GIỚI THIỆU TÁC PHẨM HỆ -TƯ TƯỞNG ĐỨC- CỦA C.MÁC VÀ F.ENGHEN

yeutailieu1489
yeutailieu1489(689 tài liệu)
(0 người theo dõi)
Lượt xem 79
0
Tải xuống 2,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 14 | Loại file: DOCX
0

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 07/10/2013, 03:20

Mô tả: GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC” CỦA C.MÁC VÀ F.ENGHEN I. Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm. Vào những năm 1845-1846, Tây Âu đang tiến nhanh đến một cuộc cách mạng mới. Phong trào công nhân phát triển mạnh và rộng rãi khắp châu Âu nhưng chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng. Lúc này C.Mác và F.Enghen đã đi sâu vào hoạt động chính trị, hai ông nhận thấy cần phải xây dựng một lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học để phân ranh giới rõ ràng giữa hệ tư tưởng của giai cấp vô sản với hệ tư tưởng của giai cấp tư sản, tiểu tư sản, vạch con đường đi đến chủ nghĩa cộng sản một cách hiện thực mà giai cấp vô sản đang đi vào một cách tự phát. Theo F.Enghen, lúc này (mùa xuân 1845) quan niệm duy vật ở C.Mác đã hình thành đầy đủ. Hai ông nhất trí lấy quan niệm đó để phê phán toàn bộ nền móng triết học cổ điển Đức sau Heghen. Phê phán “Hệ tư tưởng Đức” là mục đích của tác phẩm: ”Muốn đánh giá đúng cái bịp bợm triết học đó, nó thậm chí làm thức tỉnh trong lòng người thị dân Đức trung thực một tình cảm dân tộc dễ chịu, muốn hiểu rõ tính nhỏ nhen, tính thiển cận địa phương của toàn bộ phong trào của phái Hêghen trẻ đó, và đặc biệt muốn hiểu rõ sự trái ngược vừa bi đát vừa buồn cười giữa những chiến công hiện thực của các vị anh hùng đó, với những ảo tưởng của họ về chính những chiến công ấy thì cần phải xem xét tất cả sự ầm ĩ đó theo một quan điểm ở bên ngoài nước Đức” 1 . “Hệ tư tưởng Đức” là tác phẩm viết chung của C.Mác và F.Enghen vào cuối giai đoạn hình thành chủ nghĩa Mác: Lúc mà hai ông đã khắc phục chủ nghĩa duy tâm trong lĩnh vực xã hội và xây dựng những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật, đặt nền móng triết học cho lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học. Tác phẩm này viết từ tháng 08/1845 đến tháng 05/1846. Nó gồm hai tập, nhưng nội dung quan trọng nhất của tác phẩm là ở chương 1 của tập I. - Trong tác phẩm, hai ông trình bày quan niệm duy vật lịch sử của mình và đấu tranh với triết học duy tâm về lịch sử của Ludwig Feuerbach, Bauer, Xtiêc-nơ và những nhà Xã hội chủ nghĩa “chân chính”. - Nội dung của tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” rất phong phú. Trong đó, C.Mác và F.Enghen đã trình bày một cách rõ ràng, hoàn chỉnh những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật về lịch sử. “Hệ tư tưởng Đức” thực sự là tác phẩm lớn nhất của thời kỳ hình thành chủ nghĩa Mác (1842 - 1848). 1 C.Mác - F.Enghen -Hệ tư tưởng Đức - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1987 - Trang 9. - Thời C.Mác, tác phẩm này không được xuất bản vì bị kiểm duyệt nghiêm ngặt. Nó được xuất bản lần đầu tiên tại Matxcơva năm 1932. Tại Việt Nam nó đã được tái bản bốn lần: Lần 1 có tựa đề “Hệ tư tưởng Đức - Phần thứ nhất: Phơ bách. Lần thứ hai và ba có tựa đề “Ludwig Feuerbach - Sự đối lập giữa quan điểm duy vật chủ nghĩa và quan điểm duy tâm chủ nghĩa” (Chương 1 Hệ tư tưởng Đức). Lần thứ tư, trước khi bước vào thời kỳ đổi mới, tác phẩm được xuất bản vào tháng 10 / 1986, do Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội ấn hành - có tựa đề “Hệ tư tưởng Đức - Chương 1 Ludwig Feuerbach sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm”, đúng như trong C.Mác và F.Enghen tuyển tập - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1980 - Tập 1 - Trang 259 đến 369. - Tất cả các lần xuất bản thành tác phẩm riêng bằng tiếng Việt và cả trong C.Mác và F.Enghen tuyển tập - Tập 1 nói trên, đều chỉ là Chương 1 trong tập I của tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” của C.Mác và F.Enghen. II. Bố cục của tác phẩm (Tái bản 10 / 1986). - I Phơ bách Sự đối lập giữa quan điểm duy vật và duy tâm. Trang 7 -9 (261 - 263). - Phơ bách A. Hệ tư tưởng nói chung, hệ tư tưởng Đức nói riêng. Trang 10 -13 (264 - 267). - [1]. Hệ tư tưởng Đức nói chung, triết học Đức nói riêng. Trang 13 - 26 (267 - 279). - [2]. Trang 26 - 64 (279 - 314). - [3]. Trang 64 - 70 (314 - 321). - [4]. Trang 71 - 114 (321 - 362). - Quan hệ của nhà nước và pháp quyền với sở hữu. Trang 114 - 120 (363 - 369). III. NHỮNG NỘI DUNG QUAN TRỌNG CỦA TÁC PHẨM. Tác phẩm có hai nội dung chính: Phê phán triết học Đức sau Hêghen và Hệ thống quan niệm duy vật về lịch sử tương đối hoàn chỉnh của C.Mác và F.Enghen. 1. Phê phán triết học Đức sau Heghen. - Trong tác phẩm hai ông đã chỉ rõ: Phái Heghen trẻ om sòm tự xưng là cách mạng, nhưng trên thực tế họ không vượt qua chủ nghĩa duy tâm của Heghen. Họ “tin rằng, tôn giáo, khái niệm, cái phổ biến thống trị trong thế giới hiện tại”. Họ phê phán ý thức hiện nay - cái mà họ cho là sai lầm - đòi thay thế nó bằng ý thức phê phán - những quan niệm của chính họ, nhưng trên thực tế họ là những kẻ bảo thủ, chỉ cách mạng bằng lời lẽ mà thôi: “Mặc dù họ đã dùng những lời lẽ khoa trương dường như làm đảo lộn thế giới, các nhà tư tưởng của phái Hêghen trẻ vẫn là những kẻ đại bảo thủ. Những người trẻ nhất trong bọn họ đã tìm được những từ ngữ chính xác để chỉ hoạt động của họ, khi họ tuyên bố rằng họ chỉ đấu tranh chống lại “những câu nói” . Không một người nào trong những nhà triết học đó có ý nghĩ tự hỏi xem mối liên hệ giữa triết học Đức với hiện thực Đức là như thế nào, mối liên hệ giữa sự phê phán của họ với hoàn cảnh vật chất của chính bản thân họ là như thế nào” 2 . Trong lĩnh vực lịch sử, hai ông chỉ rõ phái Heghen trẻ cũng như chủ nghĩa duy tâm không biết đến cơ sở hiện thực của lịch sử. Theo hai ông, họ chỉ coi mỗi thời đại lịch sử là thể hiện của một tư tưởng, một quan niệm nào đó. Chính thế, khi phân tích một thời đại lịch sử nào đó ở họ suy cho cùng chỉ là sự “tán đồng ảo tưởng của thời đại đó”. Hai ông hoàn thành việc phê phán phái Heghen trẻ bằng cách phân tích và chỉ ra nguồn gốc xã hội của họ. Theo hai ông, họ thuộc giai cấp thị dân Đức, một giai cấp trung gian của một nước Đức chưa từng thực hiện một cuộc cách mạng tư sản triệt để. “Triết học Đức là hậu quả của những quan hệ tiểu tư sản”. Tính nghèo nàn, bất lực của tư tưởng Đức phản ánh chính tính nghèo nàn, thảm hại của hiện thực Đức. Một nước Đức phong kiến bảo thủ tồn tại bên cạnh một nước Pháp tư sản triệt để của một xã hội phương Tây sục sôi cách mạng tư sản. - Như nhan đề của chương 1 đã chỉ rõ, hai ông dành phần quan trọng để phê phán Ludwig Feuerbach, vạch rõ tính duy tâm về xã hội của triết học ấy. Hai ông viết “Feuerbach không bao giờ hiểu được rằng thế giới cảm giác được là tổng số những hoạt động sống và cảm giác được của những cá nhân hợp thành thế giới ấy, vì vậy ông không nhìn thấy chẳng hạn một đám người đói, còi cọc, kiệt quệ vì lao động và ho lao, chứ không phải những người khoẻ mạnh thì ông buộc phải lẩn trốn vào trong “quan niệm cao hơn” và trong “sự bù trừ” lý tưởng “trong loài” nghĩa là ông lại rơi vào chủ nghĩa duy tâm, đúng ở chỗ mà người duy vật cộng sản chủ nghĩa nhìn thấy cả sự tất yếu lẫn điều kiện của một sự cải tạo cả nền công nghiệp lẫn cơ cấu xã hội. Khi Ludwig Feuerbach là nhà duy vật thì ông không bao giờ vận dụng đến lịch sử, còn khi ông tính đến lịch sử thì ông không phải là nhà duy vật. Ở Feuerbach, lịch sử và chủ nghĩa duy vật hoàn toàn tách rời nhau, điều này đã được nói rõ ở bên trên” 3 . + Hai ông chỉ rõ, Ludwig Feuerbach duy tâm ở chỗ ông ta thừa nhận con người là đối tượng cảm tính, một thực thể có cảm giác và tình cảm (ở điểm này ông hơn các nhà triết học duy vật máy móc), nhưng ông ta không thấy giữa người với người một mối quan hệ nào khác ngoài tình bạn, tình yêu. Thậm chí ông ta coi tình bạn, tình yêu là động lực quan trọng nhất của lịch sử. Cái nơi cần giữ lập trường duy vật nhất thì ông ta lại duy tâm sa lầy trong cái trừu tượng về con người và không bao giờ đi tới được con người hiện thực, con người xã hội: “Đành rằng so với những nhà duy vật thuần tuý thì Feuerbach có ưu điểm lớn là ông thấy rằng con người cũng là một “đối tượng của cảm giác”; nhưng hãy gạt bỏ việc ông coi con 2 Sách đã dẫn - Trang 13. 3 Sđd - Trang 33. người chỉ là “đối tượng của cảm giác” chứ không phải là “hoạt động cảm giác được”, vì cả ở đây nữa, ông vẫn còn bám vào lý luận và không xem xét con người trong mối quan hệ xã hội nhất định của họ, trong những điều kiện sinh hoạt nhất định của họ, những điều kiện làm cho họ trở thành những con người đúng như họ đang tồn tại, thì Feuerbach cũng không bao giờ đi tới được những con người đang tồn tại và hành động thực sự, mà ông vẫn cứ dừng lại một sự trừu tượng: “Con người” và có thể nhận ra con người ”hiện thực, cá thể, bằng xương bằng thịt” chỉ trong tình cảm thôi, nghĩa là ông không biết đến những “quan hệ con người”, “giữa người với người” nào khác, ngoài tình yêu và tình bạn, hơn nữa là tình yêu và tình bạn được lý tưởng hoá. Ông không phê phán những điều kiện hiện tại” 4 . + Hai ông cũng chỉ rõ, thái độ tĩnh quan của Ludwig Feuerbach đã dẫn ông ta đến tự nhiên chủ nghĩa về lịch sử xã hội, coi con người là sản phẩm của tự nhiên, phục tùng những quy luật của tự nhiên, những quy luật sinh học. Ông ta chỉ thấy cái tự nhiên mà không thấy cái xã hội ở con người. Ông ta đã tách rời tự nhiên với xã hội, không thấy mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên với xã hội. Thật ra, con người không chỉ là đối tượng cảm tính mà còn hoạt động cảm tính. Dĩ nhiên là từ tự nhiên tách ra con người, nhưng con người lại cải tạo tự nhiên. “Bao giờ con người cũng đứng trước một giới tự nhiên lịch sử và một lịch sử tự nhiên”. Tự nhiên có vị trí ưu tiên của nó, song không thể xem nó là cái chủ yếu, bất biến, không thay đổi. Chính cái xã hội mới là cái cơ sở, cái tự nhiên phát triển, thành cái xã hội, trở thành cái xã hội, không biến mất mà chỉ thay đổi hình thức của mình. - Quan điểm tự nhiên chủ nghĩa về lịch sử chỉ thừa nhận quy luật tự nhiên, quy luật sinh học tác động trong xã hội. Quan niệm ấy luôn luôn gặp các mâu thuẫn không thể giải quyết được giữa tính quy luật khách quan và hoạt động có ý thức của con người; hoặc quy luật tự nhiên quyết định lịch sử hay ý thức con người quyết định lịch sử; hoặc hoàn cảnh quyết định con người hay con người quyết định hoàn cảnh của họ. Về điểm này, hai ông chỉ ra Ludwig Feuerbach duy tâm khi ông ta cho rằng, bản thân con người sáng tạo ra lịch sử của mình mà chỉ đóng khung con người trong phạm vi thể chất, tình cảm - tức ông ta chỉ thấy cái chủ quan mà không thấy cái khách quan, không thấy cái đặc thù của cái khách quan trong lĩnh vực xã hội, không thấy cái đặc thù của quy luật xã hội (Triết học duy vật biện chứng coi con người sáng tạo ra hoàn cảnh lịch sử trong chừng mực nào, thì hoàn cảnh lịch sử cũng tạo ra con người trong chừng mực ấy). Ở đây, Ludwig Feuerbach đã thụt lùi hơn so với Heghen. Heghen cho rằng, kết quả hoạt động có mục đích của con người không phụ thuộc vào bản thân hoạt động ấy, tức kết quả ấy là cái khách quan. Tuy nhiên, Heghen đã giải thích tính khách quan ấy một cách tư biện (Quan niệm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về con người và bản chất con người là: Con người là một chỉnh thể thống nhất của ba hệ thống các quy luật: Hệ thống các 4 Sđd - Trang 32-33. quy luật sinh học tạo nên phương diện sinh học ở con người; Ý thức con người hình thành và hoạt động trên cơ sở nền tảng sinh học của con người; Hệ thống các quy luật xã hội tạo nên cái xã hội của con người, nó quy định mối quan hệ giữa người với người. Trong đời sống hiện thực ba quy luật đó không tách rời nhau mà đan quyện hoà vào nhau, tạo nên bản chất con người với tư cách là cái đồng nhất của cái tự nhiên sinh học và cái xã hội. Con người trước hết là một động vật bậc cao. Nhưng con vật chỉ tái sản xuất ra chính mình, còn con người thì còn tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên. Nhu cầu tự nhiên của con người được biểu hiện ở các mặt: nhu cầu ăn, ở, mặc .; nhu cầu sinh hoạt văn hoá tinh thần, nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm và nhu cầu hiểu biết. Để đáp ứng những nhu cầu đó con người cần phải lao động. Trong lao động con người quan hệ với nhau, hình thành nên những quan hệ khác trong lĩnh vực đời sống tinh thần. Chính thế C.Mác khẳng định “trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội”. Bản chất con người không là cái bẩm sinh cũng không là cái chỉ sinh ra một lần là xong, mà nó là một quá trình được trải qua hoạt động thực tiễn. Trong quá trình đó con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh vừa cải biến hoàn cảnh. Con người vừa là sản phẩm của lịch sử vừa là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của mình.). + Hai ông chỉ rõ “toàn bộ suy diễn của Ludwig Feuerbach về quan hệ giữa người với người chỉ nhằm chứng minh người ta cần có nhau và bao giờ cũng cần có nhau. Cũng như những nhà duy lý khác, Ludwig Feuerbach không phải là một nhà cách mạng, mà là một nhà bảo thủ. Lý luận của Ludwig Feuerbach chỉ là sự ca tụng tuyệt diệu cái đang tồn tại. Ông ta viết “Bản chất của tôi như thế nào thì tồn tại của tôi như thế ấy”. Cái đang tồn tại mà Ludwig Feuerbach ca ngợi chính là trật tự tư sản. Là người có tấm lòng nhân đạo, Ludwig Feuerbach không thể thờ ơ với cảnh khổ của người lao động. Nhưng là nhà dân chủ tư sản ông ta không thể nhìn thấy được nguyên nhân của tình cảnh ấy và lối thoát hợp quy luật khỏi tình cảnh đó. Ông ta không có ý thức bênh vực trật tự dân chủ tư sản, mà chính do hạn chế bản chất giai cấp của tư tưởng của ông ta tạo ra. Ludwig Feuerbach không phủ định mà thừa nhận sự tồn tại của cáí đang tồn tại. Mà cái đang tồn tại không là cái gì khác ngoài hơn là trật tự dân chủ tư sản. - Như vậy, hai ông đã tiến hành hai bước làm cơ sở để xây dựng quan niệm duy vật về lịch sử của mình là: Thứ nhất là phê phán chủ nghĩa duy tâm về lịch sử của các nhà triết học duy tâm như Heghen và phái Heghen trẻ. Thứ hai là phê phán chủ nghĩa duy tâm về lịch sử của các nhà triết học duy vật cũ mà đỉnh cao là Ludwig Feuerbach. Đây là điểm mới trong xây dựng chủ nghĩa duy vật về lịch sử của Mác và Ăngghen. 2. Hệ thống quan niệm duy vật về lịch sử tương đối hoàn chỉnh của C.Mác và F.Enghen trong tác phẩm. Quan niệm duy vật lịch sử của C.Mac và F.Enghen có hai nội dung chính là Tiền đề và bản chất của quan niệm duy vật lịch sử; Quan niệm duy vật về lịch sử. a) Tiền đề và bản chất của quan niệm duy vật lịch sử của C.Mác và F. Enghen. (Có năm tiền đề) Theo C.Mác và F.Enghen, tiền đề đầu tiên của mọi lịch sử là sự tồn tại của những cá nhân con người “người ta phải có khả năng sống để rồi mới có khả năng làm ra lịch sử”. Con người muốn tồn tại ít nhất phải ăn, ở và mặc. Muốn vậy con người phải sản xuất ra bản thân đời sống vật chất. Trong sản xuất vật chất thì sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt là tiền đề cơ bản của mọi lịch sử, nó là sự thực lịch sử đầu tiên, là quan hệ lịch sử đầu tiên. Hai ông viết “có thể phân biệt con người với loài vật bằng ý thức, tôn giáo, nói chung bằng cái gì cũng được. Còn chính con người thì bắt đầu tự phân biệt với loài vật khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho mình . Khi sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho mình con người gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của bản thân mình”. “Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”. Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa. Như vậy hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thoả mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất, và đó là một hành vi lịch sử, một điều cơ bản của mọi lịch sử mà hiện nay cũng như hàng ngàn năm về trước người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ chỉ nhằm để duy trì đời sống con người” 5 . Như vậy tiền đề đầu tiên của mọi lịch sử suy cho cùng là việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt. Hai ông chỉ ra quan hệ lịch sử thứ hai là sự thoả mãn nhu cầu đầu tiên đưa tới những nhu cầu mới. Và sự sản sinh ra những nhu cầu mới này là hành vi lịch sử đầu tiên. Nhưng muốn thỏa mãn nhu cầu thì phải sản xuất, nhưng chính sản xuất lại tạo ra những nhu cầu mới. Đến lượt nó, những nhu cầu mới lại trở thành nguyên nhân của sự phát triển sản xuất. “Bản thân nhu cầu đầu tiên được thoả mãn - khi đã có được hành động được thoả mãn ấy và công cụ đạt được để thoả mãn nhu cầu ấy - đưa tới những nhu cầu mới”, chính là tiền đề quan hệ lịch sử thứ hai, trong xây dựng quan niệm duy vật lịch sử của hai ông. Quan hệ lịch sử thứ ba là trong tái sản xuất ra đời sống vật chất của chính bản thân mình, thì con người cũng tái sản xuất ra con người thông qua quan hệ gia đình. Tức là, trong khi tái sản xuất ra đời sống của chính mình, thì con người cũng sản xuất ra những con người khác, con người luôn sinh sôi nảy nở. Khi những nhu cầu đã tăng lên sinh ra những nhu cầu mới thì quan hệ gia đình cũng là một quan hệ phụ thuộc. Gia đình lúc đầu là quan hệ xã hội duy nhất, về sau trở thành một quan hệ phụ thuộc khi mà những nhu cầu đã tăng lên đẻ ra những quan hệ xã hội mới và dân số đã tăng lên đẻ ra những nhu cầu mới. Ba mặt đó của hoạt động xã hội là ba mặt hay ba yếu tố tồn tại đồng thời với nhau ngay từ buổi đầu của lịch sử, từ khi con người đầu tiên xuất hiện, và chúng còn biểu hiện ra trong lịch sử. 5 S đ d Trang 34. Thứ tư là sự sản xuất ra bản thân đời sống (vật chất) là một quan hệ hai mặt: Một mặt là quan hệ tự nhiên, một mặt là quan hệ xã hội. Quan hệ tự nhiên với ý nghĩa là hoạt động sản xuất để tái sản xuất ra đời sống vật chất. Quan hệ xã hội với ý nghĩa là hoạt động kết hợp của nhiều cá nhân bất kể trong điều kiện nào, theo cách nào và nhằm mục đích gì. Một phương thức sản xuất nhất định hay một giai đoạn công nghiệp nhất định bao giờ cũng thống nhất với một phương thức hoạt động kết hợp nhất định, một giai đoạn xã hội nhất định. Tức trong sản xuất ra đời sống, hai mặt quan hệ này là cái thống nhất với nhau trong một phương thức sản xuất. Nói cách khác, tổng hợp những sức sản xuất mà con người đã đạt được quyết định trạng thái xã hội. Quan hệ giữa sức sản xuất (hay giai đoạn công nghiệp) với giai đoạn xã hội, trạng thái xã hội là quan hệ lịch sử thứ tư (phương thức sản xuất). “Người ta phải luôn nghiên cứu và viết lịch sử loài người gắn liền với lịch sử của công nghiệp và trao đổi . Ngay từ đầu đã có một hệ thống những mối liên hệ vật chất giữa người với người, một hệ thống quy định bởi những nhu cầu và phương thức sản xuất và cũng lâu đời như bản thân loài người” 6 . Sau khi xem xét bốn nhân tố, bốn mặt của những quan hệ lịch sử đầu tiên ấy mới thấy con người còn có cả ý thức nữa - “Con người có một lịch sử, vì họ phải sản xuất ra đời sống của họ và hơn nữa lại phải sản xuất như vậy theo một phương thức nhất định, đó là do tổ chức thể xác của họ quy định, ý thức của họ cũng bị quy định giống như vậy” 7 . Bởi ý thức và ngôn ngữ “chỉ sinh ra từ nhu cầu, từ sự cần thiết thực sự phải giao dịch giữa người với người”. Ngay từ đầu, ý thức (dù chỉ là ý thức cá nhân) đã là một sản phẩm của xã hội, là ý thức về hoàn cảnh gần gủi nhất có thể cảm giác được. Ý thức này ban đầu còn mang tính hạn chế động vật (do quan hệ giữa người với tự nhiên, quan hệ giữa người với người còn mang tính hạn chế động vật), ý thức phát triển lên nhờ sự phát triển của sản xuất, sự phân công của lao động. Đặc biệt khi xuất hiện sự phân công lao động vật chất với lao động tinh thần thì từ đó ý thức thực sự có thể tưởng tượng rằng nó là một cái gì khác chứ không phải là ý thức về thực tiễn hiện có. Phân tích mối quan hệ giữa ý thức với thực tiễn, đặc biệt từ sau khi có sự phân công lao động vật chất với lao động tinh thần, C.Mác và F.Enghen khẳng định: ý thức (lý luận) chỉ mâu thuẫn với những quan hệ hiện có khi những quan hệ xã hội hiện có mâu thuẫn với sức sản xuất hiện có. Hoạt động tinh thần không tách rời với hoạt động vật chất. Ý thức không độc lập với đời sống vật chất, mà trái lại phải phụ thuộc vào nó. Như vậy, quan hệ lịch sử thứ năm mà C.Mác và F.Enghen xét đến là quan hệ giữa hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần; giữa đời sống vật chất và ý thức (hoạt động tinh thần, ý thức đã tách mình ra không thống nhất với hoạt động vật chất, đời sống vật chất). Ý thức ở con người ban đầu dù chỉ là ý thức về giới tự nhiên thì tự nó tất yếu phải quan hệ với những người xung quanh nó phải là một ý thức xã hội. Bước đầu dù mang tính 6 S đ d Trang 36. 7 S đ d Trang 37. động vật thì con người khác với động vật ở chỗ trong con người ý thức thay thế bản năng hoặc bản năng của con người là bản năng được ý thức. Phân công lao động chỉ trở thành phân công lao động thực sự từ khi xuất hiện sự phân chia thành lao động vật chất và lao động tinh thần C.Mac và F.Enghen đã hoàn thành việc xây dựng năm tiền đề cho quan niệm duy vật về lịch sử của mình bằng cách: Từ sản xuất mà giải thích giao dịch vật chất và giao dịch tinh thần, từ giai đoạn công nghiệp mà giải thích giai đoạn xã hội và giai đoạn tư tưởng. Chính phương thức sản xuất vật chất quyết định hình thức giao dịch (xã hội công dân, cơ sở của toàn bộ lịch sử), trên cơ sở đó xây dựng nên chế độ nhà nước và mọi hình thái ý thức. C.Mac và F.Enghen tom tắt “quan niệm đó về lịch sử là ở chỗ: xuất phát từ chính ngay sự sản xuất vật chất ra đời sống trực tiếp mà xem xét quá trình hiện thực của sản xuất và lý giải hình thức giao dịch - tức là xã hội công dân trong các giai đoạn khác nhau của nó - gắn liền với phương thức sản xuất nhất định và do phương thức sản xuất ấy sinh ra, coi như là cơ sở của toàn bộ lịch sử. Sau đó, phải hình dung hoạt động của xã hội công dân trong lĩnh vực đời sống nhà nước. Đồng thời phải từ đó phải giải thích mọi sản phẩm lý luận khác nhau và mọi hình thái ý thức, tôn giáo, triết học, đạo đức, v.v. và theo dõi quá trình hình thành của chúng trên cơ sở đó. Nhờ vậy mà tất nhiên có thể hình dung được toàn bộ quá trình trong tính hoàn chỉnh của nó.” “Quan niệm đó về lịch sử không đi tìm một phạm trù nào đó trong mỗi thời đại như quan niệm duy tâm về lịch sử đã làm mà luôn luôn đứng trên miếng đất hiện thực của lịch sử; nó không căn cứ vào tư tưởng để giải thích thực tiễn; nó giải thích sự hình thành của tư tưởng căn cứ vào thực tiễn vật chất; và do đó nó đi tới kết luận rằng không thể đập tan được mọi hình thái và sản phẩm của ý thức bằng sự phê phán tinh thần, bằng việc quy chúng thành tự ý thức hay biến chúng thành những “u hồn”, “bóng ma”, “tính kỳ quặc” v.v mà chỉ bằng việc lật đổ một cách thực tiễn những quan hệ xã hội hiện thực đã sinh ra tất cả những điều nhảm nhí duy tâm đó; Rằng không phải sự phê phán mà cách mạng mới là động lực của lịch sử, của tôn giáo, của triết học và của mọi lý luận khác” 8 . Bản chất của quan niệm duy vật lịch sử của C.Mac và F.Enghen là không xuất phát từ tư tưởng để giải thích thực tiễn, mà giải thích sự hình thành của tư tưởng từ thực tiễn vật chất. Tư tưởng phụ thuộc vào hoạt động vật chất và hoạt động giao dịch vật chất. Ý thức không là cái gì khác hơn cái tồn tại được ý thức (tồn tại của con người là quá trình hiện thực đời sống của con người). Ý thức là phản ánh, là tiếng vọng về mặt tư tưởng của quá trình sinh hoạt. Chính đời sống con người quyết định ý thức của họ chứ không phải ngược lại. “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị, nói một cách khác giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị. Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng 8 S đ d Trang 55 chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối. Những tư tưởng thống trị không phải là cái gì khác, mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan hệ vật chất thống trị, chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu hiện dưới hình thức tư tưởng; Do đó là sự biểu hiện của chính ngay những quan hệ làm cho một giai cấp trở thành giai cấp thống trị; nói cách khác đó là những tư tưởng của sự thống trị của giai cấp ấy.” 9 b) Quan niệm duy vật về lịch sử của C.Mac và F.Enghen. 1- C.Mac và F.Enghen xuất phát từ sản xuất vật chất mà lý giải “hình thức giao dịch”. Hai ông đã phân tích quá trình sản xuất vật chất từ chiếm hữu nô lệ đến tư bản chủ nghĩa rồi phát hiện ra: Trình độ phát triển của sức sản xuất biểu hiện trong trình độ phát triển của phân công lao động, mà mỗi giai đoạn của phân công lao động cũng quyết định những quan hệ cá nhân với nhau phù hợp với những quan hệ của họ đối với tư liệu, công cụ và sản phẩm lao động. Hai ông kết luận: Sức sản xuất (lực lượng sản xuất) quyết định hình thức giao dịch (quan hệ sản xuất). Cốt lõi của quan hệ sản xuất là quan hệ sở hữu. Hai ông đã rút ra từ trong mối quan hệ xã hội muôn màu muôn vẻ cái cơ bản nhất quyết định mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất là quan hệ sản xuất (quan hệ sản xuất được hai ông gọi là hình thức giao dịch, hay quan hệ giao dịch, hay phương thức giao dịch, hay quan hệ sản xuất và giao dịch). Quan hệ sản xuất là mối quan hệ cơ bản nhất, quyết định nhất bởi lẽ nó trực tiếp quyết định toàn bộ kết cấu bên trong của một dân tộc. Tức là, hai ông đã quy toàn bộ quan hệ xã hội (quan hệ giữa người với người trên cả hai bình diện vật chất và tinh thần) về sự quyết định của quan hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất), và khẳng định quan hệ sản xuất là yếu tố quyết định toàn bộ kết cấu của đời sống xã hội. 2- C.Mac và F.Enghen cũng khẳng định, hình thức giao dịch (quan hệ sản xuất) - mà cốt lõi là hình thức sở hữu (quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất) - quyết định kết cấu bên trong của xã hội. Đó là kết cấu giai cấp trong xã hội có giai cấp. Hai ông viết: “Cho đến nay, xã hội bao giờ cũng phát triển trong khuôn khổ đối lập, thời cổ đại là sự đối lập giữa công dân tự do và nô lệ, thời trung cổ là sự đối lập giữa quý tộc và nông nô, thời đại mới là giữa tư sản và vô sản.” 3- Theo hai ông, sự đối lập giai cấp tạo nên cơ sở thực tế của nhà nước. Nhà nước là hình thức mà các cá nhân thuộc giai cấp thống trị dùng để thực hiện lợi ích chung của họ và là hình thức trong đó toàn bộ xã hội công dân của một thời đại được biểu hiện một cách tập trung. Nhà nước là con đẻ của chế độ tư hữu. Pháp luật cũng là con đẻ của chế độ tư hữu. Tức các ông đã khẳng định chế độ tư hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất là nguồn gốc thực sự của Nhà nước. - Các tiền bối trước C.Mac và F.Enghen đã thấy nhà nước và pháp luật là những công cụ bạo lực, cần thiết cho lợi ích chung, thể hiện ý chí chung của toàn 9 S đ d Trang 64 - 65. xã hội (ví như Tômát Hốpxơ (1588-1679) chẳng hạn). Hai ông gạt bỏ quan niệm chung chung ấy của giai cấp tư sản về nhà nước và pháp luật mà chỉ rõ bản chất giai cấp của nó. Nhà nước chỉ là cái vẻ bề ngoài là hình thức tập thể. Nó là tập thể giả tạo, trong đó “tự do cá nhân chỉ tồn tại đối với những cá nhân đã phát triển trong khuôn khổ của giai cấp thống trị và trong chừng mực họ là những cá nhân của giai cấp ấy ., đối với giai cấp bị trị nó không những là tập thể hoàn toàn ảo tưởng mà còn là những xiềng xích”. C.Mac và F.Enghen rút ra kết luận cực kỳ quan trọng: giai cấp nào muốn nắm quyền thống trị thì trước tiên giai cấp ấy phải nắm lấy chính quyền để có thể nêu ra lợi ích của bản thân mình như là lợi ích phổ biến. - Vạch ra bản chất giai cấp của nhà nước, C.Mac và F.Enghen cũng vạch rõ bản chất giai cấp các hệ tư tưởng, chỉ rõ sự khác biệt giữa hệ tư tưởng của giai cấp thống trị với hệ tư tưởng của giai cấp cách mạng. “Tư tưởng của giai cấp thống trị là tư tưởng thống trị trong mỗi thời đại”. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì đồng thời là lực lượng thống trị tinh thần trong xã hội. Hệ tư tưởng của mỗi giai cấp là phản ánh tồn tại xã hội của giai cấp đó vào ý thức chủ quan của nó, là biểu hiện chủ quan của tồn tại khách quan của nó. Sự tồn tại của những tư tưởng cách mạng trong mỗi thời đại nhất định phải đã có sự tồn tại của giai cấp cách mạng làm tiền đề. 4- C.Mac và F.Enghen đã nêu ra và chứng minh rằng, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội. - Quan niệm duy tâm cho rằng dường như mỗi giai đoạn lịch sử có những tư tưởng nào đó thống trị xã hội vì nó chính xác hơn, hợp lý hơn. - Hai ông bác bỏ quan niệm đó và chỉ ra rằng, mỗi giai cấp mới thay thế cho giai cấp thống trị cũ, bao giờ cũng buộc phải nêu lợi ích của bản thân mình thành lợi ích chung của toàn xã hội. Nói một cách trừu tượng là làm cho những tư tưởng của bản thân mình mang hình thức phổ biến, nêu nó thành tư tưởng duy nhất hợp lý, có ý nghĩa phổ biến. Sở dĩ như thế là vì, ban đầu lợi ích của nó gắn liền với lợi ích của các giai cấp bị trị chưa phát triển thành lợi ích riêng biệt của một giai cấp riêng biệt được. 5- Xuất phát từ sự phát triển sức sản xuất biểu hiện trong trình độ của phân công lao động, C.Mac và F.Enghen chỉ ra các hình thức sở hữu trong lịch sử rằng: “Những giai đoạn khác nhau của phân công lao động đồng thời cũng là những hình thức khác nhau của sở hữu”. Tức tương ứng với những giai đoạn khác nhau của phân công lao động là những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất khác nhau ứng với nó. - Hình thức sở hữu đầu tiên là sở hữu thị tộc. Đây là hình thức sở hữu tập thể (công xã) phù hợp với giai đoạn chưa phát triển sản xuất, con người còn sống nhờ săn bắn, chăn nuôi và nhiều lắm là trồng trọt. Chế độ nô lệ gắn liền với gia đình phụ quyền đã nảy sinh trong lòng nó hình thức sở hữu tư nhân dưới hình thức che dấu. . nư c, C. Mac và F. Enghen c ng vạch rõ bản chất giai c p c c hệ tư tưởng, chỉ rõ sự kh c biệt giữa hệ tư tưởng c a giai c p thống trị với hệ tư tưởng c a. vật lịch sử c a C. Mac và F. Enghen trong t c phẩm Hệ tư tưởng Đ c là gì? 5- Những nội dung c bản c a quan niệm duy vật về lịch sử c a C. Mac và F. Enghen

— Xem thêm —

Từ khóa:

Xem thêm: GIỚI THIỆU TÁC PHẨM HỆ -TƯ TƯỞNG ĐỨC- CỦA C.MÁC VÀ F.ENGHEN, GIỚI THIỆU TÁC PHẨM HỆ -TƯ TƯỞNG ĐỨC- CỦA C.MÁC VÀ F.ENGHEN, GIỚI THIỆU TÁC PHẨM HỆ -TƯ TƯỞNG ĐỨC- CỦA C.MÁC VÀ F.ENGHEN

Gửi bình luận

Bình luận
Lên đầu trang
  • Yeu Khoa Hoc
    Yeu Khoa Hoc · Vào lúc 07:45 am 23/10/2013
    Chuẩn luôn. Rất hay cho người bắt đầu.
  • Luận văn 6789
    Luận văn 6789 · Vào lúc 12:10 pm 23/10/2013
    Moa moa moa, cảm ơn bạn nhiều nhen :x
  • Hồng Dung
    Hồng Dung · Vào lúc 09:46 pm 18/12/2013
    Cảm ơn bạn đã post nhé! tài liệu rất bổ ích!
  • fresh boy 18
    fresh boy 18 · Vào lúc 10:09 pm 22/12/2013
    Cám ơn bạn, đúng cái mình tìm
  • fresh boy 21
    fresh boy 21 · Vào lúc 12:31 am 28/12/2013
    Cảm ơn đã chia sẻ… nếu còn có tài liệu gì khác cậu up lên cho tụi mình với nhé
Xem thêm
Đăng ký

Generate time = 0.0780961513519 s. Memory usage = 13.47 MB