MỤC TIÊU, KHUÔN KHỔ VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH

yeutailieu2789
yeutailieu2789(750 tài liệu)
(1 người theo dõi)
Lượt xem 2
0
Tải xuống 2,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 27 | Loại file: PDF
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 17/10/2013, 22:20

Mô tả: 62 GIỚI THIỆU CHƯƠNG Mục tiêu căn bản của quản trị tài chính là tối đa hóa giá trị dài hạn của doanh nghiệp chứ không phải là tối đa hóa các kết quả kế toán như lợi nhuận sau Thuế TNDN hay lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS). Tuy nhiên, trên thực tế, dữ liệu kế toán vẫn rất có giá trị khi định đến giá thị trường của cổ phiếu. Vì vậy, để hiểu được tại sao một công ty triển khai hoạt động theo cách thức hiện tại của họ và để dự đoán được họ sẽ đi đến đâu, người ta cần phải đánh giá thông tin trong các báo cáo tài chính. Nếu mục tiêu của nhà quản trị là tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp, họ phải nhận ra khai thác sức mạnh và điều chỉnh các điểm yếu của doanh nghiệp. Phân tích tài chính liên quan đến việ c (1) so sánh hiệu suất của một công ty với hiệu suất của các công ty khác trong ngành và (2) đánh giá các xu hướng về vị thế tài chính của công ty theo thời gian. Những nghiên cứu này giúp các nhà quản trị xác định các khiếm khuyết và từ đó có những hành động phù hợp nhằm cải thiện hiệu suất của doanh nghiệp. Trong chương này, chúng ta sẽ tập trung vào cách thức mà các nhà quản trị tài chính (và người đầu tư) đánh giá về vị thế tài chính hiện t ại của một công ty. Cuối cùng, chúng ta sẽ xem xét những hành động mà các nhà quản trị có thể thực hiện để cải thiện hiệu suất trong tương lai và từ đó làm tăng giá cổ phiếu của công ty. 3.1 MỤC TIÊU, KHUÔN KHỔ VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH 3.1.1 Mục tiêu của phân tích tài chính Phân tích tài chính là nhằm đánh giá hiệu suất và mức độ rủi ro của các hoạt động tài chính. Chúng ta biết rằng các dòng dịch chuyển tài chính vận động liên tục và có thể ví như hệ tuần hoàn trong cơ thể con người. Hầu như mọi dấu hiệu tốt hay xấu trong hoạt động của công ty đều có thể biểu hiện qua các dấu hiệu tài chính. Bản thân công ty cũng như các nhà cung cấp vốn bên ngoài - ch ủ nợ và nhà đầu tư - tất thảy đều cần phải phân tích tài chính để nắm vững tình hình tài chính của công ty. Tuy nhiên, tùy vào mối quan hệ của các đối tác bên ngoài với công ty mà họ sẽ quan tâm đến các khía cạnh tài chính khác nhau. Các chủ nợ thương mại (nhà cung cấp vốn thông qua hàng hóa và dịch vụ), họ liên quan trực tiếp với công ty bởi các khoản nợ ngắn hạn, do việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ theo hình thức tín dụng thương m ại. Chính vì vậy, họ quan tâm đến khả năng phát sinh ngân quĩ để có thể đáp ứng các khoản nợ. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp chính là dấu hiệu quan trọng mà những chủ nợ thương mại tìm hiều qua phân tích tài chính. Tương tự như vậy, các ngân hàng thương mại, những người cấp vốn ngắn hạn cho doanh nghiệp cũng sẽ có mối quan tâm tương tự. Rõ ràng, với họ khả năng sinh lợ i có thể chưa quan trọng bằng khả năng sản sinh ngân quĩ kịp cho các cam kết trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Trong khi đó, những người cho vay dài hạn (các trái chủ) cung cấp các khoản nợ dài hạn cho doanh nghiệp. Việc doanh nghiệp liên tục sản sinh ngân quĩ đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trong suốt thời hạn của khoản nợ là điều họ quan tâm bậc nhất. Những nguời cho vay dài hạn sẽ cố đánh giá khả năng này bằng cách phân tích mức độ nợ, cấu trúc nguồn vốn, cấu trúc tài sản, đối chiếu nguồn và sử dụng vốn, khả năng sinh lợi theo thời gian và các dự đoán về khả năng sinh lợi trong tương lai. Đối với các nhà đầu tư, mối lo lắng của họ gắn với vốn đầu tư mà họ đã bỏ vào trong công Chương 3 – Phân tích tài chính 63 ty. Với họ, điều băn khoăn lớn nhất là khả năng thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra, khả năng sinh lợi và những rủi ro gắn với khoản đầu tư của họ. Thu nhập hiện tại và thu nhập kỳ vọng cũng như khả năng ổn định của dòng thu nhập là điều mà họ quan tâm. Vì vậy, các nhà đầu tư thường tập trung vào khả năng sinh lợi và quan tâm đến điều kiện tài chính của công ty khi nó ảnh hưởng đến khả năng trả cổ tức và khả năng vượt qua nguy cơ phá sản. Họ muốn hiểu sâu về các nguồn lực của công ty, tình hình sử dụng các nguồn lực và những rủi ro gắn với các nguồn lực đó. Bên trong công ty, các nhà quản trị cũng cần phải phân tích tài chính nhằm mục tiêu kiểm soát nội bộ và cung cấp nhiều thông tin hơn cho nhà cung cấp về điều kiện và hiệu quả tài chính của công ty. Với mục tiêu kiểm soát nội bộ, các nhà quản trị cần phải có khả năng phân tích tài chính để lập kế hoạch và kiểm soát một cách hiệu quả. Để lập kế hoạch cho tương lai, họ phải đánh giá các điều kiện tài chính hiện tại của công ty và đánh giá được các cơ hội liên quan đến vị thế tài chính. Trong kiểm soát nội bộ, nhà quản trị tài chính đặc biệt quan tâm đến thu nhập trên đầu tư và hiệu quả trong công tác quản trị tài sản. Cuối cùng, để thương lượng hiệu quả với các nguồn bên ngoài, nhà quản trị tài chính cần phải điều chỉnh tất cả các phương diện phân tích tài chính để các nhà cung cấp vốn bên ngoài sử dụng và đánh giá về công ty. Tóm lại, hình th ức và nội dung phân tích tài chính thay đổi tùy thuộc vào mối quan tâm của nhà phân tích. 3.1.2 Khuôn khổ phân tích tài chính Có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong phân tích tài chính, nhưng với công cụ phân tích tốt, nhà phân tích có thể có đủ cơ sở để kết luận về vị thế tài chính của công ty. Với cách tiếp cận trên quan điểm của người cung cấp nguồn tài trợ cho công ty, chúng ta có thể sử dụng một khuôn khổ phân tích như trong hình 3.1. Hình 3-1. Khuôn khổ phân tích tài chính Trước hết, chúng ta quan tâm đến xu hướng và yếu tố mùa vụ trong nhu cầu vốn của công ty. Trong tương lai, doanh nghiệp cần bao nhiêu vốn và nội dung của các nhu cầu này là gì? Có yếu tố mùa vụ nào trong nhu cầu không? Có nhiều công cụ phân tích được sử dụng để X ác định nhu cầu tài trợ bên ngoài Phân tích nhu cầu vốn Thương lượng với các nhà cung cấp vốn Phân tích điều kiện tài chính và khả năng sinh lợi Phân tích rủi ro 64 đánh giá điều kiện tài chính và hiệu quả bao gồm các thông số tài chính, phân tích khối, phân tích chỉ số Các nhà phân tích tài chính sử dụng các thông số này như một nhà vật lý học sử dụng các kết quả kiểm định. Theo thời gian, các dữ liệu này cung cấp dấu hiệu có giá trị về sức khỏe công ty, cụ thể hơn là về điều kiện tài chính và khả năng sinh lợi của nó. Sau khi nghiên cứu xong nhóm hai nhân tố đầu tiên, chúng ta phân tích rủ i ro kinh doanh, đó là những rủi ro tiềm ẩn trong các hoạt động của công ty. Có những công ty hoạt động trong ngành có nhiều biến động và họ thường chỉ hoạt động quanh điểm hoà vốn. Trong khi đó, các công ty khác lại hoạt động trong những ngành ổn định hơn và hoạt động của họ vượt xa trên điểm hoà vốn. Chẳng hạn như các công ty sản xuất các hệ thống máy móc thiết bị thường thuộ c vào nhóm ngành thứ nhất trong khi các công ty hoạt động trong ngành điện thường thuộc nhóm thứ hai. Tóm lại, các nhà phân tích cần phải ước lượng mức độ rủi ro kinh doanh của công ty mà họ phân tích. Cả ba nhóm nhân tố này cần được sử dụng và kết hợp lại để xác định nhu cầu tài chính của công ty. Tất nhiên, nhu cầu vốn càng lớn, tổng nhu cầu tài trợ càng nhiều, trong đó, nội dung nhu cầu vốn sẽ ảnh hưởng đế n hình thức tài trợ. Nếu có yếu tố mùa vụ trong nhu cầu thì có thể phải cần đến nguồn tài trợ ngắn hạn, đặc biệt là vốn vay ngắn hạn. Ngoài ra, mức độ rủi ro kinh doanh cũng ảnh hưởng lớn đến hình thức tài trợ, rủi ro kinh doanh càng cao thì tài trợ bằng vốn vay càng ít hơn so với vốn chủ. Nói cách khác, tài trợ bằng vốn chủ an toàn hơn vì với hình thức tài trợ này, công ty không có nghĩa vụ b ắt buộc trong việc trả lãi và vốn gốc. Công ty nào có rủi ro kinh doanh cao thì cũng thường có rủi ro tài chính cao. Mặt khác, điều kiện tài chính và hiệu quả của công ty cũng ảnh hưởng đến hình thức tài trợ mà họ sử dụng. Chẳng hạn khả năng thanh toán càng cao thì họ càng có cơ hội sử dụng hình thức tài trợ rủi ro hơn, nghĩa là có thể sử dụng nhiều vốn vay hơn cũng như có thể sử dụng nhiều nguồn vốn ngắn hạn hơn. Hình tròn trong hình 3.1 cho thấy việc xây dựng kế hoạch tài trợ chỉ mới đứng trên quan điểm của công ty hoặc chỉ giả định đơn giản là công ty có thể vay được khi cần. Tuy nhiên, kế hoạch tài trợ phải được bàn thảo và thương lượng với các nhà cung cấp vốn bên ngoài. Chẳng hạn, công ty có thể xác định nhu cầu vốn là 100 triệu đồng tài tr ợ ngắn hạn nhưng không có gì đảm bảo rằng người cho vay có thể đáp ứng được toàn bộ khoản vay cũng như hình thức tài trợ mà các nhà quản trị yêu cầu. Vì thế, công ty có thể phải điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với điều kiện của thị trường. Công ty với các nhà cung cấp vốn sẽ thương lượng để quy mô hợp đồng vay vốn, các điều kho ản và chi phí của hợp đồng tài trợ. Trong một số tình huống, việc thương lượng với các nhà cung cấp vốn bên ngoài là một cơ chế phản hồi đối với các nhân tố khác trong hình 3.1. Rõ ràng, quá trình phân tích không thể tách rời hoạt động thu hút vốn từ các nhà cung cấp. Đồng thời, các nhà cung cấp vốn cũng nên có cách nhìn rộng hơn với cách tiếp cận của công ty trong vấn đề tài trợ mặc dù cách đó khác với cách tiếp cận củ a họ. Như vậy, phân tích tài chính có rất nhiều khía cạnh. Tuy nhiên, có lẽ hầu hết các phân tích đều gắn với khuôn khổ có cấu trúc tương tự như khuôn khổ trên đây. Nếu không, phân tích sẽ không chặt chẽ và sẽ không tự đáp ứng được những vấn đề dự tính. 3.1.3 Phương pháp phân tích Những con số tuyệt đối hay thông số dường như sẽ không có ý nghĩa trừ khi chúng được so sánh với những con s ố hay thông số khác. Chẳng hạn, 60% tổng tài sản đầu tư vào nhà xưởng Chương 3 – Phân tích tài chính 65 và thiết bị sẽ là chuyện bình thường đối với một số công ty nhưng với một số khác thì tỷ lệ này lại là vấn đề thảm họa. Chúng ta phải có một hướng dẫn để xác định ý nghĩa của các thông số và các công cụ đo lường khác. Các hoạt động kinh doanh nói chung và các hoạt động tài chính nói riêng diễn ra trong không gian và theo thời gian. Vì vậy, việc so sánh phân tích không thể tách rời khỏi không gian và thời gian. a - So sánh theo thời gian So sánh theo thời gian nh ằm nghiên cứu bản chất sự thay đổi về điều kiện và hiệu suất tài chính của một công ty. Nhà phân tích có thể so sánh thông số hiện tại với thông số quá khứ và thông số kỳ vọng trong tương lai của cùng một công ty. Ví dụ, thông số khả năng thanh toán hiện thời của năm hiện tại có thể được so sánh với thông số khả năng thanh toán hiện thời của năm trước. Khi các thông số tài chính được tập hợp theo một số thời kỳ, nhà phân tích có thể nghiên cứu tập hợp biến đổi và xác định xem có sự cải thiện hay giảm sút nào hay không về điều kiện và hiệu quả tài chính theo thời gian cũng như các khuynh hướng tài chính đã, đang và sẽ diễn ra. Tóm lại, con số tại một thời điểm sẽ không thể cho chúng ta một bức tranh có ý nghĩa về hiệu suất tài chính của công ty, và vì thế , chúng ta phải nghiên cứu thông số theo thời gian. b - So sánh theo không gian và nguồn các thông số ngành Chiều phân tích thứ hai là việc so sánh không gian. Phép so sánh này thường được thực hiện bằng cách so sánh các chỉ tiêu ở từng thời điểm giữa các doanh nghiệp tương đương hay con số trung bình ngành. Điều này có thể điều chỉnh các điều kiện và hiệu suất tài chính của công ty theo hệ qui chiếu chung, cho phép xác định độ lệch của công ty so với bình quân ngành. Mặc dù ở Việt Nam thông tin về ngành còn rất hạn chế nên việc so sánh bên ngoài gần như ít có ý nghĩa. Tuy nhiên, đối với các nhà phân tích, việc thu thập thông tin về ngành là rất cần thiết. Các chỉ tiêu trung bình ngành có thể là những chỉ dẫn khá quan trọng để hiểu về tình hình tài chính của công ty. Song đáng lưu ý là không nên xem các thông số bình quân ngành như là mục tiêu, hay chuẩn mực mà nên xem nó như là hệ quy chiếu cho các phân tích. Hơn nữa, nhà phân tích nên tránh áp dụng kinh nghiệm chung cho tất cả các ngành. Chẳng hạn như sử d ụng tiêu chuẩn thông số khả năng thanh toán hiện thời ít nhất bằng 1,5 cho tất cả các công ty là không chuẩn xác. Phân tích này phải được đặt trong mối quan hệ với loại hình kinh doanh và điều kiện của bản thân công ty. Chẳng hạn như khi kiểm tra thực trạng về khả năng trả nợ, hay đúng hơn là khả năng trả các hóa đơn đúng hạn. Nhiều công ty nổi tiếng bao gồm cả ngành đ iện vẫn có khả năng trả hóa đơn đúng hạn mặc dù các thông số khả năng thanh toán hiện thời của họ luôn ở mức dưới 1,5. Do vậy, yếu tố này phụ thuộc vào bản chất hoạt động kinh doanh của công ty. Việc dịch nghĩa các thông số sẽ không chính xác nếu không xem xét nội dung kinh doanh và bản thân công ty. Như vậy, chỉ khi so sánh các thông số tài chính của một công ty với công ty tương tự thì chúng ta mới có thể có m ột đánh giá tương đối hợp lý. Trong chừng mực nào đó, cũng cần phải tiêu chuẩn hóa số liệu kế toán của các công ty khác nhau (nghĩa là điều chỉnh cho tương thích để so sánh). Đơn giản vì không thể đem táo ra so với cam. Thậm chí khi đã sử dụng các thông số tiêu chuẩn rồi, nhà phân tích vẫn còn phải cẩn thận khi dịch nghĩa các thông số so sánh. Để tiến hành phân tích một công ty, tùy vào mục tiêu phân tích khác nhau, và vị trí của 66 người phân tích mà mỗi đối tượng sẽ sử dụng các thông tin tài chính khác nhau. Tuy nhiên, nội dung cơ bản nhất về tình hình tài chính của một công ty được thể hiện trong các báo cáo tài chính. 3.2 BÁO CÁO TÀI CHÍNH 3.2.1 Công dụng của các báo cáo tài chính Phân tích tài chính dựa trên nền thông tin căn bản là các báo cáo tài chính. Các báo cáo tài chính là để cung cấp thông tin tài chính hữu ích về một doanh nghiệp cho các nhà đầu tư và người cho vay cũng như các bên hữu quan khác. Người đọc chính của báo cáo tài chính là người chủ - người đầu tư của doanh nghiệp và các chủ nợ của nó. Có nhiều loại báo cáo khác nhau, tuy nhiên, với những người phân tích bên ngoài nói chung, mỗi đối tượng sử dụng khác nhau, khả năng có được các báo cáo tài chính đó là khác nhau. Hệ thống báo cáo tài chính được sử dụng cho các đối tượng bên ngoài công ty bao gồm ba bảng báo cáo chính:  Bảng cân đối kế toán  Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh  Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Các báo cáo tài chính này cung cấp thông tin cần thiết cho nhiều đối tượng khác nhau quan tâm đến tình hình tài chính của công ty. Các nhà phân tích bảo hiểm, các nhân viên ngân hàng, các nhà đầu tư và các nhà quản trị nghiên cứu tài liệu hiện tại và quá khứ để đánh giá, ước lượng rủi ro và tiề m năng của công ty trong tương lai. Tùy theo mỗi đối tượng sử dụng mà báo cáo tài chính sẽ đem lại cho họ những công dụng khác nhau. Đối với các nhà quản trị, báo cáo tài chính cho thấy bức tranh toàn cảnh về tình hình tài chính, các xu hướng phát triển, các ưu và nhược điểm trong các hoạt động của công ty. Đối với các nhà đầu tư tiềm năng, báo cáo tài chính cung cấp các thông tin cần thiết để tìm hiểu các yếu tố rủi ro, khả năng hoàn vốn, kh ả năng bảo toàn và thanh toán vốn, sự tăng trưởng .Cụ thể hơn, họ ước lượng quan hệ giữa giá trị hiện tại của khoản đầu tư và giá trị tương lai mà họ có thể đạt được. Hơn nữa, họ còn nghiên cứu thu nhập hoạt động, chính sách chia lãi cho cổ đông. Đặc biệt, họ muốn tìm ra các yếu tố tăng trưởng tiềm năng như:  Công ty có nguồn tiềm năng nào?  Các nguồn này đã được sử dụng như thế nào?  Công ty đang duy trì cơ cấu như thế nào?  Những rủi ro và cơ hội có thể có?  Các đòn bẩy tài chính  Thời hạn, độ lớn, sự không chắc chắn của các ước đoán. Trong chương này, chúng ta ôn lại một số điểm căn bản của các báo cáo tài chính bao gồ m bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và báo cáo nguồn và sử dụng ngân quỹ. Chương 3 – Phân tích tài chính 67 3.2.2 Thông tin trên báo cáo tài chính Bảng cân đối kế toán tóm tắt tài sản, nợ và vốn chủ của công ty tại một thời điểm, thông thường là cuối năm hay cuối quý. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tóm tắt quá trình kinh doanh của doanh nghiệp bằng các khoản thu và chi phí trong một thời kỳ, thường là một năm hay một quý. Như vậy, bảng cân đối kế toán giống như một bức tranh biểu thị vị thế tài chính tại một điểm thời gian còn báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tóm tắt khả năng sinh lợi của công ty theo thời gian. Từ hai báo cáo này, có những báo cáo phát sinh khác được hình thành như báo cáo lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, báo cáo nguồn và sử dụng vốn, báo cáo lưu chuyển tiền tệ. a - Bảng cân đối kế toán Bảng 3.1 biểu diễn bảng cân đối kế toán tóm tắt của công ty Hải Vân vào cuối năm tài chính, ngày 31/12/20X4 và tháng 31/12/20X5. Bảng 3-1. Bảng cân đối kế toán công ty Hải Vân Đơn vị báo cáo: CÔNG TY HẢI VÂN Mẫu số B01 - DN Địa chỉ: . (Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ-BTC Ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng BTC) BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN Tại ngày 31 tháng 12 năm 20x4 và 20x5 Đơn vị tính: triệu đồng TÀI SẢN 20X4 20X5 NGUỒN VỐN 20X4 20X5 Tiền và các khoản tương đương tiền 105 178 Phải trả người bán 190 148 Các khoản phải thu ngắn hạn 632 678 Phải trả người lao động 105 36 Hàng tồn kho 1.120 1.329 Vay và nợ ngắn hạn 250 448 Tài sản ngắn hạn khác 32 56 Các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn khác 140 191 Tài sản ngắn hạn 1889 2241 Nợ ngắn hạn 685 823 TÀI SẢN DÀI HẠN 850 957 Nợ dài hạn 284 520 Nguyên giá TSCĐ 1495 1544 VỐN CHỦ SỞ HỮU Trừ: giá trị hao mòn lũy kế 850 857 Vốn đầu tư của chủ sở hữu, mệnh giá 10.000đ 421 421 Giá trị còn lại 645 687 Thặng dư vốn cổ phần 361 361 Bất động sản đầu tư 065Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối 987,65 1073 Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 205 205 Tổng vốn chủ sở hữu 1770 1855 TỔNG CỘNG TÀI SẢN 2739 3198 TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN 2739 3198 Trong bảng cân đối kế toán, tổng cộng tài sản bằng tổng nợ phải trả cộng với vốn chủ sở hữu. Thật vậy, đây là một nguyên tắc kế toán và do vậy, tổng tài sản trừ tổng nợ bằng vốn chủ sở hữu, trong đó, phần lớn các khoản nợ đều có thể được xác định chắc chắn. Hầu hết các vấn đề k ế toán liên quan đến bảng cân đối kế toán đều liên quan đến những con số gắn trong các tài sản. Tuy nhiên, cần lưu ý là các con số trong bảng cân đối kế toán chỉ là những con số kế toán, nó khác với các dự đoán theo giá trị kinh tế của tài sản. Giá trị kế toán của tài sản dài hạn chỉ là chi phí thực tế trong quá khứ chứ không phải là giá trị thực tế thu được nếu bán tài sản đó 68 đi vào thời điểm hiện tại. Ngoài ra, hàng tồn kho thường được ghi ở mức thấp hơn giá thị trường. Khoản mục phải thu khách hàng được xác định với giả thiết là công ty sẽ thu hồi được toàn bộ Phải thu khách hàng. Tất cả các giá trị này cũng có thể đúng và cũng có thể không đúng. Do đó, người phân tích cần phải nhìn vượt ra ngoài những con số trong báo cáo thì mới có thể phân tích một cách chính xác về đi ều kiện tài chính của công ty. Tùy vào loại phân tích, giá trị vốn chủ ghi trên bản tổng kết tài sản có thể đúng và cũng có thể không đúng với giá trị thực của công ty. b - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (hay còn gọi là báo cáo lỗ lãi) phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh trong một thời kỳ, thường là một năm hay một chu kỳ kinh doanh. Bảng 3.2 biểu diễn báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Hải Vân trong hai năm tài chính 20X4 và 20X5. Khả năng của các nhà quản lý trong việc tạo doanh số và kiểm soát chi phí, và từ đó sinh lời được tóm tắt trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Về cơ bản, nó có sử dụng để đo lường các khía cạnh về khả năng sinh lợi của công ty trong một thời kỳ. Đạt được một mức lợi nhuận hợp lý là chìa khóa cho sự tồn tại và là đ òi hỏi quan trọng với các nhà quản trị về mặt tài chính nhất. Bảng 3-2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh công ty Hải Vân năm 20x4 và 20x5 Đơn vị báo cáo: CÔNG TY HẢI VÂN Mẫu số B 02 – ĐN Địa chỉ: (Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ-BTC Ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC) BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Năm 20x4 và 20x5 Đơn vị tính: triệu đồng 20X4 20X5 Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ 3.728 3.992 - Giá vốn hàng bán 2.550 2.680 = Lợi nhuận gộp về BH và CCDV 1.178 1.312 + Doanh thu hoạt động tài chính 0 0 - Chi phí tài chính 67 76 - Chi phí bán hàng 310 377 - Chi phí quản lí doanh nghiệp 335 423 =Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh 413 372 + Thu nhập khác 0 0 - Chi phí khác 0 0 Lợi nhuận khác 0 0 = Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 413 372 - Thuế TNDN 97 83 = Lợi nhuận sau thuế TNDN 249 213 - Trả cổ tức 149 128 = Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối 100 85 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh điều chỉnh Với mục đích tìm hiểu sâu tác động của các chức năng quản trị đến kết quả kinh doanh chung của doanh nghiệp, trong phạm vi giáo trình này, chúng tôi có một số điều chỉnh trong Chương 3 – Phân tích tài chính 69 báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và lập nên một báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh điều chỉnh. (Bảng 3.3) Bảng 3-3. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh điều chỉnh Đơn vị báo cáo: CÔNG TY HẢI VÂN BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Năm 20x4 và 20x5 Đơn vị tính: triệu đồng 20X4 20X5 Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ 3.728 3.992 Giá vốn hàng bán 2.550 2.680 Lợi nhuận gộp về BH và CCDV 1.178 1.312 Hiệu quả hoạt động sản xuất và chính sách định giá và phát triển thị trường Chi phí bán hàng 310 377 Chi phí quản lí doanh nghiệp 335 423 Khấu hao 120 140 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh 413 372 Hiệu quả khả năng khai thác quy mô và kiểm soát chi phí Thu nhập khác 0 0 Chi phí khác 0 0 Lợi nhuận khác 0 0 Lợi nhuận kế toán trước thuế và lãi 413 372 Doanh thu từ hoạt động tài chính 0 0 Chi phí tài chính 67 76 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 346 296 Thuế TNDN 97 83 Lợi nhuận sau thuế TNDN 249 213 Hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính, biện pháp tài trợ và vị trí thuế Trả cổ tức 149 128 Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối 100 85 Thứ nhất, khấu hao được tách riêng ra khỏi chi phí hàng bán. Vì khấu hao thực chất là một khoản chi phí thời kỳ và được thừa nhận trên phương diện thuế, do vậy, khấu hao nên được tách ra khỏi giá vốn hàng bán và đưa vào các chi phí hoạt động, bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lí doanh nghiệp. Như thế, các chi phí trong khối này phản ánh một thực tế là nó phần nào độc lập với doanh số mỗi thời kỳ. Thứ hai, chi phí và doanh thu hoạt động tài chính tách ra kh ỏi chi phí hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp. Phần tách ra này được đặt sau lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh. Chúng ta biết rằng, chi phí tài chính là phần trả cho các chủ nợ sau khi đã trang trải các chi phí hoạt động kinh doanh. Doanh thu từ các hoạt động tài chính trong chừng mực nào đó độc lập với những hoạt động kinh doanh đang diễn ra trong chính bản thân doanh nghiệp, khi tách riêng hoạt động này ra chúng ta sẽ có cách nhìn chi tiết hơn về các hoạt độ ng kinh doanh đang thực sự tiến hành tại doanh nghiệp. Biết rằng trên thực tế các hoạt động tài chính làm thay đổi hiệu suất chung của doanh nghiệp, song việc tách riêng phần doanh thu này ra không làm thay đổi những kết luận cuối cùng về hiệu suất của nó. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh điều chỉnh sẽ được sử dụng để thực hiện việc phân tích trong toàn bộ chương này cũng như chương l ập kế hoạch tài chính. Tóm lại, các bước điều chỉnh phân tích không làm thay đổi ý nghĩa của báo cáo kết quả 70 kinh doanh, nhưng việc chi tiết hóa các khoản thu và chi sẽ làm cho phân tích cụ thể hơn. Với những điều chỉnh này, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh nên được đọc theo các khía cạnh sau:  Trên phương diện thuế, báo cáo kết quả kinh doanh được chia ra thành hai bộ phận lớn: Các khoản thu chi trước thuế và các khoản sau thuế. Điều đặc biệt quan trọng đối với các nhà tài chính là sự ảnh hưởng của thuế lên các quyế t định tài chính của họ. Vì vậy, cần phải phân biệt bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trước thuế và sau thuế. Từ vị trí tính thuế trở lên là những khoản thu trước thuế và những khoản chi được chấp nhận trên phương diện thuế. Tất cả những khoản chi không có mặt ở phần thứ nhất này đều là những khoản chi không được chấp nhận trên phương diện thuế .  Trên phương thể hiện ảnh hưởng của các hoạt động kinh doanh, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có thể được chia thành ba phần. Phần thứ nhất từ doanh thu thuần đến lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh, phần này sẽ thay đổi tùy thuộc vào các chính sách định giá, các hoạt động thị trường, và đặc biệt là hiệu suất của hoạt động sản xuất. Phần kế tiế p cho đến lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh bao gồm thêm các khoản chi phí không hoặc ít ảnh hưởng trực tiếp đến doanh số. Do đó, độ lệch của hai phần này có thể phản ánh hiệu quả của việc khai thác quy mô. Cuối cùng là phần ảnh hưởng của các hoạt động tài chính bao gồm các hoạt động đầu tư tài chính, các biện pháp tài trợ và vị trí thuế của doanh nghiệp. Nắm vững ý nghĩa các ph ần, các khu vực của báo cáo tài chính là bước đầu tiên rất quan trọng tạo nên những hình dung của người phân tích về những gì đã, đang và sẽ diễn ra trong doanh nghiệp được thể hiện trên đó. Tuy nhiên, khi sử dụng các thông tin kế toán để phân tích các hoạt động quản trị, chúng ta cần nhận rõ một số hạn chế của loại thông tin này. 3.3 PHÂN TÍCH THÔNG SỐ TÀI CHÍNH Để đánh giá điều kiện và hiệu quả tài chính của một công ty, nhà phân tích tài chính cần kiểm tra nhiều phương diện khác nhau trong sức khỏe tài chính của chúng. Công cụ được sử dụng phổ biến là thông số tài chính. Thông số tài chính là sự kết nối hai dữ liệu tài chính bằng cách chia một số này cho một số khác. Vậy tại sao phải nghiên cứu thông số? Tại sao chúng ta không nhìn đơn thuần vào các số liệu thô? Bởi theo theo cách này, chúng ta có một cơ s ở so sánh hữu ích hơn so với số liệu thô. Chẳng hạn, một công ty có lợi nhuận sau thuế TNDN trong năm nay là 100 triệu đồng. Con số này cho chúng ta một cảm nhận là công ty hoạt động rất có lời. Tuy nhiên, nếu số tiền lời đó kiếm được từ 10 tỷ đồng vốn đầu tư thì con số này nói lên điều gì? Chia lợi nhuận sau thuế TNDN cho tổng tài sản, chúng ta có 100 triệu/10.000 triệu đồng, bằng 1 phầ n trăm thu nhập trên tổng tài sản. Con số 1 phần trăm ở đây có nghĩa là mỗi đồng tài sản đầu tư vào công ty chỉ có thể tạo ra được 1 phần trăm đồng lợi nhuận. Như vậy, gởi tiền tiết kiệm ở ngân hàng có thể đem lại một tỷ suất sinh lợi trên đầu tư cao hơn trong khi rủi ro lại thấp hơn nhiều so với tỷ su ất từ đầu tư vào công ty này. Trong ví dụ này, thông số trên chứa đựng rất nhiều thông tin. Tuy nhiên, bạn phải cẩn thận trong việc lựa chọn và dịch nghĩa các thông số. Một số thông số sẽ không có ý nghĩa, chẳng hạn như lấy hàng tồn kho chia cho thặng dư vốn cổ Chương 3 – Phân tích tài chính 71 phần thì bạn sẽ có một thông số nhưng bạn sẽ gặp rắc rối khi cố gắng hiểu ý nghĩa của thông số này. 3.3.1 Các thông số tài chính Về cơ bản, có bốn nhóm thông số tài chính như sau:  Thông số khả năng thanh toán  Thông số nợ (thông số đòn bẩy) và khả năng trang trải  Thông số khả năng sinh lợi  Thông số thị trườ ng Trước hết, cần lưu ý rằng không có một thông số nào có thể cung cấp đầy đủ thông tin để có thể đánh giá một cách chính xác về điều kiện và hiệu quả tài chính của công ty. Thật vậy, chỉ khi phân tích một nhóm các thông số thì mới có thể đưa ra những đánh giá phù hợp. Ngoài ra, phân tích còn phải tính đến yếu tố mùa vụ của doanh nghiệp. Các xu hướng bên trong có thể được đánh giá bằng cách so sánh các con số thô và các thông số tạ i cùng một thời điểm trong năm qua các năm. Mặc dù nguồn dữ liệu tài chính ngày càng nhiều, thông số tài chính cũng ngày càng nhiều hơn nhưng trong chương này chúng ta chỉ xem xét những thông số quan trọng. Chúng ta sẽ áp dụng để tính các thông số tài chính của năm 20X5 cho công ty Hải Vân. a - Thông số khả năng thanh toán Theo từ điển quản lý tài chính ngân hàng, khả năng thanh toán là khả năng của một tài sản có thể nhanh chóng chuyển thành tiền 1 . Thông số khả năng thanh toán đo lường khả năng của doanh nghiệp trong việc sử dụng các tài sản nhanh chuyển hóa thành tiền để đối phó với các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn. Với ý nghĩa đó, chúng ta so sánh các nghĩa vụ nợ ngắn hạn với các nguồn lực ngắn hạn đang sẵn sàng cho việc đáp ứng các nghĩa vụ này. Đồng thời, chúng ta cũng xem xét mối tương quan giữa m ột bên là tài sản có tính sinh lợi thấp, có thể chuyển hóa nhanh thành tiền và một bên là các khoản nợ với phí tổn thấp nhưng người đi vay phải thường xuyên đối phó với việc thanh toán các khoản nợ đến hạn. Với các thông số này, người ta có thể đánh giá khả năng thanh toán và khả năng duy trì hoạt động thanh toán trong trường hợp bất trắc. Có hai thông số cơ bản để đánh giá khả năng thanh toán là thông số khả năng thanh toán hiện thời và thông số khả năng thanh toán nhanh. Khả năng thanh toán hiện thời Một trong những thông số phổ biến và được sử dụng nhiều nhất để đo lường khả năng thanh toán là thông số khả năng thanh toán hiện thời. Khả năng thanh toán hiện thời bằng tổng tài sản ngắn hạn chia cho tổng nợ ngắn hạn. Thông số này cho biết khả năng c ủa công ty trong việc đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn. Thông số này nhấn mạnh đến khả năng chuyển hóa thành tiền mặt của các tài sản ngắn hạn trong tương quan với các khoản nợ ngắn hạn. 1 Từ điển Quản lý tài chính ngân hàng, Pierre Conso, Robert Lavaud, Bernard Colasse, Jean Louis Foussé, Georges Nordmann, Roger Bataille, Nhà xuất bản ngoài văn, viện tiền tệ tín dụng, 1991, trang 240. . cổ phiếu của công ty. 3.1 MỤC TIÊU, KHUÔN KHỔ VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH 3.1.1 Mục tiêu của phân tích tài chính Phân tích tài chính là. dụng và đánh giá về công ty. Tóm lại, hình th ức và nội dung phân tích tài chính thay đổi tùy thuộc vào mối quan tâm của nhà phân tích. 3.1.2 Khuôn khổ phân

— Xem thêm —

Xem thêm: MỤC TIÊU, KHUÔN KHỔ VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH, MỤC TIÊU, KHUÔN KHỔ VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH, MỤC TIÊU, KHUÔN KHỔ VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH

Lên đầu trang

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.110962152481 s. Memory usage = 13.98 MB