Tài liệu BÍ QUYẾT ÔN THI ĐẠI HỌC MÔN VĂN

fresh boy 41
fresh boy 41(8464 tài liệu)
(6 người theo dõi)
Lượt xem 78
5
Tải xuống
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 8 | Loại file: DOC
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 29/11/2013, 08:11

Mô tả: BÍ QUYẾT ÔN THI ĐẠI HỌC MÔN VĂN • Chọn thầy mà học, chọn sách mà đọc: Chỉ những người có năng lực đăc biệt xuất sắc mới có khả năng tự học và đạt hiệu quả như mong muốn. Hầu hết thí sinh dự thi đại học và cao đẳng không có được năng lực ấy.“Không người hướng dẫn, chỉ huy, thì ngay cả địa ngục bạn cũng không vào được” ( Ngạn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ). Nghệ sĩ nhân dân Đặng Thái Sơn cũng từng khẳng định: “Nếu như có một chút gì đó gọi là thành công trong cuộc đời tôi, đó là do tôi có may mắn được học toàn những người Thầy giỏi”. Vì vậy, các em vẫn cần sự hướng dẫn của những cuốn sách tốt, những thầy cô giỏi, có trách nhiệm và giàu kinh nghiệm. Hiện nay, tài liệu tham khảo và luyện thi tràn ngập thị trường. Để đỡ tốn kém thời gian, công sức và tiền bạc, tránh mua và đọc linh tinh, các em nên nhờ những thầy cô có uy tín giới thiệu. Những giáo viên tài năng và tâm huyết không bao giờ giấu học sinh những cuốn sách hay, những tài liệu bổ ích, mà thường hào hứng giới thiệu cho họ. Khi đọc tài liệu tham khảo, các em cần có ghi chép, suy nghĩ, tán thành, hoặc phản đối, bởi không phải mọi kiến thức trong sách vở đều đúng. Những thắc mắc, nghi ngờ, nên ghi lại để hỏi cho rõ.Tất nhiên việc đọc tài liệu tham khảo là cần thiết, nhưng không thể thay thế được việc nghe giảng trên lớp. Nếu được thầy cô giỏi, tâm huyết giảng dạy và hướng dẫn, các em sẽ thấy văn học hấp dẫn và thú vị hơn, hiểu vấn đề sâu sắc hơn, nắm vững các kĩ năng, kiến thức và phương pháp làm bài hơn, dễ nhớ và nhớ lâu hơn, vận dụng kiến thức làm bài cũng tốt hơn. Các trung tâm luyện thi mọc lên như nấm, người dạy cũng nhiều, nhưng các em nên tìm học những người có khả năng trang bị một hệ thống phương pháp, kĩ năng, kiến thức sát với đề thi và thiết thực nhất; chỉ cho các em một hướng đi đúng, với một đường đi ngắn nhất, tiết kiệm và hiệu quả nhất. Hãy nhớ rằng hướng đi đã sai thì học bao nhiêu kiến thức và phương pháp cũng vô ích. Nếu đã đi sai đường, thì không cần động lực để tăng tốc, mà cần quay lại và tìm một hướng đi đúng. Đều là những người rất tài năng, tâm huyết với đất nước, đều đi tìm đường cứu nước vào đầu thế kỉ XX, nhưng Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…thất bại là do hướng đi sai, còn Nguyễn Ái Quốc thành công là nhờ đường đi đúng. • Tham khảo đề thi, đáp án, biểu điểm chính thức và dự bị của những năm trước: Đáp án, biểu điểm của Bộ là căn cứ để giám khảo chấm bài, nên tham khảo đề thi, đáp án, biểu điểm chính thức và dự bị của những năm trước sẽ giúp các em có một định hướng rõ ràng hơn trong việc ôn tập và làm bài thi. Khi đọc những tài liệu này, cần lưu ý đến điểm số dành cho từng ý; tại sao ý này điểm nhiều, ý kia điểm ít; cũng như trình tự sắp xếp các ý, phạm vi dẫn chứng…Các em cũng nên học hỏi cách làm bài, kiến thức, cách mở bài, kết bài, triển khai ý, cách chuyển ý, trình bày, diễn đạt… qua những bài văn đạt điểm cao trong các kì thi đại học trước đó, đồng thời so sánh các bài viết này với đáp án và biểu điểm của Bộ, xem bài làm thiếu ý nào, có ý nào mới hơn, tại sao lại được điểm cao như thế… • Ôn tập toàn diện, tránh học tủ, nhưng cần có trọng tâm, trọng điểm: Có thí sinh cho rằng năm trước, đề thi đã ra vào bài này, phần này, nên năm nay sẽ không rơi vào bài đó nữa. Đó là một nhận thức chủ quan, vừa sai lầm, vừa thiển cận. Nhiều em ngại khó, nên thường bỏ qua các bài khó hoặc ít hấp dẫn như Người lái đò sông Đà, Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm)…Nhưng đề thi vẫn có thể rơi vào các bài đó, mà khi đề đã ra, thì dù không thích cũng phải làm. Đề thi thường kiểm tra toàn diện kiến thức văn học sử (về giai đoạn văn học 1945-1975 và 5 tác giả), cũng như tác phẩm văn học cả trước và sau Cách mạng, cả thơ và văn, thậm chí cả kịch(như chương trình phân ban), đồng thời kiểm tra toàn diện các kĩ năng tóm tắt, bình giảng, phân tích, so sánh, giải thích, chứng minh . Trước đây, dung lượng kiến thức văn học lãng mạn và văn học hiện thực trước Cách mạng chỉ chiếm khoảng 30% (câu 3 điểm), nhưng trong đề thi của khối D,M các năm 2002 và 2007 đã chiếm tới 50% (câu 5 điểm). Vì vậy các em nên cố gắng ôn tập đều ở tất cả các phần, các bài trong chương trình thi, tuyệt đối không nên học tủ. Học tủ thường rất nguy hiểm; đặc biệt, đối với cách ra đề phân thành nhiều câu, nhiều phần (như chủ trương của Bộ), thì cách học này lại cực kì nguy hiểm. Mặt khác, vẫn cần có ôn tập có trọng tâm, trọng điểm. Nếu được cố vấn bởi các thầy cô có tài năng, uy tín và tâm huyết, các vấn đề trọng tâm sẽ rất sát với đề thi. Bên cạnh ôn tập kiến thức, cần rèn luyện kĩ năng làm các kiểu bài tóm tắt về tác giả, tác phẩm và giai đoạn văn học; kĩ năng phân tích văn xuôi và bình giảng thơ; kĩ năng phân tích đề, tìm ý, triển khai ý, mở bài, kết bài, chuyển đoạn, trình bày, diễn đạt… Cần bám sát chương trình của Bộ và sách giáo khoa, vì đó là văn bản pháp quy của nhà nước, mà đề thi không được nằm ngoài. Lưu ý rằng tất cả những gì có trong sách giáo khoa đều có thể thi vào. • Khám phá tác phẩm trong mối liên hệ mật thiết với các yếu tố bên trong và bên ngoài của nó: o Các mối liên hệ bên ngoài: Tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của nhà văn, nhưng cũng là con đẻ của hoàn cảnh lịch sử, của thời đại, là nơi ghi dấu ấn tâm hồn, tư tưởng, tài năng và tâm huyết nhà văn trong một thời điểm nhất định. Muốn nắm bắt, cần phải biết tác phẩm đó gắn liền với hoàn cảnh lịch sử nào. Ở đây, môn văn đã gián tiếp đòi hỏi thí sinh phải có kiến thức về lịch sử, nếu không sẽ khó mà phân tích đúng được. Vì vậy các em cần nắm chắc hoàn cảnh ra đời, ý nghĩa nhan đề và kết cấu cảm hứng để hiểu sâu và chính xác về của nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật tác phẩm, đồng thời qua tác phẩm phải thấy được cả hiện thực thời đại mà nhà văn sống và sáng tác. “Qua nhà thơ, người ta tìm thấy tầm cỡ thời đại” (Jiri Worlker). Nếu không ra đời vào mùa xuân năm 1948, thời điểm mà vấn đề “nhận đường” (Nguyễn Đình Thi), vấn đề “lột xác” (Nguyễn Tuân) đang đặt ra một cách gay gắt đối với các văn nghệ sĩ trí thức tiểu tư sản lớp trước, thì Đôi mắt sẽ không phải là tuyên ngôn nghệ thuật của một thế hệ nhà văn đi theo kháng chiến như Nam Cao, Tô Hoài. Mặt khác, cần tránh xu hướng xã hội học dung tục, chỉ tìm thấy ở văn chương những ý nghĩa xã hội và đạo đức. Chẳng hạn, không nên hiểu dòng thơ “Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc”(Chiều tối – Hồ Chí Minh) là “tố cáo chế độ Quốc dân đảng bóc lột sức lao động của trẻ em”, hoặc dòng thơ “Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san”(Giải đi sớm - Hồ Chí Minh ) là “nhân dân ủng hộ lãnh tụ” hay “bọn lính áp giải vây quanh người tù cô đơn nơi đất khách” như có người từng hiểu… Để hiểu sâu sắc và chính xác về tác phẩm, cần đặt nó trong mối liên hệ với quan điểm sáng tác, tư tưởng và phong cách nghệ thuật của nhà văn. Chỉ khi liên hệ với quan niệm về người tài của Nguyễn Tuân, mới hiểu được tại sao Huấn Cao và ông lái đò sông Đà lại được nhà văn ngợi ca là những người tài hoa, nghệ sĩ hơn đời. Thơ duyên chính là hiện thân cho quan điểm “Để tâm hồn ràng buộc bởi muôn dây/ Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến” của Xuân Diệu, còn Hai đứa trẻ là sự thực thi thiên chức của một nhà văn luôn khát khao “nâng đỡ cái tốt đẹp để trong đời có nhiều công bằng hơn, yêu thương hơn” Khi tìm hiểu một tác phẩm cũng phải đặt nó trong mối liên hệ mật thiết với giai đoạn văn học, trào lưu văn học. thời kì hoặc phương pháp sáng tác mà nó thuộc vào. Chẳng hạn, khi tìm hiểu các bài thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử và Thâm Tâm, cần đặt chúng trong đặc điểm tư tưởng nghệ thuât của phong trào Thơ Mới lãng mạn 1932-1945. Cần lưu ý các tác phẩm Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù…được sang tác theo phương pháp lãng mạn nhưng vẫn có một cảm quan hiện thực sâu sắc. o Các mối liên hệ bên trong: Mỗi tác phẩm văn chương thường có hai phần nổi bật: nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Hai phần này thường thống nhất với nhau. Tìm hiểu nội dung là nhằm chỉ ra tư tưởng và quan niệm của nhà văn về con người và cuộc sống, tìm hiểu hình thức là để chỉ ra tài năng nghệ thuật của nhà văn, cũng như sự thống nhất và phù hợp của hình thức với nội dung. Rất ít khi đề thi yêu cầu trực tiếp là làm rõ hai mặt này. Tuy nhiên, trên thực tế, để giải quyết vấn đề nào đó của đề thi, trong quá trình đi vào nội dung nhất thiết phải trình bày nội dung đó được biểu đạt bằng những phương tiện nghệ thuật nào, tìm sự hài hoà giữa nội dung và hình thức, giữa ý nghĩa tư tưởng và giá trị nghệ thuật. Nên từ hình thức tìm ra nội dung và tránh diễn xuôi tác phẩm, văn thơ. Để diễn tả những cung bậc của một tình yêu trong xa xôi cách trở với nỗi nhớ mong “cả trong mơ còn thức”, với niềm lo nghĩ, với tình cảm thủy chung, tha thiết, chân thành và cả niềm tin mãnh liệt vào sức mình trong việc vượt qua những xa xôi, cách trở, mất còn…để đến với người mình yêu, Xuân Quỳnh đã mượn hình ảnh sóng xa bờ, nhớ bờ, đồng thời sử dụng thể thơ 5 chữ với lối ngắt nhịp cân đối, âm điệu hài hòa. Nhịp điệu của bài thơ chính là nhịp điệu của một cõi lòng đang bị con sóng tình yêu khuấy động. Thế giới nghệ thuật của tác phẩm là thế giới hình tượng do nhà văn sáng tạo ra, có quy luật riêng, thang bậc giá trị riêng, thời gian và không gian nghệ thuật riêng. Vì vậy khi tìm hiểu tác phẩm, không được đồng nhất nó với thế giới thực tại ngoài đời, ngay cả khi nhân vật được xây dựng từ một nguyên mẫu có thật như Hoàng đế An nam trong Vi hành, Hoàng trong Đôi mắt, Đào trong Mùa lạc, Huấn Cao trong Chữ người tử tù… “ Mọi chân lí sẽ trở nên sai lầm, nếu chúng ta cứ xét đoán nó trên cơ sở của những kinh nghiệm hàng ngày” (Ph. Ăngghen). Chân lí nghệ thuật trong tác phẩm văn học cũng vậy. Thế giới hình tượng trong tác phẩm được xây dựng nên từ các chi tiết nghệ thuật. Tìm hiểu tác phẩm phải luôn xuất phát từ chi tiết. Mỗi chi tiêt trong tác phẩm là một ô cửa mở ra cả một thế giới, là những “chi tiết mang thai”(Hêghen) bởi nó có khả năng sinh nở ra những ý nghĩa mới. Tài năng của một nhà văn lớn bao giờ cũng được làm nên từ những chi tiết nhỏ. Vì vậy, về văn xuôi, các em nhất định phải nắm được diễn biến câu chuyện, cách kể và giọng điệu của nhàvăn, nhân vật trung tâm và những chi tiết, sự kiện xoay quanh nhân vật trung tâm đó. Về thơ, phải nắm được cảm hứng chủ đạo của nhà thơ, kết cấu cảm hứng của bài thơ, đoạn thơ, những chi tiết, hình ảnh mà nhà thơ sử dụng để bộc lộ cảm xúc. Về kịch, phải nắm được những mâu thuẫn, xung đột, các lời thoại quan trong…Từ các chi tiết nghệ thuật ấy, tìm ra tư tưởng và tình cảm mà nhà văn gửi gắm cũng như tài năng nghệ thuật của nhà văn. Không nên bỏ qua các chi tiết quan trọng, cũng không nên quá sa đà vào phân tích chi tiết, để tránh tình trạng chỉ thấy cây mà không thấy rừng. Thực hiện phương châm tăng cường chất văn trong việc dạy và học văn, cũng cần bám sát văn bản ngôn từ và thế giới hình tượng của tác phẩm, chú ý giọng điệu, kết cấu tác phẩm. Chẳng hạn bài thơ Đây thôn Vĩ dạ của Hàn Mặc Tử được kết cấu toàn bằng những lời ướm hỏi, ba khổ thơ là ba câu hỏi liên tiếp, nên bài thơ sẽ chủ yếu thể hiện niềm băn khoăn day dứt của con người, khát vọng chủ quan của nhà thơ chứ không chỉ là vấn đề “vịnh cảnh hay tỏ tình”. • Ôn tập theo vấn đề và nhóm tác phẩm: Bên cạnh việc ôn tập để nắm được chắc chắn giá trị nội dung và nghệ thuật của từng tác phẩm, các em nên cố gắng tập hợp các tác phẩm vào thành từng nhóm. Những tác phẩm trong nhóm thường phải có chung một hoặc một số điểm tương đồng, chẳng hạn cùng chung đề tài (về đất nước, về người lính, về người phụ nữ, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng .), chung thể loại (truyện ngắn, thơ .), chung giai đoạn sáng tác (từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945, từ năm 1945 đến 1975 .) . Ôn tập theo hướng này, các em sẽ có thể giải quyết tốt được cả hai dạng: đề đơn (đề cập tới một tác phẩm) và đề tổng hợp (đề cập tới nhiều tác phẩm). Các em nên tập trung vào các nhóm tác phẩm sau đây: o Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng về đất nước: Tuyên ngôn độc lập, Bên kia sông Đuống, Tiếng hát con tàu, Đất nước của Nguyễn Đình Thi, trích đoạn Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm… o Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng về nhân dân: Tuyên ngôn độc lập, Việt Bắc, Tiếng hát con tàu, trích đoạn Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm… o Nhóm các tác phẩm thể hiện cảm hứng nhân đạo: Hai đứa trẻ, Chí Phèo, Đời thừa, Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt… o Nhóm các tác phẩm thể hiện cảm hứng nhân văn: Chữ người tử tù, Người lái đò sông Đà… o Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng về người lính: Tây Tiến, Rừng xà nu, Những đứa con trong gia đình…Cần lưu ý là nhóm các tác phẩm này thường thể hiện rất nổi bật cảm hứng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt nam, chủ nghĩa yêu nước, khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. o Nhóm các tác phẩm thể hiện bản lĩnh, khát vọng và vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ cộng sản trong những hoàn cảnh thử thách khắc nghiệt của chốn ngục tù: Mộ, Tảo giải… hoặc khi mới được trả tự do: Tân xuất ngục, học đăng sơn. o Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng về thân phận, khát vọng và vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ: Đời thừa, Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt, Sóng… o Nhóm các tác phẩm thể hiện nỗi nhớ và thái độ ân tình ân nghĩa với quá khứ: Tây Tiến, Bên kia sông Đuống, Việt Bắc, Tiếng hát con tàu, Đất nước của Nguyễn Đình Thi o Nhóm các tác phẩm thể hiện sức mạnh của tiếng cười châm biếm trào phúng: Vi hành và trích đoạn Hạnh phúc của một tang gia. o Nhóm các tác phẩm thể hiện tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn: Đời thừa, Tiếng hát con tàu, Vũ Như Tô, Chiếc thuyền ngoài xa… o Nhóm các tác phẩm xây dựng thành công tình huống truyện độc đáo, giàu ý nghĩa: Chữ người tử tù, Vi hành, Vợ nhặt, Chiếc thuyền ngoài xa… o Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng về Tây Bắc: Tây Tiến, Vợ chồng A Phủ, Tiếng hát con tàu, Người lái đò sông Đà… o Nhóm các tác phẩm thể hiện tâm trạng và khát vọng của cái Tôi Thơ Mới: Đây mùa thu tới, Vội vàng, Thơ duyên, Tràng giang, Đây thôn Vĩ dạ, Tống biệt hành… Ở các tác phẩm này cũng như các tác phẩm văn học lãng mạn khác, cần lưu ý “nỗi đau khổ của người dân mất nước, sự quằn quại của tâm hồn bị bóp nghẹt, lòng khao khát một cuộc sống chân thật, tự do”( Trường Chinh – Bài nói tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ 2 năm 1957), và lòng yêu nước kín đáo, tinh thần dân tộc thấm thía được biểu hiện qua lòng yêu tiếng mẹ đẻ: “Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu Tiếng Việt.Tiếng Việt, họ nghĩ , là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ qua. Đến lượt họ, họ cũng muốn mượn tấm hồn bạch chung để gửi nỗi băn khoăn riêng”( Hoài Thanh – Thi nhân Việt nam -1941) . Sau khi tập hợp các tác phẩm thành từng nhóm, cần phải phát hiện được: - Những nét độc đáo của tác phẩm này so với tác phẩm khác. - Những nét chung của tác phẩm trong nhóm. Chẳng hạn, cùng viết về đất nước quê hương nhưng Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Đất nước của Nguyễn Đình Thi và trích đoạn Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm vẫn có những khám phá, cảm nhận và thể hiện riêng, với những sắc thái tình cảm riêng. Hoàng Cầm đau đớn, nhớ tiếc, “xót xa như rụng bàn tay” trước một miền quê cụ thể có vẻ đẹp cổ kính và truyền thống văn hóa nghệ thuật lâu đời đang bị kẻ thù chiếm đóng, hủy hoại; Nguyễn Đình Thi tự hào, hãnh diện trước một đất nước mới hồi sinh tự do “tươi thắm vô ngần”, sau khi trải qua những ngày nô lệ, đau thương; Nguyễn Khoa Điềm lại tự hào về một đất nước “của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại”, một đất nước do những người “không ai nhớ mặt đặt tên” hóa thân mà thành, do nhân dân vô danh gìn giữ, dựng xây và truyền lại cho các thế hệ sau. Một số đề chung cho các nhóm tác phẩm trên thường được nêu ở những trang cuối cùng của sách giáo khoa cải cách giáo dục, trong phần Hướng dẫn ôn tập cuối năm, hoặc phần bài tập nâng cao ở cuối mỗi bài học trong sách giáo khoa phân ban. • Học văn theo luận điểm (theo ý), kết hợp tư duy và tái hiện, không học vẹt: Suy cho cùng, bài văn hay, đạt điểm cao, thậm chí điểm tuyệt đối là bài văn có một hệ thống ý đầy đủ, sáng tạo, chặt chẽ, đáp ứng toàn diện yêu cầu của đề, được thể hiện qua một hình thức trình bày và diễn đạt chính xác, trong sáng, rõ ràng, tinh tế, khéo léo, có hình ảnh và cảm xúc. Các giám khảo chấm văn cũng phải so sánh giữa hệ thống ý của bài văn và hệ thống ý mà Bộ đề ra trong đáp án và biêu điểm chấm thi để cho điểm. Vì vậy, khi học văn, các em cần tránh học thuộc lòng như vẹt, mà nên học theo ý(theo luận điểm). Cần nhớ số lượng ý lớn, ý nhỏ trong từng bài, từng đề, rồi mới nhớ nội dung của từng ý, từng luận điểm. Học theo ý, mới có thể dễ nhớ, nhớ lâu và sâu sắc. Khi làm bài, các em nên diễn đạt lại những ý đó theo cách của mình. Những bài văn mẫu, những bài giảng các thầy, các cô cho ghi, dù hay đến đâu, cũng chỉ nên coi như 1 tài liệu tham khảo cách diễn đạt. hoặc xem lại ý khi quên. Nói như người xưa, ý là “bột”, bài văn là “hồ”, còn quá trình diễn đạt ý thành bài là “gột”. “Có bột mới gột nên hồ”. Nói thế, chắc các em đủ hiểu tầm quan trọng của ý(luận điểm) trong bài văn và đối với việc làm văn. Giống như quá trình tư duy, quá trình nhận thức của con người, khi học và làm văn, cũng cần qua 3 bước là HIỂU – NHỚ – VẬN DỤNG. Muốn vận dụng được kiến thức đã học vào bài làm văn, cần phải nhớ và hiểu được những kiến thức ấy. Muốn nhớ được kiến thức thì trước hết phải hiểu nó. Muốn hiểu thì phải chịu khó tìm tòi, suy nghĩ, đọc tài liệu tham khảo, chăm chú nghe giảng bằng tất cả niềm say mê, tâm huyết của mình giống như niềm đam mê của nhân vật Hộ trong Đời thừa của Nam Cao: “Hắn đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán!”…Học văn không phải là cắm đầu ghi cho đầy vở, mà là phải hiểu, nhớ và ghi lại các ý hay, các luận điểm quan trọng. Nếu tìm được thầy dạy giỏi, hay, hấp dẫn, tâm huyết…các em có thể nhớ được ít nhất 90% kiến thức ngay trên lớp, về nhà chỉ cần học thêm khoảng 10% và xem lại những kiến thức nắm chưa thật chắc thôi. Gặp những vấn đề chưa hiểu, các em cứ mạnh dạn hỏi, chắc chắn không thầy cô nào từ chối, dù họ có bận và mệt đến đâu. Kiến thức càng sắp xếp khoa học, chặt chẽ, rành mạch bao nhiêu, càng dễ nhớ bấy nhiêu. Để tránh học vẹt, khi học văn, các em không nên cầm sách học thuộc lòng, mà nên học theo phương pháp tái hiện. Nghĩa là sau giờ học trên lớp, hãy dành thời gian tĩnh tâm (khoảng 20-30 phút) để nhớ lại kiến thức vừa học, nhất là hệ thống ý lớn, ý nhỏ. Sau đó mới mở sách ra kiểm tra lại. ý nào mình chưa nhớ được thì cần phải học ngay. Học theo cách này, các em có thể học ở bất kì đâu, thậm chí không cần sách vở. Nếu có bạn cùng học, hai người kiểm tra kiến thức cho nhau là tốt nhất. Việc hệ thống kiến thức theo các bảng, theo các nhánh cây, các mô hình, và việc liên hệ giữa văn học với cuộc sống, nhất là cuộc sống của bản thân cũng giúp các em nhớ kiến thức lâu và sâu sắc. Sau khi đã hiểu và nhớ kiến thức, cần vận dụng lại kiến thức bằng cách làm bài tập, hoặc giải đề thi thử, giải lại một đề đã thi…Dù có học văn - tiếng Việt 12 năm, nhưng cuối cùng của việc thi đại học, cao đẳng vẫn chỉ là viết 3 bài văn nhỏ theo yêu cầu của 1 đề thi trong vòng 180 phút. Vì vậy không gì tốt hơn là tập viết bài theo yêu cầu của đề thi đại học. Các em có thể tự xây dựng đáp án, biểu điểm, tự chấm bài cho nhau, hoặc nhờ ai đó chấm. Để dễ nhớ dẫn chứng và học văn đạt kết quả tốt, cần đọc tác phẩm. Các em nên đọc trước khi bài được học trên lớp, khi chưa hề nghe giảng, đọc bằng một văn bản hoàn toàn mới, chưa hề có ai đánh dấu. Điều này rất quan trọng, bởi những ấn tượng ban đầu của các em khi tiếp xúc với tác phẩm sẽ được nhớ rất lâu, và giúp định hướng hiểu tác phẩm. Các em nên đọc tác phẩm và học văn vào sáng sớm, khi đọc, nên đánh dấu lại những chi tiết, hình ảnh, từ ngữ mà mình cho là quan trọng, hoặc thấy hay, thấy có ý nghĩa và xúc động, đồng thời ghi nhớ luôn các chi tiết ấy vào não để vận dụng lại vào bài viết sau này. Nhìn chung, để học văn đạt hiệu quả cao, các em phải học văn bằng chính cái đầu và trái tim của mình, tự tìm một con đường đi cho riêng mình. Giáo viên là người hướng dẫn, dìu dắt, đồng thời đánh giá, thẩm định kết quả, chứ không làm thay, học thay, nghĩ hộ các em được. Nếu chỉ cần chăm chỉ, cần cù là có thể vào được đại học, thì con trâu, con bò đã vào đại học hết rồi. Cô Tấm cần cù, chịu khó mò cua, bắt tép cả ngày, nhưng vì không tỉnh táo, để con Cám lừa cướp toàn bộ công sức và thành quả lao động của mình. Hãy học một cách có phương pháp, học một cách tỉnh táo, thông minh để vừa đạt hiệu quả cao, vừa đỡ tốn kém thời gian, sức lực và tiền bạc. BỐN LƯU Ý KHI ÔN TẬP MÔN VĂN • Một là, dựa trên cơ sở đề thi của Bộ ở những năm trước đây, thì cấu trúc của đề thi văn không phân ban thường gồm ba câu. Ba câu này rải đều trên cả hai phương diện văn xuôi và thơ cũng như trên cả hai chặng đường trước 1945 và sau 1945 (lớp 11 và 12). Vì vậy thí sinh phải học toàn diện, không được học tủ. • Hai là, cấu trúc đề thi thường theo tỷ lệ điểm 2 - 3 - 5. Trong đó, câu 2 điểm chỉ thuần túy là kiến thức giáo khoa. Câu 3 điểm gắn liền với năng lực cảm thụ. Còn câu 5 điểm bao quát trong đó những yêu cầu của hai câu đầu đồng thời là sự tổng hợp, so sánh với những kiến thức khác. Điều này đòi hỏi thí sinh phải có kiến thức rất chắc về tất cả các tác phẩm đã được học trong chương trình chính khóa để có thể giải quyết được tốt yêu cầu của từng loại câu một. • Ba là, chương trình thi thường chỉ rơi vào những tác phẩm nằm trong chương trình chính khóa chứ không rơi vào những tác phẩm nằm trong chương trình đọc thêm. Cho nên thí sinh chỉ giới hạn phạm vi ôn tập của mình trong chương trình chính khóa của văn học hiện đại từ lớp 11 đến hết lớp 12. • Bốn là, cần lưu ý đến hình thức làm bài. Thí sinh nên cố gắng viết sáng sủa, rõ ràng, dễ đọc. Trong đó chú ý độ dài, nó không chỉ thuần túy là hình thức mà phải là hình thức phản ánh nội dung, nếu không có kiến thức thì không viết được dài. Thí sinh viết khoảng 6 đến 7 trang giấy thi mới chở tải hết kiến thức. Nếu thí sinh chỉ viết được 3-4 trang giấy thi thôi thì rất dễ rơi vào tình trạng sơ lược, đơn giản. Hình thức của tác phẩm còn bao hàm cả lỗi chính tả, lỗi ngữ pháp. Nếu không tránh khỏi những lỗi này thì cũng phải giảm đến mức thấp nhất. Một bài văn vướng quá nhiều lỗi chính tả, lỗi ngữ pháp thì chắc chắn sẽ bị điểm kém. BA YÊU CẦU CỦA MỘT BÀI VĂN LÍ TƯỞNG •Thứ nhất là ý tứ phải đầy đủ, phong phú. Thí sinh phải hiểu vấn đề qua tư duy vừa khái quát vừa cụ thể. Nghĩa là một vấn đề đòi hỏi gắn liền với những chi tiết rất cụ thể. Nó gắn liền với những sự kiện, hiện tượng, hình ảnh ở trong tác phẩm văn chương. Đồng thời thí sinh phải bày tỏ suy nghĩ, đánh giá, rung động của mình qua những hiện tượng, hình ảnh đó. Sau đó, thí sinh cần khái quát lại những vấn đề vừa nêu. •Thứ hai là cấu trúc của bài viết phải chặt chẽ. Nghĩa là một vấn đề phải được giải quyết bằng những ý lớn, ý nhỏ; bằng những luận điểm, luậån cứ. Giữa những ý lớn, ý nhỏ, luận điểm, luận cứ này cần có mối quan hệ với nhau bằng những ý trung gian, bằng những câu trung gian. Trong quá trình viết thí sinh cũng nên sử dụng các dấu ngắt câu, xuống hàng cho hiệu quả. Bài viết càng nhiều dòng xuống hàng tạo cho người chấm thi cảm giác ý tứ phong phú (mỗi lần xuống hàng là một lần chuyển ý). Cuối cùng là viết sao cho rung động, sao cho hay. Đây là một yêu cầu rất khó. Trong quá trình làm bài chỉ có những thí sinh thật sự xuất sắc mới đạt được ba yêu cầu này. Thông thường thí sinh làm tốt hai yếu tố trên là đã đáp ứng đủ yêu cầu đề thi. Cơ cấu điểm của đề thi sẽ là 2-5-3 như mọi năm trong đó 5 điểm dành cho câu hỏi phân tích, 2 điểm cho câu tái hiện kiến thức và 3 điểm dành cho câu tự chọn - khó hơn một chút dùng để phân loại thí sinh (có thể là câu yêu cầu bình giảng hoặc một chút cảm thụ). Câu hỏi của đề thi càng ngày càng đơn giản. Với kiểu đề thi này, thí sinh phải có kỹ năng lập dàn ý, biết tách vấn đề, biết chi tiết hóa vấn đề, khái quát đề thành các ý nhỏ. Thí sinh hay có thói quen cứ nghe nói đến tác phẩm hay nhân vật nào đó là lập tức chép ngay từ đầu đến cuối vì thuộc lòng nên nhiều khi điểm không cao. Để tránh lỗi này, thí sinh nên bắt đầu làm bài bằng việc đọc kỹ đề thi, tránh hiện tượng đọc lướt - căn bệnh mãn tính của học sinh. Để tránh lỗi diễn đạt mà học sinh thường mắc trong khi làm bài thi, thí sinh nên cố gắng hiểu vấn đề và diễn đạt theo cách của riêng mình thì văn chương mới mạch lạc, hồn nhiên. Sau cùng, thí sinh thường tưởng là văn làm càng dài thì càng được nhiều điểm là sai lầm. Với thời gian ấy, dung lượng bài làm ấy thì chỉ cần phủ kín 2 tờ giấy thi là đạt yêu cầu, không cần 10 hay 13 trang như người ta vẫn nghĩ. •Một điều nữa, Văn D và Văn C không có sự rạch ròi dễ hơn khó hơn như người ta nghĩ, hãy làm bài tốt nhất có thể. MÔN VĂN: NHỮNG VẤN ĐỀ THEN CHỐT Với chủ trương ra đề bám sát chương trình lớp 11 và 12 của Bộ GD-ĐT, nội dung trong 3 câu của một đề thi Văn chỉ xoay quanh những kiến thức cơ bản. Vì vậy yêu cầu thí sinh phải nắm chắc kiến thức của chương trình sách giáo khoa. Nội dung đề thi tập trung ở văn học Việt Nam trong hai giai đoạn 1930-1945 và 1945-1975. 1.Định hướng cách học: Trước giờ thi Việc hệ thống kiến thức là rất cần thiết, thí sinh nên lập bảng danh mục tác giả - tác phẩm, hoàn cảnh ra đời, đặc điểm nội dung và nghệ thuật của từng tác phẩm. Từ đó rút ra những đặc điểm chính của từng giai đoạn văn học. Ví dụ như đặc điểm của truyện lãng mạn 1930-1945 là con người tài hoa khí phách (nhân vật lý tưởng của Nguyễn Tuân) với sự chiến thắng của thiên lương và tình người. Quan niệm thẩm mỹ: Cái đẹp phải gắn với cái thiện, cái đẹp không thể ở chung với cái ác, cái xấu (Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân). Cuộc sống tàn lụi, leo lét một cách tội nghiệp trong nghèo đói, buồn chán và tối tăm của những kiếp người nhỏ bé, vô danh; ước mơ khao khát vươn tới một cuộc sống tốt đẹp hơn, có ý nghĩa hơn (Hai đứa trẻ - Thạch Lam). Bên cạnh đó, thí sinh nên hệ thống vấn đề như: tình yêu quê hương đất nước trong thơ Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khoa Điềm hay số phận người lao động, vẻ đẹp tâm hồn của họ qua các tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân, Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài. Xu hướng ra đề những năm gần đây thường tổng hợp những vấn đề như “Anh/chị hãy phân tích bài thơ Chiều tối (Mộ) và bài thơ Giải đi sớm (Tảo giải) ở tập Nhật ký trong tù (Ngục trung nhật ký) để làm nổi bật những nét đẹp trong tâm hồn tác giả Hồ Chí Minh” (Câu 2, khối C, năm 2004). Cùng với việc hệ thống là nên đọc kỹ phần tiểu dẫn chữ nhỏ trong sách giáo khoa. Ở đó tập trung những vấn đề cốt lõi giúp các em nắm bắt tác phẩm. Nên luyện tập trả lời những câu hỏi hướng dẫn học cuối mỗi bài bởi lẽ ngay trong câu hỏi đã hàm chứa phần nào câu trả lời và nội dung trọng tâm của bài. Cấu trúc một đề thi: Câu 1 (2 điểm): Kiểm tra kiến thức cơ bản, thường hỏi về những vấn đề như: sự nghiệp văn học của một tác giả, phong cách nghệ thuật của tác giả, ý nghĩa nhan đề tác phẩm và hoàn cảnh ra đời của một tác phẩm. Câu 2 và câu 3 (mỗi câu từ 3 đến 5 điểm): Nhằm kiểm tra năng lực cảm thụ, phân tích tác phẩm cả thơ và văn xuôi; thường là bình giảng, phân tích một đoạn thơ, phân tích một nhân vật hay yêu cầu nêu giá trị nhân đạo của một tác phẩm cụ thể nào đó. Mục đích hai câu này vừa kiểm tra được kiến thức, vừa đánh giá được kỹ năng làm bài của thí sinh. 2.Định hướng cách làm Trước hết thí sinh cần đọc kỹ đề, chú ý các khái niệm, thể loại và phạm vi dẫn chứng mà đề yêu cầu. Chú ý các yêu cầu của đề qua những “câu lệnh” như: “Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên) để làm rõ những tình cảm sâu nặng của tác giả đối với nhân dân” . Khi phân tích đề, thí sinh cần chú ý đến từng dấu chấm, dấu phẩy, dấu ngoặc đơn, ngoặc kép để định hướng cách làm bài. Ví dụ như đề thi khối C năm 2004: “Phân tích hình ảnh thiên nhiên và con người ở phố huyện nghèo lúc chiều tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam (chú ý làm rõ những nét đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả của tác giả)”. Yêu cầu cụ thể của đề được ghi trong ngoặc đơn nhằm gợi ý hướng làm bài cho thí sinh. Vì vậy, nếu không chú ý, thí sinh có thể chỉ phân tích bức tranh phố huyện lúc chiều tối. Đặc biệt, cần lưu ý số điểm của mỗi câu, từ đó phân bố thời gian làm bài cho phù hợp cũng như định lượng mức độ kiến thức đề yêu cầu, tránh sa đà vào một nội dung nào đó mất quá nhiều thời gian. Đáp án chấm bao giờ cũng tính điểm chi tiết cho từng nội dung nhỏ. Tuy nhiên, đối với môn văn, khi chấm, giám khảo còn xem xét cả hành văn, cách diễn đạt của thí sinh. MÔN VĂN: NĂM LƯU Ý ĐỂ ĐẠT KẾT QUẢ CAO Để hoàn thành bài thi môn Văn với kết quả tốt nhất, các em cần lưu ý 5 điểm sau đây khi học ôn: • Các em hãy nhìn phụ lục của hai bộ sách giáo khoa Ban cơ bản và Nâng cao và hãy nhìn phần mục lục xem phần giao nhau giữa hai chương trình cơ và nâng cao, tìm những tác giả, tác phẩm giống nhau thì học ôn, đó chính là phần trọng tâm. Ví dụ: Văn xuôi, phần giao nhau giữa hai chương trình là những tác phẩm có từ trước cách mạng như “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân, “Chí phèo” của Nam Cao, “Hạnh phúc của một tang gia” của Vũ Trọng Phụng- Đó là những bài ở lớp 11 Còn lớp 12: “Vợ chồng A phủ của Tô Hoài, “Vợ nhặt” của Kim Lân, “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, “Rừng Xà Nu” của Nguyễn Trung Thành . Còn phần Hồ Chí Minh thì có “Tuyên ngôn độc lập” và truyện ngắn “Vi hành”. Còn về thơ: Sau một số bài thơ lãng mạn của lớp 11, Tràng Giang (Huy Cận), Vội vàng (Xuân Diệu), Đây thôn vĩ dạ (Hàn Mạc Tử). Đến lớp 12 thì có Tây Tiến (Quang Dũng), Đất nước (Nguyễn Đình Thi), Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên), Sóng (Xuân Quỳnh), đặc biệt là bài Việt Bắc (Tố Hữu), Những bài tham khảo các em không quan tâm vì Bộ GD&ĐT không yêu cầu ra đề thi ở phần này. • Hãy nắm bắt kỹ những thông tin về tác giả của những tác phẩm nằm trong phần trọng tâm. Lâu nay, những người ra đề văn thường không ra vào những vấn đề nghị luận chung chung mà hướng tới những câu cụ thể liên quan trực tiếp đến tác giả, tác phẩm. Một nhược điểm của học sinh bây giờ là ít đọc tác giả, tác phẩm hay nói đúng hơn là không biết đọc tác phẩm mà chỉ chăm chăm nghĩ đến . bài mẫu trong khi không phải bài văn mẫu nào cũng tốt cả vì nhà nhà làm sách, nên cứ sao chép của nhau! Đây là cách học ngọn, chưa tự sống và cảm thụ tác phẩm nên chỉ tiếp thu một cách bị động. Học văn phải cảm thụ ngay từ trong cách hiểu của mình thì mới có khả năng tự phân tích bài viết. • Đọc và hiểu tác phẩm như thế nào cho hiệu quả nhất ? Phải nắm được hoàn cảnh ra đời của tác phẩm đó, tâm trạng, tâm thế , ý đồ của tác giả. Phải nắm được mạch của tác phẩm và hình tượng trung tâm. Đặc biệt là thuộc những hình ảnh hay. Trong văn xuôi: Phải nắm được cốt chuyện và tình huống. Đặc biệt là phải nắm nhân vật để phân tích. Vì “đơn vị” cơ bản nhất của văn xuôi tự sự là nhân vật. Nhà văn bao giờ cũng truyền tải nội dung, chủ đề quan niệm nhân sinh qua hệ thống nhân vật, tương quan giữa các nhân vật, đặc biệt là nhân vật chính. Phải biết nắm được đặc điểm này thì mới có một dàn bài chi tiết làm bài. Ngoại hình, đặc tả, ngôn ngữ nhân vật, đời sống nội tâm nhân vật, hành động cử chỉ gây ấn tượng của nhân vật . Nhớ cốt chuyện, tình huống, nhân vật trung tâm, những bước ngoặt của dòng cốt chuyện, quan trọng nhất là nắm nhân vật, quan hệ của nhân vật, chính, phụ, phản diện, chính diện, ngôn ngữ, cử chỉ nhân vật. Phân tích nhân vật phải nắm tính cách, số phận của nhân vật. Các em phải nhớ chi tiết cụ thể để có chất liệu làm bài. Phải có ý thức đọc để làm bài, đọc phải nhớ, phải có định hướng. • Phải biết vận dụng những kiến thức mình học được để làm bài. Không nên phụ thuộc vào bài mẫu. Phải tự tiết chế bài viết, không nên quá say sưa mà quá đà. Nhiều em học sinh bây giờ khi đọc đề là thấy đúng với những gì mình đã đọc ở bài mẫu này rồi và viết hết lên những gì mình đã học, chứ không biết ý thức là vận dụng kiến thức mình đã có để tổ chức bài làm theo yêu cầu cụ thể của đề mà cứ viết . Nên vận dụng những kiến thức mình đã học để tổ chức sắp xếp bài viết của mình chứ không phụ thuộc vào bài mẫu nào, bài giảng nào. • Phải biết bố trí hợp lý thời gian hoàn thành cho từng câu. Bố trí thời gian và lượng viết cho cân đối. Không nên quá sa đà vào từng câu, phải biết mức độ yêu cầu từng câu và hoàn thành kịp thời, trọn vẹn bài thi. Chúc các em làm bài thi tốt! Xem chi tiết tại: http://thuycampy.violet.vn . BÍ QUYẾT ÔN THI ĐẠI HỌC MÔN VĂN • Chọn thầy mà học, chọn sách mà đọc: Chỉ những người có năng lực đăc biệt xuất sắc mới có khả năng tự học và đạt. với môn văn, khi chấm, giám khảo còn xem xét cả hành văn, cách diễn đạt của thí sinh. MÔN VĂN: NĂM LƯU Ý ĐỂ ĐẠT KẾT QUẢ CAO Để hoàn thành bài thi môn Văn

— Xem thêm —

Xem thêm: Tài liệu BÍ QUYẾT ÔN THI ĐẠI HỌC MÔN VĂN, Tài liệu BÍ QUYẾT ÔN THI ĐẠI HỌC MÔN VĂN, Tài liệu BÍ QUYẾT ÔN THI ĐẠI HỌC MÔN VĂN

Lên đầu trang

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.165318012238 s. Memory usage = 13.9 MB