểu học là hình thành các kỹ năng thực hành tính tốn. Bởi vậy, ngay từ lớp 2, học sinh đã được làm quen với bảng nhân với 2, 3, 4, 5 trong phạm vi 100. Sang lớp ba, học sinh học bảng nhân với 6, 7, 8, 9 và nhân chia ngồi bảng trong phạm vi 100000 (với số có một Trang Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A. 3 Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010 chữ số). Việc rèn luyện các kỹ năng thực hành phép nhân giúp cho học sinh nắm chắc một số tính chất cơ bản của các phép tính viết, thứ tự thực hiện các phép tính trong các biểu thức có nhiều phép tính, mối quan hệ giữa các phép tính (đặc biệt giữa phép cộng và phép nhân, phép nhân và phép chia). Đồng thời dạy học phép nhân, phép chia trên tập hợp số tự nhiên nhằm củng cố các kiến thức có liên quan đến mơn tốn như đại lượng và phép đi đại lượng các yếu tố hình học, giải tốn. Ngồi ra rèn kỹ năng thực hành phép nhân, phép chia còn góp phần trọng yếu trong việc phát triển năng lực tư duy, năng lực thực hành, đặc biệt là khả năng phân tích, suy luận lơgíc và phẩm chất khơng thể thiếu được của người lao động mới. Xuất phát từ những lý do thực tế trên, qua nghiên cứu q trình dạy học mơn tốn lớp 3 ở bậc tiểu học, là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy, kết hợp với những hiểu biết đã có và những điều mới mẻ lĩnh hội được từ các tài liệu tham khảo về “phương pháp dạy học Tốn ở Tiểu học”, trong khn khổ cho phép của một đề tài sáng kiến kinh nghiệm, tơi quyết định chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng dạy và học khi áp dụng dạy học tích cực để rèn luyện kỹ năng thực hành phép nhân cho học sinh lớp 3” II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Đề tài nhằm: - Tìm hiểu những vấn đề lí luận về đổi mới dạy học tích cực nói chung và dạy học tích cực trong mơn Tốn nói riêng. - Vận dụng dạy học tích cực để thiết kế bài dạy để rèn luyện kỹ năng thực hành phép nhân góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tốn Tiểu học nói chung và lớp 3 nói riêng. - Đề tài này biểu hiện kết quả tự học, tự rèn luyện nâng cao tay nghề của bản thân, tơi rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp, q thầy cơ để đổi mới, nâng cao hiệu quả dạy học rèn luyện kỹ năng thực hành phép nhân, phép chia cho học sinh lớp 3. III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: Trang Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A. 4 Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010 - Tìm hiểu những nội dung và phương pháp giảng dạy học cho học sinh lớp 3. - Tìm hiểu, phân tích, tổng hợp chương trình sách giáo khoa Tốn 3 và phân loại các bài tốn có liên quan đến phép nhân ở lớp 3 thành những dạng cơ bản. - Tìm hiểu một số vấn đề cơ bản về dạy học tích cực để dạy học các nội dung trên. IV. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Việc áp dụng dạy học tích cực để rèn luyện kỹ năng thực hành phép nhân cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Mỹ Tú A. V. PHẠM VI NGHIÊN CỨU: Học sinh lớp 3A 1 Trường Tiểu học Mỹ Tú A. PHẦN B: NỘI DUNG ĐỀ TÀI Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẠY HỌC TÍCH CỰC 1. Dạy học tích cực là gì ? Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội. Nhờ có tính tích cực mà con người đã lao động sản xuất sáng tạo ra nhiều của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của xã hội, sáng tạo ra nền văn hố, cải tạo mơi trường, chinh phục thiên nhiên, cải tạo xã hội. Bởi vậy hình thành và phát triển tính tích cực xã hội là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo những con người năng động thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng. Tính tích cực được xem là một điều kiện, đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong q trình giáo dục. 2. Tính tích cực của học sinh trong học tập: Tính tích cực của con người được biểu hiện trong hoạt động, đặc biệt trong những hoạt động chủ động của chủ thể. Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa Trang Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A. 5 Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010 tuổi đi học. Tính tích cực trong hoạt động học tập tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong q trình chiếm lĩnh tri thức. Khác với q trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, q trình nhận thức trong học tập khơng nhằm phát hiện những điều lồi người chưa biết mà nhằm lĩnh hội những tri thức mà lồi người đã tích luỹ được. Tuy nhiên, trong học tập, học sinh cũng phải khám phá ra những gì đã nắm được qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình. Đó là chưa nói lên tới một trình độ nhất định sự học tập tích cực sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học cũng làm ra những tri thức mới cho khoa học. Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập. Động cơ có đúng đắn tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú và tự giác là 2 yếu tố tạo nên tính tích cực. Tính tích cực sản sinh tư duy độc lập suy nghĩ, độc lập suy nghĩ là mầm mống của sáng tạo. Ngược lại phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập. Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra, hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa rõ, khơng chủ động vận dụng kiến thức kỹ năng đã học, kiên trì hồn thành các bài tập, khơng nản trước những tình huống khó khăn. Tính tích cực học tập đạt những cấp độ từ thấp lên cao như: - Bắt chước: gắng sức làm theo các mẫu hoạt động của thầy, của bạn . - Tìm tòi: Độc lập giải quyết các vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giải quyết khác nhau về một số vấn đề . - Sáng tạo: Tìm ra cách giải quyết mới độc đáo, hữu hiệu. 3. Độc lập với tính tích cực là tính thụ động: Tính thụ động học tập của học sinh được biểu hiện ở chỗ: - Học sinh chủ yếu ít nghe giảng, ghi nhớ rồi làm bài theo mẫu. - Học sinh ít hứng thú học tập, khơng thích phát biểu ý kiến. Trang Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A. 6 Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010 - Trong lớp học sinh ít chú ý vào vấn đề đang học, khơng kiên trì nên khơng hồn thành các bài tập. Khi gặp khó khăn học sinh dễ chán nản, bng xi. Học sinh khơng tự giác đánh giá kết quả học tập của mình và của bạn. Do cách học như vậy nên học sinh thiếu năng động, tự tin, làm việc máy móc, khơng thể thích ứng được với những đổi mới đang diễn ra hàng ngày. 4. Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực: a) Dạy và học thơng qua các tổ chức các hoạt động học tập của học sinh: Trong phương pháp tích cực, người học được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thơng qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ khơng phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kỹ năng mới, vừa nắm phương pháp “làm ra” kiến thức, kỹ năng đó khơng rập theo những khn mẫu có sẵn, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo. Dạy theo cách này thì giáo viên khơng chỉ đơn giản truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động. Chương trình dạy học giải pháp giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia vào các chương trình hành động của cộng đồng. b) Dạy và học chú trọng phương pháp rèn luyện tự dạy và học: Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh khơng chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học. Trong xã hội hiện nay đang biến đổi nhanh với sự bùng nổ thơng tin, khoa học, kỹ thuật, cơng nghệ phát triển như vũ bão thì khơng thể nhồi nhét vào đầu óc trẻ khối lượng lớn kiến thức ngày càng nhiều. Phải quan tâm dạy cho trẻ phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng. Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học thì tạo ra cho họ lòng tham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong q trình dạy, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập bị Trang Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A. 7 Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010 động sang học tập chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thơng, khơng chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên. c) Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác: Trong một lớp học mà trình độ kiến thức tư duy của học sinh khơng thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hố về trình độ, tiến độ hồn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi cơng tác độc lập. Áp dụng dạy học tích cực ở trình độ cao thì sự phân hố ngày càng lớn. Việc sử dụng các cơng nghệ thơng tin trong nhà trường sẽ đáp ứng u cầu cá thể học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh. Tuy nhiên, trong học tập, khơng phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là mơi trường giao tiếp giữa thầy và trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thơng qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng được hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi học sinh và của cả lớp chứ khơng phải dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm của thầy giáo. Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp cao nhóm, tổ, lớp hoặc nhà trường. Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm 4 đến 6 người. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập nhất là lúc giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hồn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ khơng thể có hiện tượng ỷ lại, tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ. Mơ hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân cơng hợp tác trong lao động xã hội. Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xun quốc gia, liên quốc gia, năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường cần phải chuẩn bị cho học sinh. Trang Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A. 8 Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010 d) Kết hợp đánh giá của thầy và sự đánh giá của trò: Trong dạy học đánh giá học sinh khơng chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của học sinh mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh phát triển kỹ năng tự tạo điều kiện thuận lợi để học sinh tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh. Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá khơng thể chỉ dừng lại ở u cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kỹ năng đã học mà phải khuyến khích trí thơng minh, óc sáng tạo trong giải quyết các vấn đề thực tế. Với sự trợ giúp của các thiết bị kỹ thuật, kiểm tra, đánh giá sẽ khơng còn là một cơng việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thơng tin kịp thời để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học. Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên khơng còn đóng vai trò đơn thuần mà là người truyền đạt kiến thức sẽ trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn hoạt động độc lập theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ theo u cầu của chương trình trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã. Trước đó, khi soạn giáo án giáo viên đã phải đầu tư cơng sức thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến bên ngồi tầm dự kiến của giáo viên. Trang Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A. 9 Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010 Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC DẠY HỌC PHÉP NHÂN, CHIA TRONG NHÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC HIỆN NAY Qua việc tìm hiểu sách giáo khoa Tốn 3 chương trình Tiểu học, cùng với việc điều tra thăm dò ý kiến đánh giá của các giáo viên đang thực hiện giảng dạy, đặc biệt là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy lớp 3, Tơi rút ra một số nhận xét như sau: Nội dung dạy học các phép tính nhân, chia mơn Tốn lớp 3 tương đối nhiều, đó là: Dạy bảng nhân 6, 7, 8, 9; dạy nhân số có 2, 3, 4, 5 chữ số có một chữ số; dạy gấp một số lên nhiều lần, giảm một số đi nhiều lần, tính giá trị biểu thức, so sánh hai số gấp nhau một số lần, dạy giải tốn hợp có liên quan đến việc rút về đơn vị, dạy tính chu vi, diện tích hình vng, hình chữ nhật. Số lượng bài tập nhiều. Mức độ u cầu của các bài tốn này hầu hết là các bài tập ở dạng cơ bản, khơng có u cầu nâng cao, khơng có nhiều bài tốn khó như một số sách tham khảo. Theo ý kiến nhận xét của một số giáo viên đang trực tiếp giảng dạy thì do khối lượng bài tập nhiều mà thời gian một tiết học chỉ có hạn (35 phút) nên học sinh trung bình hoặc sức học chưa được vững khơng làm hết bài. Những em học sinh khá, giỏi thì làm bài rất nhanh, thừa thời gian do đó giáo viên thường phải nghĩ thêm một số bài nâng cao để cho các em luyện thêm. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng với số lượng và u cầu đặt ra cho mỗi bài tốn như vậy cũng tạo cơ hội cho người giáo viên và học sinh có đủ thời gian tổ chức hoạt động, nhất là hoạt động độc lập của học sinh. Đồng thời tạo cơ hội cho người giáo viên phát huy khả năng của mình trong dạy học, giáo viên phải đầu tư suy nghĩ để khai thác nội dung bài dạy ở nhiều khía cạnh khác nhau, đưa ra những tình huống khác nhau chứ khơng nên lệ thuộc vào sách giáo khoa. Tóm lại cả nội dung và phương pháp rèn kỹ năng thực hiện phép tính nhân, chia ở lớp 3 có những điểm là hợp lý, vừa sức với học sinh, song cũng có những điểm chưa thật sự hợp lý, kiến thức còn “nhẹ” so với trình độ nhận thức của học sinh hiện nay; muốn dạy học tốt giáo viên phải hiểu rõ những điểm này Trang Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A. 10 . Tiểu Học Mỹ Tú A. 1 Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010 KHI ÁP DỤNG DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG THỰC HÀNH PHÉP NHÂN CHO HỌC SINH LỚP 3. . Trường Tiểu Học Mỹ Tú A. 4 Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010 - Tìm hiểu những nội dung và phương pháp giảng dạy học cho học sinh lớp 3. - Tìm hiểu,

— Xem thêm —

Xem thêm: Sáng Kiến Kinh Nghiệm Môn Toán Lớp 3 Năm Học 2009-2010, Sáng Kiến Kinh Nghiệm Môn Toán Lớp 3 Năm Học 2009-2010, Sáng Kiến Kinh Nghiệm Môn Toán Lớp 3 Năm Học 2009-2010

Lên đầu trang

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.09330701828 s. Memory usage = 17.59 MB