CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

Mirumiru
Mirumiru(5618 tài liệu)
(66 người theo dõi)
Lượt xem 2004
9
Tải xuống 8,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 29 | Loại file: DOC
2

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 30/10/2012, 14:16

Mô tả: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG Chuyên đề tiền tệ Ngân hàng GVHD:Lê Long HậuBÀI BÁO CÁO NHÓM 6CHUYÊN ĐỀ 6CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNGCÁC THÀNH VIÊN:Họ và tên MSSV:1.Trần Thị Ngọc Hằng 40617802.Cao Thị Cẩm Thi 40618303.Trương Trúc Giang 40617774.Phan Thị Hồng Nhan 40618105.Lê Thị Đề Xa 40741726.Nguyễn Văn Vũ An 40660967.Triệu Phi Long 4074089NỘI DUNG BÁO CÁOChương 1: Các loại chính sách tiền tệChương 2: Các công cụ của chính sách tiền tệ.Mối quan hệ giữa các công cụ với nhauChương 3: Việc vận dụng các công cụ này vào tình hình thực tế ở Việt Nam trong thời gian qua và hiện nayChương 4: Sự liên quan giữa các chính sách tiền tệ quốc gia với đồng bản tệ và các đồng tiền khácChương 5:Vai trò của Ngoại hối trong việc thực thi chính sách tiền tệ quốc giaChương 6: Tìm hiểu cõ chế điều hành tỷ giá của Trung Quốc hiện nay 1 Chuyên đề tiền tệ Ngân hàng GVHD:Lê Long HậuCHƯƠNG 1CÁC LOẠI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ1.Chính sách tài chính:Chính sách tài chính (chính sách tài khóa) trong kinh tế học vĩ mô là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu tư công cộng để tác động tới nền kinh tế. Chính sách tài chính cùng với chính sách tiền tệ là các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô quan trọng.Hai nội dung quan trọng của chính sách tài chính quốc gia gồm:+ Chính sách tạo và sử dụng vốn trong nền kinh tế+ Chính sách tạo cơ sở điều hòa thu nhập (thuế và chi ngân sách)2. Chính sách tiền tệ:2.1. Khái niệm:Chính sách lưu thông tiền tệ hay chính sách tiền tệ là quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay ngân hàng trung ương để đạt được những mục đích đặc biệt- như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế. Chính sách lưu thông tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thể trực tiếp hay gián tiếp thông qua các nghiệp vụ thị trường mở; qui định mức dự trữ bắt buộc; hoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối.Về nội dung chính sách tiền tệ gồm hai vấn đề:- Việc xây dựng hệ thống các mục tiêu của chính sách.- Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ nhằm đạt mục tiêu.2.2. Phân loại:- Chính sách mở rộng tiền tệ: áp dụng trong điều kiện nền kinh tế bị suy thoái, nạn thất nghiệp gia tăng. Trong tình hình này, chính sách nớ lỏng tiền tệ làm tăng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế, mở rộng đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động.- Chính sách thắt chặt tiền tệ: áp dụng khi nền kinh tế có sự phát triển thái quá, đồng thời lạm phát ngày càng gia tăng. Chính sách thắt chặt tiền tệ làm giảm lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế, nhằm để chống lạm phát. 2 Chuyên đề tiền tệ Ngân hàng GVHD:Lê Long Hậu2.3. Những mục tiêu của chính sách tiền tệ:2.3.1. Mục tiêu về tiền tệ:Mục tiêu tiền tệ là một hệ thống các mục tiêu về phương diện tiền tệ, cần đạt được đó là: - Điều hòa khối tiền tệ: là giữ vững mối quan hệ cân đối giữa tiền và hàng. Nguyên tắc chung để đạt được mục tiêu này là giữ nguyên, tăng hay giảm khối tiền tệ tùy theo tình hình các nền kinh tế tăng trưởng hay suy thoái.- Kiểm soát tổng số thanh toán bằng tiền: việc kiểm soát giá cả thiếu cơ sở vững chắc vì ngoài yếu tố khối tiền tệ (M) còn có yếu tố tốc độ lưu thông tiền tệ (V) tác động đến vật giá. Bởi vậy cần thiết phải kiểm soát tổng số thanh toán hay tổng số lượng tiền tệ dùng để chi trả trong các cuộc giao dịch và trong một khoảng thời gian nhất định.- Bảo vệ giá trị quốc nội của đồng tiền: Chính sách tiền tệ phải nhằm vào mục tiêu ổn định giá nói chung. Sự gia tăng hay sụt giảm quá mức của vật giá điều có tác hại đến sự ổn định giá trị quốc nội của đồng tiền và là biểu hiện của sự thăng trầm kinh tế.- Ổn định giá trị quốc ngoại của đồng tiền: Sự biến động của tỷ giá sẽ ảnh hưởng đến sức mua của đông tiền, từ đó tác động ít hay nhiều đến hoạt động của nền kinh tế tùy theo mức độ hướng ngoại của nền kinh tế đó.2.3.2. Mục tiêu kinh tế:• Tăng trưởng kinh tế: sự tăng trưởng kinh tế thông qua hai yếu tố: lãi suất và số cầu tổng quát. Khối tiền tệ tăng hay giảm đều có tác động mạnh đến lãi suất và số cầu tổng quát, từ đó tác động đến sự gia tăng đầu tư sản xuất và cuối cùng là tác động lên tổng sản lượng quốc gia, tức là tác động lên sự tăng trưởng của nền kinh tế. Bởi vậy chính sách tiền tệ phải nhằm vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế thông qua việc tăng hay giảm khối tiền tệ thích hợp.• Giảm thiểu những thăng trầm chu kỳ kinh tế:+ Mở rộng khối tiền tệ trong giai đoạn suy thoái để sớm chuyển sang giai đoạn phát triển.+ Điều tiết khối tiền tệ để đảm bảo vừa chống lạm phát vừa không xảy ra tình trạng ngưng trệ. 3 Chuyên đề tiền tệ Ngân hàng GVHD:Lê Long Hậu+ Sớm chuyển sang giai đoạn tăng trưởng kinh tế với một tỷ lệ lam phát có thể chấp nhận được.Mối quan hệ giữa các mục tiêu của chính sách tiền tệ:- Giảm lạm phát và thất nghiệp.- Ổn định giá cả.- Điều chỉnh tỷ giá.2.4. Các khó khăn của Chính sách Tiền tệ trên Thực tế:Trên thực tế, có rất nhiều khó khăn tiềm tàng đối với việc thực hiện chính sách tiền tệ.- Như chúng ta đã thấy, cung ứng tiền bao gồm cả các khoản tiền gửi ngân hàng, mà nó được quyết định một phần bởi hoạt động của ngân hàng trung ương, và một phần do quyết định của các hộ gia dình/doanh nghiệp và ngân hàng. Do đó, sự thay đổi trong cung ứng tiền có thể không chính xác như ngân hàng mong muốn.- Thứ hai, có một loạt độ trễ trong việc thực thi chính sách tiền tệ, điều này có nghĩa là có thể mất đến 18 tháng để áp dụng được chính sách tiền tệ cho toàn bộ nền kinh tế - điều này có thể đến quá trễ! Ví dụ, ngân hàng trung ương có thể giảm lãi suất, nhưng các dự án đầu tư cần thời gian để xây dựng và thực hiện, và các nhà máy có thể không hình thành và hoạt động trong khoảng thời gian mong muốn.- Thứ ba, chính sách tiền tệ sẽ tác động đến giá cả, và điều này có thể có tác động cản trở đến chính sách tiền tệ. Ví dụ, nếu chúng ta đạt đến mức có đầy đủ việc làm, một chính sách tiền tệ tăng lên sẽ làm tăng mức giá cả, và có ảnh hưởng nhỏ đến GDP thực tế và mức giá. 4 Chuyên đề tiền tệ Ngân hàng GVHD:Lê Long HậuCHƯƠNG 2CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CÔNG CỤ1. Các công cụ của chính sách tiền tệ: Gồm có 6 công cụ• Công cụ tái cấp vốn: là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối với các Ngân hàng thương mại. Khi cấp 1 khoản tín dụng cho Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo cơ sở cho Ngân hàng thương mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ.- Ưu điểm: các khoản vay của ngân hàng trung ương đảm bảo thu về được.- Nhược điểm: việc vay hay không vay phụ thuộc vào các ngân hàng thương mại. • Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc: là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô hiệu hóa trên tổng số tiền gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toan (cho vay) của các Ngân hàng thương mại. - Ưu điểm: NHTW nắm được khối lượng tín dụng mà các NHTM và các tổ chức tín dụng khác cung cấp và có khả năng cung cấp cho nền kinh tế do đó NHTW có thể tác động trực tiếp đến khối lượng tín dụng bằng cách tăng hay giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc.- Nhược điểm: Hạn chế khả năng sinh lời của đồng tiền.• Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ. - Ưu điểm: NHTW tác động trực tiếp đến dự trữ của các NHTM, buộc các NHTM phải gia tăng hay giảm khối lượng tín dụng.- Nhược điểm: Biện pháp này chỉ thực hiện được trong điều kiện các khoản tiền trong lưu thông đều nằm tại các NHTM.• Công cụ lãi suất tín dụng: đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất.Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách 5 Chuyờn tin t Ngõn hng GVHD:Lờ Long Huv gii phỏp c th ca Ngõn hng Trung ng nhm iu tit lói sut trờn th trng tin t, tớn dng trong tng thi k nht nh.- u im: NHTW cú th tỏc ng trc tip n cỏc d ỏn u t bng cỏc iu kin tớn dng.- Nhc im: Lói sut c n nh cú th khụng phự hp vi nn kinh t, gõy khú khn cho vic thc hin cỏc d ỏn ng thi tớnh linh hot ca th trng tin t s b suy gim. Cụng c hn mc tớn dng: l 1 cụng c can thip trc tip mang tớnh hnh chớnh ca Ngõn hng Trung ng khng ch mc tng khi lng tớn dng ca cỏc t chc tớn dng. Hn mc tớn dng l mc d n ti a m Ngõn hng Trung ng buc cỏc Ngõn hng thng mi phi chp hnh khi cp tớn dng cho nn kinh t. - u im: Cú th k hoch mt cỏch chc chn khi lng tin trong lu thụng.- Nhc im: Thiu linh hot khi tỡnh hỡnh bin ng v ch thc hin c trong c ch k hoch húa tp trung. T giỏ hi oỏi: T giỏ hi oỏi l tng quan sc mua gia ng ni t v ng ngoi t. Nú va phn ỏnh sc mua ca ng ni t, va l biu hin quan h cung cu ngoi hi. T giỏ hi oỏi l cụng c, l ũn by iu tit cung cu ngoi t, tỏc ng mnh n xut nhp khu v hot ng sn xut kinh doanh trong nc. Chớnh sỏch t giỏ tỏc ng mt cỏch nhy bộn n tỡnh hỡnh sn xut, xut nhp khu hng húa, tỡnh trng ti chớnh, tin t, cỏn cõn thanh toỏn quc t, thu hỳt vn du t, d tr ca t nc. V thc cht t giỏ khụng phi l cụng c ca chớnh sỏch tin t vỡ t giỏ khụng lm thay i lng tin t trong lu thụng. Tuy nhiờn nhiu nc, c bit l cỏc nc cú nn kinh t ang chuyn i coi t giỏ l cụng c h tr quan trng cho chớnh sỏch tin t. Các công cụ CSTT đang áp dụng của NHNN Việt Nam Dự tr bắt buộc Lãi suất (Lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cơ bản) Chính sách tái cấp vốn. Hoạt động thị trờng mở Tỷ giá hối đoái 6 Chuyên đề tiền tệ Ngân hàng GVHD:Lê Long Hậu2. Mối quan hệ giữa các công cụ của chính sách tiền tệ:Để hiểu rõ mối quan hệ này ta xem xét trường hợp Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách Thắt chặt tiền tệ để giảm lượng tiền nội tệ đang lưu thông và ta giả sử NHTW thực hiện tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc khi đó lãi suất huy động của Ngân hàng tăng lên, như vậy người dân sẽ có xu hướng đi gởi tiền tiết kiệm ở Ngân hàng thay vì đầu tư vào trái phiếu hay tín phiếu. Mặt khác, theo diễn biến đó lượng tiền mặt ngoài lưu thông sẽ giảm đi tạo áp lực tăng giá đồng nội tệ và làm tỷ giá hối đoái giảm.VD: Trong năm 2007, mục tiêu duy trì mức giảm giá đồng tiền một vài phần trăm, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu trở nên khó khăn hơn khi mà lượng ngoại tệ chảy vào Việt Nam gia tăng mạnh mẽ do sự bùng nổ của thị trường chứng khoán và các dòng vốn khác được khai thông tốt hơn. Đồng Việt Nam không những không giảm mà còn có dấu hiệu tăng giá so với đồng Đôla, gây bất lợi cho xuất khẩu. Thêm vào đó, nhập khẩu trong quí 1 lại tăng đột biến (cho dù chủ yếu là nhập khẩu máy móc thiết bị và nguyên vật liệu cho sản xuất) đã làm cho thâm hụt cán cân ngoại thương trở nên trầm trọng hơn. Đứng trước áp lực nêu trên, cộng với việc mong muốn gia tăng số lượng ngoại tệ dự trữ phòng khi bất trắc xảy ra, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tung tiền đồng để mua vào một lượng lớn ngoại tệ mà theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, chỉ trong quí 1, dự trữ ngoại hối của Việt Nam tăng khoảng 3 tỉ Đôla, tương đương với gần 50.000 tỉ đồng được đưa vào lưu thông. Có lẽ nhờ việc mua vào ngoại tệ mà trong những ngày đầu tháng 6/2007, tỷ giá đồng Việt Nam so với đồng Đôla đã tăng trở lại lên mức trên 16.100, thay vì chỉ quanh con số 16.000 như thời gian trước. Việc gia tăng ngoại tệ cho dự trữ quốc gia là điều cần thiết, nhưng việc bơm thêm một lượng lớn tiền đồng vào nền kinh tế sẽ làm áp lực lạm phát gia tăng, khi mà mới năm tháng đầu năm chỉ số giá tiêu dùng trong nước đã tăng 7,3% so với cùng kỳ năm ngoái (WB 2007). Điều này làm cho mục tiêu khống chế mức tăng giá trong năm 2007 ở con số 6,5% trở nên khó khăn hơn. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Ngân hàng Nhà nước đang gặp thử thách. Để giảm bớt áp lực gia tăng của chỉ số giá trong thời gian còn lại của năm 2007, chỉ có cách rút bớt tiền ra khỏi nền kinh tế. Tăng dự trữ bắt buộc là giải pháp được 7 Chuyên đề tiền tệ Ngân hàng GVHD:Lê Long Hậulựa chọn. Với việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tiền gửi bằng đồng Việt Nam từ 5% lên 10% thì theo ước tính sẽ có khoảng 40.000-50.000 tỉ đồng, tương đương với số tiền bỏ ra để mua 3 tỉ Đôla nêu trên, quay trở lại kho của Ngân hàng Nhà nước. Như vậy, với hai biện pháp can thiệp được đưa ra, ít nhất ba mục tiêu đã đạt được gồm: đảm bảo mục tiêu ổn định tỷ giá, tăng được lượng dự trữ ngoại hối quốc gia nhưng lại không gây áp lực lạm phát vì tiền chảy vào đã được đem cất trong “két” nên chẳng có điều gì xảy ra cả! Bất kì chính sách tiền tệ nào của ngân hàng trung ương cũng dẫn đến hậu quả nhất định và để giải quyết hậu quả đó NHTW thường chọn một gói chính sách gồm nhiều công cụ và dĩ nhiên các công cụ này có mối liên hệ với nhau.3. Một số điểm cần lưu ý khi vận dụng các công cụ của chính sách tiền tệ cùng một lúc:Việc sử dụng đồng thời nhiều công cụ điều hành chính sách tiền tệ là việc làm bình thường, trên lý thuyết và cả thực tiễn, cũng không có nguyên tắc nào quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, thị trường là nơi rất nhạy cảm và nó chính là nơi phản ánh sức sống của nền kinh tế.Vì thế, cần phải hết sức thận trọng đối với mỗi quyết định liên quan đến sự vận động của tiền tệ, trước khi vận hành phải quan sát kỹ diễn biến, dự kiến được những phản ứng có thể của thị trường để cân nhắc về loại công cụ sử dụng, về mức độ cần thiết, về liều lượng cũng như cách thức vận hành mỗi công cụ và luôn tránh những giải pháp sốc - giải pháp có thể dồn các ngân hàng vào những tình huống nguy hiểm. Lãi suất là công cụ linh hoạt, đáng được cân nhắc để sử dụng nhất.Có thể nói, trong các loại lãi suất thì lãi suất thị trường liên ngân hàng sẽ phát ra tín hiệu phù hợp nhất, lãi suất này không chỉ chịu sự chi phối của cung cầu vốn mà còn chịu ảnh hưởng, tác động của lãi suất chỉ đạo phát ra từ NHNN: lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu. Lãi suất thị trường liên ngân hàng đặc biệt phát huy tác dụng trong điều kiện khó khăn về thanh khoản của các NHTM. Thay đổi quan điểm về chi phí phải trả cho việc điều hành chính sách tiền tệ. Để đạt được mục tiêu đặt ra kể cả mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ đều có những cái giá phải trả - đó là những chi phí, những tốn kém cần thiết. Không thể đơn giản cho rằng dự trữ bắt buộc thì không phải trả lãi suất 8 Chuyên đề tiền tệ Ngân hàng GVHD:Lê Long Hậuhay mua bán giấy tờ có giá trên thị trường mở thì nhất thiết phải có chênh lệch (lợi nhuận) . Việc điều chỉnh tăng lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc thời gian gần đây cũng là sự thay đổi đáng kể về quan điểm. Còn đối với công cụ thị trường mở, khi thực hiện việc mua bán giấy tờ có giá trên thị trường này cũng chính là lúc NHNN thực hiện việc sử dụng công cụ thị trường mở để đạt mục tiêu của chính sách tiền tệ chứ không phải để kinh doanh, vì thế, trong nhiều tình thế bắt buộc, NHNN phải sử dụng cơ chế giá để điều tiết bằng cách đặt giá cao lên để mua cho được - nếu muốn phát hành tiền vào lưu thông và ngược lại, định giá thấp xuống để bán cho được - nếu muốn hút tiền từ lưu thông về. Như vậy, mặc dù là người định giá nhưng có lúc NHNN cũng vẫn phải mua giá cao và bán giá thấp - đó là một loại chi phí buộc phải trả. Ngoại tệ mua vào cần phải được sử dụng có hiệu quả. Ngoại tệ cần phải được tập trung vào tay Nhà nước để sử dụng hiệu quả cho những nhu cầu chính đáng của quốc gia và hạn chế tình trạng đôla hoá nền kinh tế, cho nên dù không hành chính hoá vấn đề này, song, nếu doanh nghiệp, cá nhân nào có nhu cầu bán ngoại tệ là ngân hàng không được từ chối. Tất nhiên, NHTM thì mua của doanh nghiệp, của dân; NHNN thì mua lại của các NHTM. Việc làm đó đồng nghĩa với phát hành tiền vào lưu thông, vấn đề sẽ trở nên bình thường nếu như nguồn ngoại tệ được sử dụng một cách có hiệu quả, tạo ra nguồn hàng đảm bảo sự cân đối với số lượng VND đã phát ra. Vì thế, một mặt, khi phát hành tiền đồng mua ngoại tệ phải luôn đi kèm với giải pháp hút tiền đồng về - sử dụng công cụ thị trường mở, công cụ lãi suất . Ngoài ra, vấn đề quản lý quỹ dự trữ ngoại hối của Nhà nước cũng phải được quan tâm, phải tập trung về một mối đó là NHNN - đại diện cho Nhà nước trong việc điều hành chính sách tiền tệ. Ngoại tệ là của quốc gia, không vì lợi ích riêng mà để phân tán rải rác gây khó khăn cho việc điều hành chính sách tiền tệ và cũng cản trở việc quản lý và sử dụng chúng một cách hiệu quả.CHƯƠNG 3 9 Chuyên đề tiền tệ Ngân hàng GVHD:Lê Long HậuVẬN DỤNG CÁC CÔNG CỤ NÀY VÀO TÌNH HÌNH THỰC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA VÀ HIỆN NAY1. Chính sách tiền tệ của NHTW trong thời gian qua: Giai đoạn từ 1998 đến 2007: để đạt mục tiêu tăng trưởng - mục tiêu được xếp hàng đầu trong nhiều năm liền, chính sách tiền tệ đã được nới lỏng liên tục theo hướng: lãi suất ổn định (từ 01/12/2005 - 01/02/2008, lãi suất cơ bản luôn giữ ở mức 8,25%/năm), tỷ giá cũng ổn định nhưng tín dụng thì mở rộng. Trong thời gian 10 năm, từ năm 1998 đến hết năm 2007, bình quân tốc độ tăng trưởng tín dụng hàng năm khoảng 25%, riêng năm 2007, con số này đạt kỷ lục (cao nhất trong 10 năm) là 37,8%. Bên cạnh họat động tín dụng, tiền còn được đưa vào lưu thông qua đường chi tiêu ngân sách, thu mua ngoại tệ… Vì vậy, đã đẩy tổng phương tiện thanh toán mỗi năm tăng thêm hơn ¼ số tiền của năm trước (từ 1996 đến hết năm 2007 tổng phương tiện thanh toán tăng thêm bình quân năm là 26,2%, riêng năm 2007 con số này là 37%) trong khi bình quân mỗi năm GDP chỉ tăng lên khoảng 7,2% (GDP từ 1997 đến hết năm 2007 tăng bình quân năm là: 7,2%). Suốt khoảng thời gian dài, khoảng cách giữa tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tốc độ tăng GDP luôn ở mức trên dưới 20%, mà trong đó, tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán luôn ở biên độ cao hơn so với GDP. Qua đó cho thấy, cũng trong suốt thời gian ấy, rất nhiều tiền đã được đưa vào lưu thông nhưng đã không tạo ra một lượng GDP tương ứng. Mà có lẽ thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán trong những năm qua đã trở thành kênh dẫn cho lượng tiền đó và vì thế, cho đến khi hai thị trường này bị thắt lại, lượng tiền thừa thực sự phát huy tác dụng - nếu không lạm phát mới là hiện tượng lạ (thị trường bất động sản bắt đầu phát triển từ những năm 1997, 1998 và mạnh mẽ nhất vào năm 2007. Còn thị trường chứng khoán mới có sức hút tiền trong khoảng 3 năm gần đây). Biều đồ: Tốc độ tăng cung tiền và GDP của 3 nước, lấy mốc năm 2004 bằng 100%, cung tiền đo bằng M2 10 . đề tiền tệ Ngân hàng GVHD:Lê Long HậuCHƯƠNG 1CÁC LOẠI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ1 .Chính sách tài chính: Chính sách. niệm :Chính sách lưu thông tiền tệ hay chính sách tiền tệ là quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay ngân hàng trung ương để đạt được những mục

— Xem thêm —

Xem thêm: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

Lên đầu trang

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.13002896308899 s. Memory usage = 17.66 MB