ưu nhược điểm của chị thị khoán 100 và nghị quyết 10

Hoàng Dự
Hoàng Dự(2 tài liệu)
(0 người theo dõi)
Lượt xem 778
Lượt xem 778 | Tải 42 | 5 trang | Loại file DOCX
Thêm vào bộ sưu tập
Tải xuống miễn phí
0

Gửi bình luận

Bình luận

Chi tiết

Danh mục: Nông nghiệp

Số trang: 5 trang

Loại file: DOCX

Ngày đăng: 06/10/2013, 15:04

Mô tả: QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG THÔN  Đề bài: Nêu ưu và nhược điểm của chỉ thị 100 năm 1981 và nghị quyết 10 năm 1988 Bước sang năm 1981, kinh tế - xã hội trong tỉnh còn nhiều khó khăn, nhất là về điện, vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất. Ngày 13-1-1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 100-CT/TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng "khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động" trong hợp tác xã nông nghiệp. Nội dung của chỉ thị được thực hiện trên mấy điểm: Sau khi kinh nghiệm khoán của Đoàn Xá được thí điểm ở toàn huyện Đồ Sơn và Hải Phòng đem lại kết quả tích cực, Hội nghị Trung ương 9 khóa IV (tháng 12/1980) đã quyết định mở rộng việc thực hiện và hoàn thiện khoán sản phẩm trong nông nghiệp. Tuy nhiên, theo Hoàng Tùng, lúc bấy giờ trong Bộ Chính trị chỉ có Tổng bí thư Lê Duẩn và các ông Võ Chí Công, Lê Thanh Nghị và Hoàng Tùng là ủng hộ chính sách khoán. Còn lại, bao gồm cả Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương Đảng, phản đối. Trong Hội đồng Chính phủ thì chỉ Bộ trưởng Nông nghiệp Nguyễn Ngọc Trìu ủng hộ, Chủ tịch Hội đồng Phạm Văn Đồng lưỡng lự, một số Phó Chủ tịch Hội đồng phản đối. Để cho chính sách khoán nông nghiệp có thể thực hiện được, những người ủng hộ đã phải ban hành nó dưới dạng chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì đáng lẽ phải là Nghị quyết của Bộ Chính trị.[24] Ngày 13 tháng 1 năm 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100-CT/TW về Cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp. Chỉ thị này cho phép áp dụng chế độ khoán trong toàn bộ nền nông nghiệp cả nước. Chế độ khoán này thường được gọi tắt là khoán sản phẩm. Mục đích: phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, nǎng suất lao động, nâng cao thu nhập của người lao động. Nguyên tắc: quản lý và sử dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất, trước hết là ruộng đất, quản lý và điều hành lao động phải trên cơ sở gắn với kết quả cuối cùng của sản xuất, thực hiện khoán theo 5 khâu và 3 khâu; trong phân phối giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích người lao động. Chỉ thị đã nêu rõ mục đích thực hiện cơ chế khoán mới là: “bảo đảm phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế trên cơ sở lôi cuốn được mọi người hăng hái lao động, kích thích tăng năng suất lao động, sử dụng tốt đất đai và các cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện có, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tiết kiệm chi phí sản xuất; củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nông thôn; không ngừng nâng cao thu nhập và đời sống xã viên”. Chỉ thị số 100-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã chỉ rõ: "Phổ biến sâu rộng trong Đảng và trong nhân dân chủ trương của Trung ương Đảng đối với công tác khoán, để mọi cán bộ, đảng viên và nông dân xã viên hiểu thấu đáo và làm đúng ., cấp trên phải tạo điều kiện và hướng dẫn, kiểm tra giúp đỡ đơn vị cơ sở và quần chúng thực hiện tốt". “Các cấp tỉnh, huyện phải chú trọng phát huy quyền làm chủ tập thể của hợp tác xã và xã viên, mở rộng quyền chủ động trong sản xuất, kinh doanh và quyền tự chủ về quản lý của hợp tác xã, hướng dẫn hợp tác xã xây dựng những quy định cụ thể của hợp tác xã, của đội sản xuất trong công tác khoán, đồng thời phải kiểm tra chặt chẽ để kịp thời phát huy các mặt tích cực, uốn nắn các lệch lạc, kiên quyết ngăn ngừa và khắc phục mọi hiện tượng "khoán trắng" ở đơn vị cơ sở”. Ưu điểm: -Chỉ thị số 100-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng có ý nghĩa quan trọng trong việc mở đường thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển. Khoán 100 đã đưa lại tác dụng phân chia lại chức nǎng kinh tế giữa tập thể và hộ gia đình cả về quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và phân phối, mở đầu cho quá trình dân chủ hoá về mặt kinh tế, bằng việc gắn bó trở lại lao động với ruộng đất, mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân, tạo ra động lực kích thích phát triển sản xuất. -Chỉ thị được đánh giá là cột mốc đầu tiên, bước đột phá táo bạo vào mô hình hợp tác hóa, tập thể hóa nông nghiệp của nước ta và mở ra khả năng, cho phép hộ gia đình được làm chủ một số khâu sản xuất, sử dụng đất đai, tài nguyên; có quyền tiêu thụ sản phẩm làm ra khi hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước. -Các hợp tác xã từ chỗ là tổ chức hành chính kinh tế chuyển mạnh sang hình thức kinh doanh tổng hợp, là cơ sở cho những bước đổi mới để thoát khỏi tình trạng bế tắc và khủng hoảng quan hệ sản xuất ở nông thôn. -Ổn định tình hình sản xuất của người dân, chỉ thị 100 đã đem lại hiệu quả năng suất cao trong sản xuất, phù hợp với trình độ quản lý và canh tác của người dân. -Xét về mặt cơ chế quản lý kinh tế, khoán 100 đã phá vỡ cơ chế tập trung quan liêu trong sản xuất nông nghiệp. Trong thời gian đầu, khoán 100 đã làm đổi mới bộ mặt nông thôn và tạo ra đc lượng nông sản lớn hơn ở thời kỳ trước. -Người dân tích cực mở rộng sản xuất, chi phí được tính toán cụ thể, rõ ràng, tiết kiệm; ngăn chặn đáng kể tệ tham ô, lãng phí; kế hoạch sản xuất được bàn bạc dân chủ từ cấp ủy đảng, chính quyền, hợp tác xã, đội sản xuất đến người lao động, sát thực tế và tạo hiệu quả kinh tế ngày càng cao. -Thắng lợi của “Khoán 100” thể hiện bằng kết quả sản xuất nông nghiệp trong năm 1981, diện tích, năng suất và sản lượng cây trồng đều tăng khá. Tổng diện tích gieo trồng tăng 14,9%, năng suất tăng 5,6%, sản lượng lương thực quy thóc tăng 15% so với năm 1980. Chăn nuôi tập thể và gia đình phát triển mạnh. Tổng đàn gia súc năm 1981 đạt số lượng cao nhất từ trước đến nay, trong đó trâu bò có 28.786 con, lợn có 163.227 con đạt 110% kế hoạch, tăng 10,1% so với năm 1980. Những thắng lợi trên mặt trận sản xuất nông nghiệp năm 1981 đã tạo ra những thuận lợi mới, đời sống nhân dân ổn định, tư tưởng phấn khởi, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng được nâng cao. -Trong hoàn cảnh nông dân hầu hết đều tham gia vào HTX hay TĐNG, nhưng ko năng suất, hiệu quả, đến giờ làm thì đi, hết giờ làm thì về, sự ra đời của nghị quyết 100 đã phản ánh đc sự đổ vỡ ko thể tránh khỏi của mô hình tập thể hoá nông nghiệp, sức lao động, tư liệu lao động của người dân. Nhược điểm: -Tuy nhiên, công tác phân phối, lưu thông, quản lý thị trường còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp với yêu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân. -Mạng lưới hợp tác xã mua bán còn nhỏ bé và hoạt động kém hiệu quả, một số hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp chưa phát huy được thế mạnh trong khai thác tiềm năng về sức lao động, nguyên, nhiên vật liệu tại chỗ để phát triển sản xuất hàng tiêu dùng, phục vụ đời sống nhân dân. -Mạng lưới hợp tác xã mua bán còn nhỏ bé và hoạt động kém hiệu quả. Hoạt động tài chính, ngân hàng chưa trở thành đòn bẩy thúc đẩy sản xuất phát triển. Giá cả thị trường có nhiều biến động, gây sự xáo trộn cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, việc cải tạo và xây dựng thương nghiệp chưa kết hợp chặt chẽ, chưa đồng bộ, hiệu quả thấp. -Việc thực hiện chỉ thị này chỉ có tác dụng trong một thời gian, sau đó giảm dần vì cơ chế tập trung quan liêu vẫn còn được duy trì trong hợp tác xã, cũng như toàn bộ hệ thống tái sản xuất xã hội trong nông nghiệp. Hệ thống này cùng tính chất mệnh lệnh hành chính, mà hậu quả của nó đè lên vai người nông dân, trước hết là hộ nhận khoán. Hộ nông dân không đủ khả nǎng bảo đảm tái sản xuất và nhu cầu đời sống nên đã phải trả lại bớt ruộng đất. Nội dung cơ bản của nghị quyết 10: -Thay đổi tổ chức sản xuất và quản lý nông nghiệp. -Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp -Củng cố và mở rộng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế. -Các chính sách quản lý nhà nước về nông nghiệp -Xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa. -Có 3 quyết định đã làm nên thành công của Khoán 10. Đó là: Giao quyền sử dụng đất cho nông dân; Tự do hóa thương mại, tạo điều kiện cho người dân kinh doanh tự do cả đầu vào, đầu ra trên thị trường; Chuyển hợp tác xã, cơ quan chịu trách nhiệm toàn bộ về tổ chức quản lý sản xuất, sang làm dịch vụ cho nông dân. Ưu điểm: -Nghị quyết 10 đã tác động một cách tích cực đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và được giai cấp nông dân tiếp nhận với tinh thần phấn khởi thực hiện, đưa lại nhiều chuyển biến rõ rệt: sản xuất lương thực đã có sự khởi sắc đáng kể, từ 19,5 triệu tấn năm 1988 lên 21,5 triệu tấn năm 1989, tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp gần 10% là một kỷ lục chưa từng có. Sản lượng lương thực tăng nhanh không những cung cấp đủ nhu cầu cho nhân dân; tháng 6 năm 1989, với 1,2 triệu tấn gạo đầu tiên của Việt Nam đã rời cảng Sài Gòn xuất khẩu ra quốc tế, mở đầu cho trang sử xuất khẩu lương thực của Việt Nam. -Nghị quyết 10/NQ- TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp được ban hành không chỉ giải phóng sức sản xuất mà còn có những tác động tích cực tới hệ thống pháp luật của nước ta thời kỳ đó và cả thời kỳ hiện nay, tạo ra một hành lang pháp lý thuận lợi hơn nữa cho sự phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. -Nghị quyết 10 đã đề ra cơ chế khoán mới, xác định hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị chủ quản, hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ nhận khoán với hợp tác xã. Như vậy, lần đầu tiên kinh tế hộ gia đình được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ. -Tạo tiền đề đột phá trong vấn đề ruộng đất, đặc biệt là vấn đề quyền sử dụng ruộng đất cho hộ nông dân, tạo điều kiện để nông dân tự chủ trong sản xuất, từ đó nâng cao năng suất lao động. Nhược điểm: Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông hộ vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế: Phần lớn các nông hộ còn sản xuất nhỏ lẻ, tự cấp, tự túc và kém hiệu quả, đời sống nông dân gặp rất nhiều khó khăn. Lý do là vì ruộng đất được chia nhỏ cho các hộ gia đình ở nông thôn, bình quân diện tích nhỏ, manh mún và do đó lại hạn chế, triệt tiêu nhu cầu ứng dụng công nghệ cao để gia tăng giá trị khai thác đất. Kết quả là tại nhiều vùng, ruộng đất chỉ tạo ra sản lượng lương thực đủ ăn cho mỗi gia đình sở hữu ruộng, nhiều vùng khác thậm chí là không tạo ra sản lượng đủ ăn. Để gia tăng giá trị khai thác từ nông nghiệp, một giải pháp đưa ra là khuyến khích tích tụ ruộng đất, hình thành mô hình canh tác kiểu công nghiệp với sự tham gia của máy móc, khoa học, công nghệ, hay mô hình trang trại có diện tích lớn, hoạt động khép kín. Tuy nhiên, tích tụ ruộng đất lại làm nảy sinh vấn đề thừa lao động, thiếu ruộng tại nông thôn và từ đó gây bất ổn xã hội, hơn nữa nó còn bị gò bó bởi quy định hạn điền của Luật đất đai nên cho dù có dồn điền đổi thửa thì người nông dân vẫn chưa thể yên tâm trên ruộng đất của mình.Kinh tế hộ gia đình đã bộc lộ nhiều hạn chế trong “tam nông’’ hiện nay, điều đó đang đòi hỏi cần có một khoán 10 nữa trong nông nghiệp để đưa nông thôn cất cánh. . QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG THÔN  Đề bài: Nêu ưu và nhược điểm của chỉ thị 100 năm 1981 và nghị quyết 10 năm 1988 Bước sang năm 1981, kinh tế - xã hội. các lệch lạc, kiên quyết ngăn ngừa và khắc phục mọi hiện tượng " ;khoán trắng" ở đơn vị cơ sở”. Ưu điểm: -Chỉ thị số 100 - CT/TW của Ban Bí thư Trung

— Xem thêm —

Từ khóa:

Xem thêm: ưu nhược điểm của chị thị khoán 100 và nghị quyết 10, ưu nhược điểm của chị thị khoán 100 và nghị quyết 10, ưu nhược điểm của chị thị khoán 100 và nghị quyết 10

Lên đầu trang
  • Mai Thị Thắm
    Mai Thị Thắm · Vào lúc 01:54 am 24/12/2013
    Cho mình hỏi cái này có bán không nhỉ???
  • cicinho
    cicinho · Vào lúc 04:22 pm 27/12/2013
    Đúng là tài liệu em đang cần!!! :X:X:X
  • enlicious
    enlicious · Vào lúc 02:35 pm 28/12/2013
    Oa. Tài liệu hay quá ạ. Cảm ơn bạn nhiều nhé!
  • fresh boy 5
    fresh boy 5 · Vào lúc 03:32 pm 28/12/2013
    Cảm ơn bạn. tài liệu rất bổ ích.hi
  • fresh boy 17
    fresh boy 17 · Vào lúc 04:14 pm 28/12/2013
    Cảm ơn bạn đã chia sẻ tài liệu bổ ích nhé. 

Tài liệu liên quan

Xem thêm
Đăng ký

Generate time = 0.0678579807281 s. Memory usage = 13.85 MB