BÌNH LUẬN KHOA HỌC CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

Vô Thường
Vô Thường(12 tài liệu)
(0 người theo dõi)
Lượt xem 65
2
Tải xuống 10,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 234 | Loại file: DOC
0

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 17/10/2013, 06:58

Mô tả: ĐINH VĂN QUẾCHÁNH TOÀ TOÀ HÌNH SỰ TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAOBÌNH LUẬN KHOA HỌCBỘ LUẬT HÌNH SỰPHẦN CÁC TỘI PHẠM(TẬP IX)CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN CÔNG CỘNG,TRẬT TỰ CÔNG CỘNG(BÌNH LUẬN CHUYÊN SÂU) ĐINH VĂN QUẾ CHÁNH TOÀ TOÀ HÌNH SỰ TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CÁC TỘI PHẠM (TẬP X) CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP (BÌNH LUẬN CHUYÊN SÂU) NHÀ XUẤT BẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LỜI GIỚI THIỆU Bộ luật hình sự đã được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999, có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2000 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 1999). Đây là Bộ luật hình sự thay thế Bộ luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần vào các ngày 28-12- 1989, ngày 12-8-1991, ngày 22-12-1992 và ngày 10-5-1997. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh đang xuất bản bộ sách BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT HÌNH SỰ, được thể hiện với nội dung Bình luận chuyên sâu. Hiện tại đã in 11 tập: 1 tập Phần chung và 10 tập Phần các tội phạm. Tác giả của bộ sách là Thạc sĩ luật học Đinh Văn Quế, Chánh toà Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao; đã nhiều năm công tác trong ngành, có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, tham gia giảng dạy và đã cho xuất bản rất nhiều tác phẩm về luật hình sự, đồng thời cũng là người trực tiếp tham gia xét xử nhiều vụ án hình sự. Xin trân trọng giới thiệu tập 10 và cũng là tập cuối (Phần các tội phạm) của Bộ sách trên và mong nhận được sự đóng góp của bạn đọc. NHÀ XUẤT BẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2 PHẦN THỨ NHẤT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp quy định trong chương XXII Bộ luật hình sự là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. (Điều 292 Bộ luật hình sự). Về lý luận cũng như thực tiễn, khái niệm cơ quan tư pháp còn nhiều ý kiến khác nhau. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp (quyền tư pháp) thì cơ quan tư pháp chỉ bao gồm các Toà án. Điều 63 Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà quy định: Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà gồm có: Toà án tối cao; các Toà án phúc thẩm; các Toà án đệ nhị cấp và sơ cấp. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, bộ máy Nhà nước Việt Nam cũng từng bước được tổ chức cho phù hợp với tình hình chính trị, kinh tế-xã hội. Đến nay ở nước ta đã có 4 bản Hiến pháp (Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 ). Mỗi lần Hiến pháp được sửa đổi, bổ sung là một lần có sự sửa đổi, bổ sung về tổ chức bộ máy Nhà nước, trong đó có cơ quan tư pháp. Hiện nay, ngoài Toà án thì còn có các cơ quan khác như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng được gọi là cơ quan tư pháp, còn cơ quan thi hành án hình sự (các Trại giam thuộc Bộ Công an), cơ quan thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp tuy không gọi là cơ quan cơ quan tư pháp nhưng hoạt động của các cơ quan này nếu theo quy định tại Điều 292 Bộ luật hình sự thì cũng được coi là hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, theo tinh thần Nghị quyết số 49NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp từ nay đến năm 2020 thì các cơ quan tư pháp cũng như hoạt động tư pháp cũng phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp là một vấn đề đang được các nhà khoa học pháp lý, các luật gia đang nghiên cứu và cũng là vẫn đề Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm trong công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị đề ra. Hoạt động tư pháp là hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án và Cơ quan thi hành án thực hiện, thông qua hành vi của người tiến hành tố tụng như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó chánh án Toà án, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Toà án; của Cảnh sát tư pháp và của Chấp hành viên. 3 Cũng như đối với cơ quan tư pháp, hoạt động tư pháp cũng là vấn đề về lý luận và thực tiễn đang được các nhà khoa học pháp lý, các luật gia nghiên cứu và cũng còn nhiều ý kiến khác nhau. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì tư pháp là xét xử và chỉ có Toà án mới có quyền xét xử, nhưng theo nghĩa rộng và theo quy định tại Điều 292 Bộ luật hình sự thì hoạt động tư pháp bao gồm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Nừu hoạt động tư pháp chỉ là hoạt động xét xử thì tên chương XXII Bộ luật hình sự cần phải sửa đổi là các tội xâm phạm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, chứ không phải các tội xâm phạm hoạt động tư pháp. Vấn đề này sẽ được xem xét trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự theo tinh thần Nghị quyết số 49NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị đề ra. Chủ thể của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp đa phần là người tiến hành tố tụng như: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án; Cảnh sát tư pháp và Chấp hành viên. Ngoài ra còn có những người không phải là những người tiến hành tố tụng, không phải là Cảnh sát tư pháp hoặc Chấp hành viên, mà chỉ là công dân bình thường đối với một số tội như: không chấp hành án; khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật; từ chối khai báo, từ chối cung cấp tài liệu; mua chuộc, cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; vi phạm niêm phong, kê biên tài sản; trốn khỏi nơi giam giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử; đánh tháo người bị tạm giam, tạm giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử; che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm. Trong số những người này, đa số là người tham gia tố tụng. Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp không chỉ xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án, mà còn xâm phạm đến quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, vì các quyền này được Nhà nước bảo vệ thông qua các cơ quan tư pháp, nhưng như vậy không có nghĩa khách thể của các tội phạm quy định trong chương XXII vừa xâm phạm đến hoạt động tư pháp, vừa xâm phạm đến quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, mà người phạm tội chỉ thông qua việc xâm phạm đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và của công dân để xâm phạm đến hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, đối với từng tội phạm cụ thể người phạm tội xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức hoặc của công dân nhưng người phạm tội thông qua đó mà xâm phạm đến hoạt động tư pháp. Ví dụ: Tội dùng nhục hình, người phạm tội xâm phạm trực tiếp đến sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người nhưng thông qua việc xâm phạm đó mà người phạm tội đã xâm phạm đến hoạt động tư pháp. 4 Các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp cũng rất đa dạng, do đặc điểm về chủ thể của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp không chỉ do những người tiến hành tố tụng thực hiện mà còn do những người khác thực hiện. Có thể chia hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp thành các nhóm sau: - Các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp của những người tiến hành tố tụng, của Chấp hành viên; - Các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp của những người trong các cơ quan trợ giúp các cơ quan tiến hành tố tụng như: giám định viên, phiên dịch hoặc những người trong các cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ phải giúp đỡ các cơ quan tiến hành tố tụng; - Các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp của những người có nghĩa vụ phải thi hành các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng như: bị can, bị cáo, người bị tạm giữ, tạm giam, người bị kết án, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác có nghĩa vụ chấp hành các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng; - Các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp của mọi công dân có nghĩa vụ phát hiện, tố giác tội phạm như: hành vi che giấu tội phạm, không tố giác tội phạm Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp hầu hết được thực hiện do cố ý, chỉ có duy nhất một trường hợp do vô ý, đó là “thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn” quy định tại Điều 301 Bộ luật hình sự. Người phạm tội thực hiện hành vi của mình với nhiều động cơ khác nhau như: vì thành tích, vì vụ lợi, vì thù tức, vì nể nang hoặc vì động cơ khác. Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp đã được quy định tại Chương X Bộ luật hình sự năm 1985 do yêu cầu của việc lành mạnh hoá hoạt động tư pháp, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và mọi công dân; đề phòng những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của những người tiến hành tố tụng trong các cơ quan tư pháp; cán bộ thi hành án trong cơ quan thi hành án; cảnh sát tư pháp, cảnh sát bảo vệ, cảnh sát dẫn giải, các trại tạm giam, trại giam và nhà tạm giữ. Tuy nhiên, các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là những người tiến hành tố tụng như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh 5 án, Phó chánh án Toà án, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Toà án; của Cảnh sát tư pháp hoặc của Chấp hành viên thực tiễn xét xử không nhiều. Không phải các tội phạm này không xảy ra trong thực tế mà là do việc điều tra chứng minh rất khó khăn. Có lẽ đây là một đặc điểm nổi bật nhất đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể lại chính là những người trong các cơ quan tư pháp, có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp. Ví dụ: Một Thẩm phán ra bản án trái pháp luật nhưng để chứng minh là họ cố ý thì không phải là đơn giản. Bị can, bị cáo khai là mình bị bức cung, bị nhục hình nhưng việc xác định họ có bị bức cung, bị nhục hình hay không cũng rất khó.v.v . Cũng chính vì việc chứng minh khó, nên thực tiễn xét xử đối với loại tội phạm này ít bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây cũng là một vấn đề xã hội đang quan tâm. Chưa có một công trình điều tra tội phạm học nào, nhưng ai cũng thấy tội phạm ẩn trong lĩnh vực tham nhũng và trong lĩnh vực hoạt động tư pháp còn cao. Có nhiều tội quy định trong chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (Chương XXII) trên thực tế có xảy ra nhưng, thậm chí xảy ra nhiều nhưng rất ít bị phát hiện và bị truy cứu trách nhiệm hình sự. So với Chương X Bộ luật hình sự năm 1985 thì các tội xâm phạm hoạt động tư pháp quy định tại Chương XXII Bộ luật hình sự năm 1999 có nhiều sửa đổi, bổ sung. Một số hành vi trước đây chưa bị coi là tội phạm, thì Bộ luật hình sự năm 1999 quy định là tội phạm như: hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội; hành vi ra quyết định trái pháp luật của người có thẩm quyền trong Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án; hành vi đánh tháo người bị giam, giữ, người đang bị dẫn giải, người đang bị xét xử. Tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm 1999 cũng loại trừ trách nhiệm hình sự một số hành vi mà Bộ luật hình sự năm 1985 quy định là tội phạm như: hành vi không tố giác tội phạm của ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội, (trừ hành vi không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự ). Đối với các tội phạm cụ thể cũng được bổ sung các tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt mà Bộ luật hình sự năm 1985 chưa quy định. Về đường lối xử lý, nói chung các tội xâm phạm hoạt động tư pháp quy định tại chương XXII Bộ luật hình sự năm 1999 đều có mức hình phạt nặng hơn so với Bộ luật hình sự năm 1985. Hình phạt bổ sung được quy định ngay trong điều luật. PHẦN THỨ HAI 6 CÁC TỘI PHẠM CỤ THỂ 1. TỘI TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ NGƯỜI KHÔNG CÓ TỘI Điều 293. Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội 1. Người nào có thẩm quyền mà truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không có tội, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: a) Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng; b) Gây hậu quả nghiêm trọng. 3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. 4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm. Định nghĩa: Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã khởi tố, kết luận điều tra, truy tố đối với người mà mình biết rõ là không có tội. Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội chính là làm oan người vô tội. Nhưng không phải trường hợp làm oan người vô tội nào cũng là hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự hình sự người không có tội. Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là tội phạm đã được quy định tại Điều 231 Bộ luật hình sự năm 1985. So với Điều 231 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 293 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tội phạm này, có những sửa đổi, bổ sung như sau: Điều 231 Bộ luật hình sự năm 1985 cấu tạo thành 2 khoản, còn Điều 293 Bộ luật hình sự năm 1999 cấu tạo thành 4 khoản trong đó khoản 4 là hình phạt bổ sung, bổ sung thêm khoản 3 với tình tiết định khung hình phạt là “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”; khoản 2 của điều luật bổ sung tình tiết “truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng”. Đặc biệt, cấu thành cơ bản của tội phạm này nhà làm luật sửa đổi chủ thể của tội phạm không chỉ có Điều tra viên, Kiểm sát viên mà đối với 7 cả những người khác có thẩm quyền bao gồm những người tiến hành tố tụng; sửa đổi khái niệm “cố ý” bằng khái niệm “mà mình biết rõ là không có tội”. Vì khái niệm cố ý bao gồm cả cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp, nhưng khái niệm “biết rõ là không có tội” thể hiện sự cố ý rõ ràng hơn. Về hình phạt, so với Điều 231 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 293 Bộ luật hình sự năm 1999 nặng hơn nhiều. Nếu khoản 1 Điều 231 Bộ luật hình sự năm 1985 có khung hình phạt từ sáu tháng đến ba năm, thì khoản 1 Điều 294 Bộ luật hình sự năm 1999 là từ một năm đến năm năm; nếu khoản 2 Điều 231 Bộ luật hình sự năm 1985 có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm, thì khoản 2 Điều 293 Bộ luật hình sự năm 1999 có khung hình phạt từ ba năm đến mười năm, còn khoản 3 Điều 293 Bộ luật hình sự năm 1999 có khung hình phạt từ bảy năm đến mười lăm năm. Việc nhà làm luật quy định mức hình phạt đối với tội phạm này nặng hơn so với trước đây là nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm đối với tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong tình hình hiện nay. A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM 1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có thẩm quyền trong việc khởi tố bị can, kết luận điều tra, truy tố, mới là chủ thể của tội phạm này. Những người có thẩm quyền trong việc khởi tố bị can, kết luận điều tra, truy tố, bao gồm: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Điều tra viên, Kiểm sát viên. Mặc dù Điều 293 Bộ luật hình sự 1999 đã sửa đổi chủ thể của tội phạm này không chỉ là Kiểm sát viên, Điều tra viên mà còn những người khác và nội dung của khái niệm truy cứu trách nhiệm hình sự không chỉ bao gồm hành vi khởi tố, kết luận điều tra, truy tố, mà còn bao gồm cả hành vi kết án của Thẩm phán và Hội thẩm, nhưng không vì thể mà cho rằng chủ thể của tội phạm này bao gồm cả Thẩm phán và Hội thẩm. Bởi lẽ, hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội của Thẩm phán và Hội thẩm đã được nhà làm luật quy định thành một tội độc lập (tội ra bản án trái pháp luật quy định tại Điều 295 Bộ luật hình sự). Do đó, đối với tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội chỉ bao gồm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Điều tra viên, Kiểm sát viên. 8 Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, đối với Thẩm phán hoặc Hội thẩm mà kết án người mà mình biết rõ là không có tội thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội để phù hợp với nội dung khái niệm truy cứu trách nhiệm hình sự, còn đối với tội ra bản án trái pháp luật không bào gồm hành vi kết án người mà mình biết rõ là không có tội. Đây là vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn xét xử ít được nhắc đến. Thực tiễn xét xử chưa có trường hợp nào Chánh án, Phó chánh án Toà án, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cố ý kết án người không có tội mà bị xét xử về tội “ra bản án trái pháp luật” cả, mà chỉ có một số trường hợp ra bản án dân sự, hôn nhân và gia đình trái pháp luật. Mặt khác, các cơ quan có thẩm thẩm quyền cũng chưa có gải thích hoặc hướng dẫn áp dụng chương XXII Bộ luật hình sự nên việc hiểu và nhận thức còn khác nhau là bình thường. Có thể vẫn còn ý kiến khác nhau về chủ thể của tội phạm này, nhưng theo chúng tôi thì chủ thể của tội “truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội” chỉ bao gồm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Điều tra viên, Kiểm sát viên. Khi xác định củ thể của tội phạm này cần chú ý: Nếu Điều tra viên, Kiểm sát viên truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội theo quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, mặc dù trước đó đã báo cáo, đề xuất ý kiến “không khởi tố, không kết luận điều tra, không truy tố” nhưng không có ý kiến phản bác, bảo lưu hoặc báo cáo lên cấp trên mà vẫn đồng tình với quyết định của cấp trên thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội”. Tuy nhiên, khi xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người này cũng cần xem xét đến mối quan hệ giữa Điều tra viên, Kiểm sát viên với Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát. Nếu đó là mối quan hệ quá lệ thuộc, mà Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên không còn cách nào khác buộc phải chấp hành thì được coi là phạm tội do bị ép buộc, cưỡng bức và được xem xét nhẹ miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt. Trường hợp Điều tra viên, Kiểm sát viên truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội theo quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, nhưng trước đó đã đề xuất ý kiến “không khởi tố, không kết luận điều tra, không truy tố” và đã bảo lưu ý kiến, đồng thời báo cáo lên Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp trên hoặc 9 Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên về ý kiến của mình thì không phạm tội này. Trường hợp người có thẩm quyền như: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, ký bản kết luận điều tra, ký bản cáo trạng truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội nhưng không biết rõ người mà mình truy cứu trách nhiệm hình sự không có tội mà chỉ có Điều tra viên, Kiểm sát viên biết rõ là không có tội thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên không phải là chủ thể của tội phạm này, mà tuỳ trường hợp cụ thể họ có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 285 Bộ luật hình sự. Những người tuy được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong các đơn vị như: Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Kiểm lâm nhưng họ không thể là chủ thể của tội phạm này, vì những người này chỉ có quyền khởi tố vụ án, chứ không có quyền khởi tố bị can, mà khởi tố vụ án thì chưa nhằm vào bất cứ một con người cụ thể nào. 2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là tội trực tiếp xâm phạm đến uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng. Một trong những nguyên tắc của Bộ luật hình sự đó là: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” và Bộ luật tố tụng hình sự cũng có nguyên tắc: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”. Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự. Làm oan người vô tội nếu chỉ do trình độ, nhận thức, năng lực của người tiến hành tố tụng đã làm ảnh hưởng lớn đến uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng và người vi phạm đã phải bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội 10 . người phạm tội đã xâm phạm đến hoạt động tư pháp. 4 Các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp cũng rất đa dạng, do đặc điểm về chủ thể của các tội xâm phạm hoạt. CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp quy định trong chương XXII Bộ luật hình sự là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng

— Xem thêm —

Từ khóa:

Xem thêm: BÌNH LUẬN KHOA HỌC CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP, BÌNH LUẬN KHOA HỌC CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

Gửi bình luận

Bình luận
Lên đầu trang
  • HuyenHn
    HuyenHn · Vào lúc 12:26 pm 14/12/2013
    Cám ơn đã chia sẽ tài liệu rất hay và có nhiều cập nhập mới.
  • nguu-chan
    nguu-chan · Vào lúc 04:50 pm 19/12/2013
    Cảm ơn bạn nhiều nhé! Mong rằng bạn sẽ đóng góp cho cộng đồng nhiều hưn nữa..hehe
  • enlicious
    enlicious · Vào lúc 03:53 am 28/12/2013
    Cảm ơn bạn nhé, hi vọng bạn sẽ có nhiều tài liệu hay như thế này để chia sẻ cho mọi người.
  • fresh boy 21
    fresh boy 21 · Vào lúc 05:58 pm 28/12/2013
    Cám ơn bạn. Tài liệu rất hữu dụng
  • fresh boy 43
    fresh boy 43 · Vào lúc 06:46 pm 28/12/2013
    Tài liệu rất rất hay và bổ ích...cám ơn bạn rất nhiều
Xem thêm
Đăng ký

Generate time = 0.0783839225769 s. Memory usage = 13.43 MB