TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG GIẢNG DẠY HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

tailieuhay_689
tailieuhay_689(15440 tài liệu)
(2 người theo dõi)
Lượt xem 59
5
Tải xuống
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 18 | Loại file: DOC
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 20/10/2013, 02:15

Mô tả: TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG GIẢNG DẠY HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG I.SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC GDBVMT TRONG GIẢNG DẠY HÓA HỌC Ở THPT 1.Ô nhiễm môi trường là gì? ÔNMT là làm thay đổi tính chất của MT, vi phạm tiêu chuẩn MT, làm thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp tới các đặc tính vật lí, hóa học, sinh học… của bất kì thành phần nào trong MT. Chất gây ô nhiễm chính là nhân tố làm cho MT trở nên độc hại hoặc có tiềm ẩn nguy cơ gây độc hại, nguy hiểm đến sức khỏe con người và sinh vật trong MT đó. 2.Tại sao cần tích hợp GDBVMT vào trong giảng dạy Hóa học ở trường THPT? MT hiện tại đang có những thay đổi bất lợi cho con người, đặc biệt là những yếu tố mang tính chẩt tự nhiên như là đất, nước, không khí, hệ động thực vật. Tình trạng môi trường thay đổi và bị ÔN đang diễn ra trên phạm vi mỗi quốc gia cũng như trên toàn cầu. Chưa bao giờ MT bị ÔN nặng như bây giờ, ÔNMT đang là vấn đề nóng hổi trên toàn cầu. Chính vì vậy việc GDBVMT nói chung, bảo vệ thiên nhiên, tài nguyên đa dạng sinh học nói riêng, là vấn đề cần thiết, cấp bách và bắt buộc (1) khi giảng dạy trong trường Phổ thông, đặc biệt với bộ môn Hóa học thì đây là vấn đề hết sức cần thiết. Vì nó cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản về MT, sự ÔNMT… tăng cường sự hiểu biết về mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với tự nhiên trong sinh hoạt và lao động sản xuất, góp phần hình thành ở HS ý thức và đạo đức mới đối với MT, có thái độ và hành động đúng đắn để BVMT. Vì vậy, GDBVMT cho học sinh là việc làm có tác dụng rộng lớn nhất, sâu sắc và bền vững nhất. II.PHƯƠNG THỨC TÍCH HỢP GDBVMT VÀO BỘ MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT 1.Xác định hệ thống kiến thức GDBVMT trong môn Hóa học. Hệ thống kiến thức GDMT ở trường PTTH ở nước ta hiện nay tập trung chủ yếu vào các môn học có liên quan đến môi trường nhiều như Hóa học, sinh học, địa lí, kĩ thuật nông nghiệp, công nghiệp, vệ sinh học đường, đạo đức… Nội dung kiến thức GDMT trong bộ môn Hóa học - Phần đại cương: cung cấp cho HS một số kiến thức, các khái niệm, các quá tình biến hóa, các hiệu ứng mang tính chất hóa học của môi trường: môi trường là gì, chức năng của MT, bản chất hóa học trong sinh thái, hệ sinh thái, quan hệ giữa con người và MT, ÔNMT… - Phần nội dung ÔNMT: phân tích bản chất hóa học của sự ÔNMT, bản chất hóa học của hiệu ứng nhà kính, lỗ thủng tầng ozon, khói mù quang học, mưa axit, hiệu ứng hóa sinh của NO x , H 2 S, SO x …, các kim loại nặng và một số độc tố khác, tác động của chúng tới MT… - Một số nội dung về: đô thị hóa và MT, một số vấn đề toàn cầu (trái đất nóng lên, suy giảm tầng ozon, Elnino, LaNina ) suy giảm sự đa dạng sinh học, dân số - MT và sự phát triển bền vững, các biện pháp bảo vệ MT, luật BVMT, chủ trương chính sách của Đảng - nhà nước về BVMT… 2.Phương thức tích hợp GDBVMT là GD tổng thể nhằm trang bị những kiến thức về MT cho HS thông qua môn hóa học sao cho phù hợp với từng đối tượng, từng cấp học. Việc đưa kiến thức GDBVMT vào hóa học thuận lợi và hiệu quả nhất là hình thức tích hợp và Lồg ghép. a.Tích hợp Tích hợp là cách kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức hóa học với kiến thức BVMT một cách hài hòa, thống nhất. Ví dụ khi giảng về bài “Lưu huỳnh, khí H 2 S, một số oxit của lưu huỳnh”, song song với việc giảng dạy về các kiến thức về tính chất lí hóa, phương pháp điều chế…, GV cần phải biết khai thác các kiến thức có liên quan đến MT như việc gây ÔNMT khí quyển. Có thể cung cấp cho HS một số thông tin như: người ta ước tính các chẩt hữu cơ trên Trái đất sinh ra khoảng 31 triệu tấn H 2 S, mà sự oxi hóa tiếp theo sinh ra SO 2 . Các hoạt động gây ÔNMT không khí bởi SO 2 vẫn giữ vị trí hàng đầu. Qua đó có thể nêu các biện pháp xử lí đơn giản đối với không khí bị ô nhiễm chứa lưu huỳnh. Hoặc khi dạy bài “phân bón hóa học” GV nên hình thành cho HS ý thức BVMT thông qua nội dung bài, cần phân tích cho HS việc sử dụng không hợp lí phân bón, quá liều lượng có thể gây ÔN đất, nguồn nước, gây nhiễm độc cho nông sản, thực phẩm, người và gia súc… Với sự kết hợp hài hòa, hợp lí giữa nội dung bài dạy và GDBVMT bài giảng sẽ trở nên sinh động hơn, gây ấn tượng và hứng thú cho việc học của HS. b.Lồg ghép Lồg ghép thể hiện là việc lắp ghép nội dung bài học về mặt cấu trúc để có thể đưa vào bài học một đoạn, một mục, một số câu hỏi có nội dung GDBVMT. Ví dụ, khi giảng bài “ Tính chất hóa học chung của kim loại” GV có thể nêu thêm phần tác hại của một số kim loại nặng: Pb, Cd, Hg, As… với cơ thể con người. Qua đó nêu một số phương pháp phòng ngừa và xử lí kịp thời khi bị nhiễm kim loại nặng. Hình thức Lồg ghép có 3 mức độ: Lồg ghép toàn phần, Lồg ghép một hoặc nhiều bộ phận, Lồg ghép liên hệ mở rộng bài học. Tùy thuộc điều kiện, mục tiêu bài học, cấu trúc nội dung bài học để có thể lựa chọn hình thức lồg ghép phù hợp để đem lại hiệu quả GD cao nhất. 3.Phương pháp GDBVMT qua môn Hóa học ở trường THPT Yêu cầu cơ bản khi tiến hành GDBVMT cho HS: “GDMT phải bao quát các mặt khác nhau của môi trường: tự nhiên và nhân tạo, công nghệ, xã hội, kinh tế, văn hóa và thầm mĩ. Giáo dục môi trường phải nêu rõ mối quan hệ giữa các vấn đề MT địa phương, quốc gia và toàn cầu cũng như các tương quan giữa hành động hôm nay và hậu quả ngày mai” (Dự án GDMT của UNESCO, 1998). Mục tiêu GDBVMT cho HS: trang bị cho HS những kiến thức cơ bản về hóa học phổ thông, mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Cung cấp những kĩ năng cơ bản về BVMT, biết cách ứng xử tích cực đối với những vấn đề cụ thể của MT. Xây dựng cho HS những kiến thức cơ bản về MT để mỗi HS trở thành một tuyên truyền viên tích cực trong Gia đình, nhà trường và địa phương. ----------------- (1) 17/10/2001, thủ tướng chính phủ đã ban hành QĐ 1363/QĐ/TTg phê duyệt đề án “Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc gia” của Bộ GD – ĐT. a.Phương pháp GDBVMT qua giờ học trên lớp và trong phòng thí nghiệm Kiến thức về GDMT được tích hợp và lồg ghép vào nội dung bài học theo 3 mức độ: toàn phần, bộ phận, hoặc liên hệ. Tùy từng điều kiện có thể sử dụng một số phương pháp sau: Ø- PP giảng dạy dùng lời (minh họa, giảng giải, kể chuyện, đọc tài liệu) Ø- PP thảo luận, nêu và giải quyết vấn đề Ø- PP sử dụng các thí nghiệm, các tài liệu trực quan trong giờ dạy Ø- PP khai thác các kiến thức về GDBVMT từ những bài thực hành thí nghiệm trong phòng thí nghiệm b.Phương pháp GDBVMT thông qua hoạt động ngoài giờ, ngoại khóa. Trong nhà trường PT, hoạt động ngoại khóa để GD MT là hình thức rất có hiệu quả, phù hợp với tâm lí HS, sự GD của GV và sự tiếp nhận của HS rất nhẹ nhàng và sâu sắc. Ø- Phương pháp hành động cụ thể trong các hoạt động theo từng chủ đề được tổ chức trong trường hay ở địa phương. Thông qua tình hình thực tế, giúp HS hiểu biết được tình hình MT của địa phương, về tác động của con người đến MT. Từ đó GD cho HS đạo đức MT và ý thức BVMT. Ø- Phương pháp hợp tác và liên kết giữa nhà trường và cộng đồng địa phương trong các hoạt động về GDBVMT. Ø- Thông qua hoạt động ngoại khóa cung cấp cho HS một số kĩ năng và phương pháp tích cực tham gia vào mạng lưới GDMT. Nội dung GDBVMT trong chương trình ngoại khóa có thể thông qua một số hình thức sau: Ø- Câu lạc bộ: câu lạc bộ MT sinh hoạt theo các chủ đề về ăn, uống, sử dụng các năng lượng, rác thải, bệnh tật học đường… Ø- Hoạt động tham quan theo chủ đề: tham quan danh lam thắng cảnh, nhà máy, nơi xử lí rác thải, các loại tài nguyên. Ø- Tổ chức xem phim, băng hình, tranh ảnh về các đề tài BVMT, các cuộc thi tìm hiểu về MT và ÔNMT. Ø- Hoạt động trồng xanh hóa học đường: nhân các dịp lễ, Tết, 26/3…, ngày MT thế giới 5/6 Ø- Hoạt động Đoàn – Đội về BVMT: tổ chức các chiến dịch tuyên truyền ở nhà trường và địa phương. III.MỘT SỐ ĐỊA CHỈ TÍCH HỢP GDBVMT TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC THPT IV.MỘT SỐ NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1.Ô nhiễm không khí, sự suy giảm tầng ozon Khí quyển của chúng ta được chia thành nhiều tầng, trong đó có tầng ozon (cách mặt đất khoảng 25 km). Ozon (Ozone theo tiếng Hy Lạp nghĩa là “tỏa mùi”), được Friederich Schoben người Thụy Sỹ phát hiện năm 1840 và năm 1858 đã được Houzeau người Pháp xác định là thành phần quan trọng của khí quyển. Ozon do 3 nguyên tử oxi kết hợp với nhau, chúng được hình thành dưới tác dụng của bức xạ mặt trời, sấm sét… Độ dày mỏng của tầng ozon ở mỗi nơi là không giống nhau. Tầng ozon có tác dụng quan trọng trong việc ngăn cản các tia cực tím nguy hiểm từ mặt trời chiếu xuống trái đất. Hiện nay, tầng ozon đã bị báo động là đang “thủng” nghiêm trọng. Hiện tượng này được giải thích có nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân là do các khí thải công nghiệp như CFC, NO 2 … Những dữ liệu năm 1994 của UNEP-WMO (tổ chức môi trường thế giới) đã chứng minh rằng các hợp chất hữu cơ có chứa clo và brom khi đi vào tầng bình lưu đã giải phóng nguyên tử clo và brom, đưa chúng về chu kỳ xúc tác phá hoại ozon. Axit clohdric do núi lửa phun ra không hòa tan được trong nước khí quyển và không bị nước mưa quét sạch trước khi đi vào tầng bình lưu. Năm 1979 người ta mới phát hiện ra tầng ozon đang bị bào mòn và cho đến nay đã bị thủng ở rất nhiều nơi. Theo ước tính, khi tầng ozon giảm 10% thì lượng tia cực tím tăng lên khoảng 13%. Và cứ giảm 11% ozon thì sẽ làm tăng 2% trường hợp ung thư da. Một số tác nhân gây thủng tầng ozon: Các chất clofloucacbon (CFC) có tác dụng làm phồng các tấm cách nhiệt (cách âm) và dung môi trong công nghiệp điện tử, cơ khí, chất làm lạnh trong tủ lạnh, chất đẩy trong các bình xịt tóc…là một trong số những tác nhân nguy hiểm nhất với tầng ozon. Loại hay dùng nhất là Freon, có thời gian tôn tại rất lâu dài, từ 50-400 năm tùy loại. Chúng bay lên không trung tận tầng cao nhất của khí quyển, gặp các tia cực tím và bị vỡ ra làm clo được giải phóng. Mỗi nguyên tử clo phá hủy một phân tử ozon và để tạo thành một phân tử ClO, oxit này lại phản ứng với một oxi nguyên tử để tái tạo clo nguyên tử, sau đó, tiếp tục đi phá hủy một phân tử ozon khác. Một nguyên tử clo có thể phá hủy khoảng 100 nghìn phân tử ozon trước khi bị phản ứng trở lại thành dạng ổn định gọi là “bình chứa”. Cơ chế của sự phá hủy tầng ozon: Rất may, hiện nay, chất CFC đã bị cấm sử dụng. Nhưng không phải vì thế mà tầng ozon không tiếp tục bị thủng, lượng tàn dư của nó trong khí quyển vẫn còn, thêm vào đó các oxit của nitơ và lưu huỳnh cũng có tác hại tàn phá tương tự. Một số nguồn khí thải gây ô nhiễm không khí: - Nguồn ô nhiễm công nghiệp: các chất độc hại trong khí thải công nghiệp như CO x , NO x , SO 2 … và tro bụi. Các nhà máy sản xuất thủy tinh thải ra một lượng lớn bụi HF, SO 2 . Các nhà máy gạch, nung vôi thải ra đáng kể một lượng bụi CO x , NO x . Công nghiệp luyện kim, cơ khí thải ra một lượng đáng kể bụi khói kim loại và nhiều chất độc hại. - Nguồn ô nhiễm do giao thông vận tải: Các chất khí độc hại do động cơ đốt trong thải ra, hơi Chì, làm ô nhiễm không khí, hành lang hai bên của tuyến giao thông. Một phần không nhỏ bụi bị cuốn theo sự chuyển động của các phương tiện giao thông và vận tải hàng không, đặc biệt là các máy bay siêu âm ở độ cao lớn thải ra một lượng lớn NO x có hại cho tầng Ozon. - Nguồn ô nhiễm không khí do sinh hoạt: khí thải ra do nguồn này chỉ chiếm một phần rất nhỏ, đa phần là các khí CO x . Hàm lượng tuy nhỏ, nhưng chúng phân bổ dày và cục bộ trong phạm vi nhỏ hẹp của gia đình cho nên có ảnh hưởng trực tiếp đến con người. - Các hạt bụi và sol khí là đối tượng chính chứa các kim loại nặng trong khí quyển, là nguồn gốc tạo nên hiện tượng “khói mù quang học”, cản trở ánh sáng và phản xạ ánh sáng mặt trời. - Hậu quả của việc thủng tầng ozon tới khí hậu: giảm thời gian có nắng, đồng nghĩa với việc thời gian mưa sẽ tăng lên. Đất đai không có vôi, tăng nồng độ axit dẫn đến cằn cỗi. - Hậu quả trực tiếp với con người: tăng rối lọan tim mạch, hô hấp, các bệnh phổi, hen, ung thư phổi, các bệnh ung thư da và các bệnh da liễu… Với các công trình nghệ thuật lịch sử: đá bị ăn mòn, mặt ngoài công trình bị cáu bẩn, các bộ phận kim loại gỉ sét nhanh chóng… 2.Ô nhiễm nguồn nước Nước là nguồn sống của con người và mọi loại sinh vật, nó rất cần thiết cho rất nhiều ngành công nghiệp, sinh hoạt và nông nghiệp… Tuy nhiên hiện nay, nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng nề. Có nhiều nguyên nhân gây ra ô nhiễm nguồn nước trong đó có một số nguyên nhân sau: a.Ô nhiễm hóa học: do các chất thải công nghiệp chưa được xử lí, bao gồm chất thải vô cơ và chất thải hữu cơ. Nhiều chất chỉ cần với hàm lượng 1mg/lit cũng đủ để giết chết các động vật (như cromat, xianua…),cũng có thể là hydrocacbua, các chất tẩy rửa. Chất bẩn từ quần áo, chất thải từ phân người có khoảng 4,9g Phốtpho/ngày. Hậu quả là nếu thải vào nguồn nước sẽ làm tăng nhanh các sinh vật nổi và thủ tiêu dần các một số động vật khác dưới nước. b.Ô nhiễm hữu cơ: do nước thải ở các hệ thống thoát nước đô thị, các lò sát sinh, trại chăn nuôi, nhà máy thực phẩm, nhà máy giấy… Lượng chất hữu cơ này trong nước đã tiêu thụ một phần không nhỏ lượng oxi hòa tan trong nước và hệ quả là làm chết các động - thực vật nước. c.Ô nhiễm nhiệt học: các chất hữu cơ của nhà máy nhiệt điện và điện nguyên tử đã là tăng nhiệt độ của nước. Nước nóng sẽ làm tỷ lệ oxi hòa tan trong nước giảm. Khiến cho các loài thủy sản dễ bị ngạt thở, rối loạn chu kỳ sinh học, thậm chí dẫn tới hủy diệt một số loài. d.Ô nhiễm có nguồn gốc nông nghiệp: nguồn gốc của loại này chủ yếu do hàm lượng nitơ trong đất quá mức cho phép vì dùng phân hóa học không đúng cách và không đúng liều lượng, hoặc sử dụng phân chuồng chưa qua xử lí các độc tố. Các độc tố đọng lại trong các loại thực phẩm, vật nuôi sẽ xâm nhập vào cơ thể con người khi sử dụng. Một nguồn ô nhiễm nông nghiệp khác là do sử dụng quá liều lượng các hóa chất diệt cỏ, trừ sâu hại… Các loại hóa chất này tồn tại rất lâu trong đất, gây ảnh hưởng không chỉ đến nguồn đất mà còn cả nguồn nước và tất yếu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến con người. Các tác hại khi bị ô nhiễm nguồn nước: -Đối với các loại động thực vật trong nước: động thực vật sống được trong nước là do quang hợp được từ ánh sáng mặt trời kết hợp với việc sử dụng oxi hòa tan trong nước để hô hấp, quang hợp.Đồng thời, chúng cũng lấy các chất dinh dưỡng trong nước để sống. Khi các chất thải hữu cơ đổ vào nước, chúng sẽ làm giảm lượng oxi hòa tan trong nước, một số hợp chất hữu cơ tích tụ, đóng váng, kết bè trên mặt nước làm giảm khả năng quang hợp của các loài thực vật, chưa kể đến các chất độc hại mà những nguồn chất thải này mang đến. Hậu quả là nhiều loại vi sinh vật bị chết, có loài bị nhiễm độc. Và hậu quả thật khó lường khi con người tiêu thụ các thực phẩm từ những nguồn nhiễm độc này. -Đối với con người: do dùng nước sinh hoạt bị ô nhiễm để ăn uống, tắm rửa, người ta có thể bị nhiễm khuẩn gây các bệnh phổ biến, các bệnh dạ dày, ruột, nhiễm virut, viêm gan, nhiễm kí sinh trùng, giun sán… Ngoài ra, bị các khoáng chất độc hại xâm nhập cơ thể như: thủy ngân, chì, antimon, các nitrat làm thay đổi hồng cầu, ngăn cản quá trình cố định oxi, rất nguy hiểm, gây tỷ lệ tử vong cao ở trẻ sơ sinh. Nước nhiễm độc flou khi uống có thể gây hỏng men răng… 3.Ô nhiễm đất nông nghiệp. Đất có thể bị ô nhiễm tự nhiên do thành phần của nó. Từ quá trình hình thành vỏ trái đất, đất đá đó chứa sẵn trong nó những kim loại nặng và á kim. Ở một liều lượng nhất định trong khi khai thác sử dụng và qua các phản ứng hóa học tiếp theo, những kim loại và những á kim đều độc hại với con người và động thực vật trên trái đất. Nhưng đất cũng có thể bị ô nhiễm do các hoạt động của con người bằng các chất gây ô nhiễm hữu cơ vi mô trực tiếp thấm dần xuống đất qua sự hấp thụ của cây cối hoặc theo các mạch nước ngầm. Từ đó theo đường tiêu hóa hoặc bụi bặm tác động tới cơ thể con người và động vật gây ung thư, hay đột biến gen…Cây trồng cũng có thể bị lây nhiễm các chất độc vô cơ qua không khí, theo gió thấm vào cành lá. Những nơi thường bị ô nhiễm đất nghiêm trọng là: quanh các mỏ khoáng sản, các vùng nông nghiệp thâm canh sử dụng phân phốtphat với liều lượng cao, vùng trồng nho sử dụng nhiều CuSO 4 , vùng tiếp giáp các xa lộ, các sân bay lớn, vùng công nghiệp tập trung, bãi rác thành phố, bùn nạo vét từ các cống rãnh, ao hồ, sông ngòi… Một nguyên nhân gây ô nhiễm đất nông nghiệp hiện nay là do: sử dụng các loại thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, thuốc tăng trưởng kích thích không đúng liều lượng và không đúng quy định. Lượng tích tụ lâu dài của các nguồn này gây ô nhiễm nghiêm trọng tài nguyên đất nông nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và sức khỏe con người. Ô nhiễm đất do chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp Chất thải công nghiệp gây ô nhiễm ở cả 3 trạng thái: rắn, lỏng, khí. Trong đó chất thải rắn chiếm khoảng 50%, và có khoảng 15% có khả năng gây độc nguy hiểm. Đặc biệt nghiêm trọng là các chất thải là các hóa chất, các kim loại nặng (Pb, Hg, As…). Chất thải khí gồm nhiều khí độc như H 2 S, NO x , CO x ,… đây là nguyên nhân gây ra mưa axit, làm chua đất, phá hoại sự phát triển của thảm thực vật. Hàng ngày, con người và các động vật đã thải ra một số lượng lớn các chẩt thải. Khu vực càng đông người thì phế thải càng lớn. Chất thải này có nhiều nguồn khác nhau, chính vì vậy gây khó khăn trong việc thu gom, xử lí. Trong khi đó, ý thức bảo vệ môi trường còn kém, dẫn đến tình trạng xả rác “vô tội vạ”. Hàng năm, chúng ta sản xuất được 240.000 tấn Axit sunfuric, trong đó có 180.000 tấn đi từ quặng pirit. Tất cả đều dùng chất thải một lớp, hiệu suất chuyển hóa thấp, lượng chất thải cao. Hàng năm thải ra môi trường khoảng hơn 4000 tấn SO 2 và khoảng 80.000 tấn xỉ pirit. Ô nhiễm đất do phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật Loại ô nhiễm này do sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật gây ra, chất tăng trưởng kích thích… trong sản xuất nông nghiệp gây ra là chủ yếu. Sử dụng phân bón quá liều lượng, làm cho đất bị chua, cứng đất gây ảnh hưởng đến năng suất cây trồng. Đất có thể bị chua tự nhiên do mưa nhiều sinh, một số hợp chất hữu cơ bị chuyển hóa thành lưu huỳnh, tạo thành axit sunfuric, cuối cùng tạo thành gốc sunfat gây chua đất. Đất cũng có thể bị chua do sử dụng phân đạm sunfat không hợp lí. Việc ô nhiễm đất có thể kéo theo việc ô nhiễm trực tiếp nguồn nước và có thể cả không khí. Ở nước ta việc sử dụng phân bón chưa nhiều như các nước trong khu vực và trên thế giới nên chưa thấy rõ hiện tượng ô nhiễm đất do dùng phân bón (trừ một số vùng ở Hà Nội và Đà Lạt) Thuốc bảo vệ thực vật có thể chia làm 5 loại: thuốc trừ sâu, thuốc trừ nhện, thuốc trừ gặm nhấm, thuốc trừ nấm và thuốc trừ cỏ dại. Cũng như phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật cũng bị rửa trôi theo nguồn nước rất lớn, gây ô nhiễm trực tiếp nguồn nước. Việc sử dụng quá liều thuốc bảo vệ thực vật còn có thể làm cho con người và các loài động vật bị nhiễm độc nếu tiêu thụ các thực phẩm đó. Thuốc bảo vệ thực vật đã làm giảm đáng kể số lượng một số loài sinh vật có ích (ong mắt đỏ, nấm có ích), làm giảm sự đa dạng sinh học, làm xuất hiện một số loại sâu bệnh kháng thuốc, bùng nổ nạn dịch rầy nâu, đạo ôn ở một số vùng. Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác gây ô nhiễm đất như: ô nhiễm đất do tác nhân sinh học, tác nhân vật lí, do sự cố tràn dầu, do hệ quả của chiến tranh, do thảm họa bình địa, ô nhiễm do các tác nhân phóng xạ… 4.Hiệu ứng nhà kính (Green House Effect) Ở một số nước hàn đới, hàng ngày mặt đất nhận được khá ít nhiệt từ mặt trời chiếu xuống. Chính vì vậy, để có thể trồng trọt được họ phải trồng cây trong những ngôi nhà làm bằng kính. Tác dụng của ngôi nhà kính này là: ngăn không cho ánh sáng phản xạ trở lại khí quyển khi tiếp xúc với mặt đất, khi đó lượng nhiệt từ mặt trời chiếu xuống được tận dụng tối đa để cung cấp cho các loại cây trồng. Nói cách khác, những ngôi nhà kính có tác dụng như những ”cái lồg nhốt ánh sáng”. Trên bề mặt trái đất cũng xảy ra một hiện tượng tương tự như vậy, và người . TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG GIẢNG DẠY HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG I.SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC GDBVMT TRONG GIẢNG DẠY HÓA HỌC Ở THPT 1.Ô. hiểm đến sức khỏe con người và sinh vật trong MT đó. 2.Tại sao cần tích hợp GDBVMT vào trong giảng dạy Hóa học ở trường THPT? MT hiện tại đang có những

— Xem thêm —

Xem thêm: TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG GIẢNG DẠY HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG, TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG GIẢNG DẠY HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG, TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG GIẢNG DẠY HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Lên đầu trang

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.128904104233 s. Memory usage = 13.93 MB