Tài liệu Giáo trình trồng rừng - Chương 3 ppt

tailieuhay_1289
tailieuhay_1289(15246 tài liệu)
(5 người theo dõi)
Lượt xem 6
3
Tải xuống 2,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 42 | Loại file: PDF
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 14/12/2013, 12:15

Mô tả: 58 những loài cây nông nghiệp trồng xen không gây cản trở tới sinh trưởng, phát triển, gây sâu bệnh cho cây giống. * Biện pháp tạo tán cho cây giống: Nhằm tạo cho tán cây phát triển cân đối, tán rộng, thấp tạo điều kiện cho cây ra hoa kết quả tốt, thu hái dễ dàng (tỉa cành già cỗi, sâu bệnh, đốn ngọn, vít cành .) Sử dụng chất điều tiết sinh trưởng thực vật: Mục đích là khống chế, đi ều tiết sự ra hoa kết quả của cây giống, đây là biện pháp rẻ tiền, mà hiệu quả, đang được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp và nghề vườn. Các chất thường dùng là các hoặc môn thực vật và các chất tổng hợp nhân tạo để "kích thích" hay "ức chế". Ví dụ: apola và apota gibberellin để kích thích ra hoa, các chất tổng hợp nhân tạo như: CCC (clorcholin chlorid ); CEPA (Ethyrel ). Tác dụng của các chất đi ều tiết sinh trưởng thực vật đến sự hình thành hoa, tuỳ theo loài cây mà có liều lượng và nồng độ khác nhau. Chương III KỸ THUẬT SẢN XUẤT CÂY CON Trồng rừng bằng cây con là phương pháp phổ biến và chủ yếu ở nước ta hiện nay. Ươm cây con là công tác quan trọng và phức tạp. Chất lượng cây con tốt hay xấu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng rừng trồng và hiệu quả của công tác trồng rừng. Nhiệm vụ của công tác ươm cây là trên một đơn vị diện tích, với thời gian ngắn nhất sản xuất dượ c số lượng cây con nhiều nhất, chất lượng tốt nhất, đồng thời giá thành hạ. Muốn đạt được mục tiêu đó phải giải quyết các khâu về lý luận và kỹ thuật tăng năng suất cây con, thực hiện thâm canh trong công tác ươm cây. Có nhiều phương pháp sản xuất cây con như: Sản xuất cây con trên nền thấm nước và nền không thấm nước; Trong bầu dinh dưỡng; Sản xuất cây con bằng phươ ng pháp nhân giống vô tính: (Chiết, ghép, giâm hom, nuôi cấy mô .). Mỗi phương pháp có đặc điểm riêng, về mặt kỹ thuật không thể có quy trình chung cho tất cả các phương pháp. Tuy vậy về mặt nguyên lý đều có những đặc điểm chung là phải tạo được nguồn giống tốt điều kiện sinh trưởng của cây con phải thuận lợi . Vườn ươm là nơi tập trung gieo cấy, nuôi dưỡng nhằm tạo cây con đạt được tiêu chuẩn xuất vườn. 3.1. PHÂN LOẠI VƯỜN ƯƠM Dựa vào yêu cầu kỹ thuật cơ bản, quy mô, thời gian sử dụng, vườn ươm được chia thành các loại như sau: 59 3.1.1. Theo nguồn giống chia ra Vườn ươm tạo cây con từ hạt Vườn ươm tạo cây con từ hom 3.1.2. Theo kỹ thuật chia ra: - Vườn ươm tạo cây con rễ trần trên nền đất thấm nước. - Vườn ươm tạo cây con trong bầu dinh dưỡng trên nền đất thấm nước. - Vườn ươm tạo cây con trong bầu dinh dưỡng đặt trên nền cứng không thấm nước. 3.1.3. Theo quy mô chia thành 3 loại: - Vườn ươm nhỏ - Vườn ươm trung bình - Vườn ươm lớn Diện tích, công suất của từng loại vườn ươm được quy định ở bảng sau Bảng 3-1. Quy mô vườn ươm Vườn ươm từ hạt Vườn ươm từ hom TT Quy mô Diện tích vườn (ha) Công suất (triệu Cây tiêu chuẩn/năm) Diện tích vườn (ha) Công suất (triệu Cây tiêu chuẩn/năm) 1 Nhỏ Dưới 1,0 Dưới 0,5 Dưới 0,7 0,1 đến 0,5 2 T. bình 1,5 đến 5 0,5 đến 2 0,7 đến 3 0,5 đến 2 3 Lớn Trên 5 Trên 2 Trên 3 Trên 2 Ghi chú: Bảng trên tính cho vườn ươm từ hạt đê tạo cây con tiêu chuẩn dưới 1 năm tuổi, liên canh và vườn ươm từ hom dưới 6 tháng tuổi, liên canh. 3.1.4. Theo thời gian sử dụng chia ra 3 loại: - Vườn ươm tạm thời: Thời gian sử dụng dưới 3 năm - Vườn ươm bán lâu dài: Thời gian sử dụng từ 3 đến 10 năm. - Vườn ươm lâu dài: Thời gian sử dụng trên 10 năm. 3.2. CHỌN ĐỊA ĐIỂM LẬP VƯỜN ƯƠM Vườn ươm là nơi nuôi dưỡng cây con với các biện pháp kỹ thuật liên hoàn, chăm sóc với cườ ng độ cao. Do đó chọn địa điểm xây dựng vườn ươm thích hợp, không những có ảnh hưởng đến sản lượng, chất lượng và giá thành cây con mà còn có ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác trồng rừng .Nên chọn địa điểm xây dựng vườn ươm cần căn cứ vào những điều kiện sau: 3.2.1. Điều kiện tự nhiên * Điều ki ện địa hình: 60 + Độ dốc: Đất vườn ươm nên chọn những nơi có địa hình tương đối bằng phẳng, thoát nước tốt độ dốc dưới so nếu nơi có độ dốc lớn hơn so, hoặc lồi lõm thì cần phải cải bằng khi xây dựng + Hướng phơi: Có ảnh hưởng đến điều kiện tiểu khí hậu, mức độ ảnh hưởng mạnh hay yếu còn ph ụ thuộc vào vĩ độ địa lý và độ cao so với mặt biển, thường những nơi có khí hậu ấm áp thì nên chọn hướng Bắc hay hướng Đông, những nơíkhí hậu khô lạnh thì nên chọn hướng Tây hoặc hướng Nam. + Độ cao so với mặt biển: Càng lên cao nhiệt độ càng giảm, sương mù càng nhiều, gió mạnh, mùa sinh trưởng ngắn. Nên ở vùng núi cao khi chọn vườn ươm cần chú ý những vấn đề này. Ngoài ra nên tránh nhữ ng nơi có gió lùa mạnh thường xuyên, nơi thung lũng hẹp ít ánh sáng hoặc nơi gần rừng già. * Điều kiện đất đai: Đất là hoàn cảnh để cây con sinh trưởng, phát triển sau này, cây con sinh trưởng, phát triển tốt hay xấu là do đất cung cấp chất dinh dưỡng, nước và không khí cho cây có được đầy đủ hay không quyết định. Chất dinh dưỡng, nước và không khí trong đất có đầy đủ cho cây hay không chủ yếu là do: Thành phần cơ giới, độ phì, độ ẩm, độ pH . của đất quyết định + Thành phần cơ giới của đất: Đất vườn ươm nên chọn thành phần cơ giới cát pha có kết cấu tơi xốp, thoáng khí, khả năng thấm nước và giữ nước tốt, loại đất này thuận lợi cho hạt giống nẩy mầm, sinh trưởng của cây con, dễ làm đất và chăm sóc cây con hơn . Tuy nhiên chọn đấ t xây dựng vườn ươm cũng cần căn cứ vào đặc tính sinh vật học loài cây, ví dụ: Gieo ươm cây Mỡ ùn đất thịt trung bình, đất tơi xốp, thoáng khí và ẩm. Gieo ươm cây Thông ưa đất cát pha, thoát nước tốt. Chú ý: Không nên chọn đất sét chặt bí hoặc đất cát tơi rời, không thích hợp với nhiều loài cây + Độ phì của đất: Đất có độ phì tốt là đất có hàm lượng cao các chất dinh dưỡng khoáng chủ yếu cho cây nh ư: N, P, K, Mịt, Ca và các chất vi lượng khác .Đồng thời tỷ lệ các chất phải cân đối và thích hợp. Gieo ươm trên đất tốt cây con sinh trưởng càng nhanh, khoẻ mập, các bộ phận rễ, thân, cành, lá phát triển cân đối. Mặt khác cây con đem trồng rừng có tỷ lệ sống và sức đề kháng cao với hoàn cảnh khắc nghiệt nơi trồng, giảm được công chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại . Vì vậy chọn đất vườn ươm c ần có độ phì cao. + Độ ẩm của đất: Có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển cân đối giữa các bộ phân dưới mặt đất và trên mặt đất của cây con. Đất quá khô hoặc quá ẩm đều không tốt Mực nước ngầm trong đất cao hay thấp có liên quan đến độ ẩm của đất, mực nước ngầm thích hợp cho loại đất cát pha ở độ sâu là 1,5 - 2m; Đất sét là trên 2,5m. Ch ọn đất vườn ươm không nên chỉ dự vào độ ẩm của đất, mực nước ngầm cao hay 61 thấp mà còn tùy thuộc vào đặc tính sinh vật học của từng loài cây ươm. Ví dụ: Gieo ươm cây Phi lao nên chọn đất thường xuyên ẩm, song gieo ươm cây Thông cần phải chọn đất nơi cao ráo, thoát nước. + Độ pH của đất: Có ảnh hưởng tới tốc độ nảy mầm của hạt giống và sinh trưởng của cây con, đa số các loài cây thích hợp với độ pa trung tính, cá biệt có loài ưa chua như cây Thông, ưa kiềm như Phi lao. * Sâu bệnh hại Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều nên hầu hết các vườn ươm đều có nhiều sâu, bệnh hại, làm ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng cây con, tăng giá thành sản xuất cây con, thậm chí có nơi còn dẫn đến thất bại hoàn toàn. Cho nên trước khi xây dựng vườn ươm cần điều tra mức độ nhiễm sâu bệnh hại củ a đất, để có biện pháp sử lý đất trước khi gieo ươm hoặc không xây dựng vườn ươm ở những nơi bị nhiễm sâu bệnh nặng. Chú ý: Không nên chọn đất vườn ươm ở nơi đã qua canh tác rau màu, hoặc nơi sát với từng già . 3.2.2. Điều kiện kinh doanh. * Vườn ươm đặt trung tâm nơi trồng rừng Nơi trồng rừng luôn biến động, trồng r ừng là một hoạt động sản xuất có tính chất thời vụ nghiêm ngặt, mùa trồng rừng thường chỉ tập trung trong một thời gian rất ngắn, đặc biệt trong hoàn cảnh nước ta hiện nay giao thông đi lại khó khăn, phương tiện vận chuyển còn thô sơ, vì vậy cần chọn vườn ươm ở trung tâm nơi trồng ưng. * Vườn ươm đặt gần nguồn nước tưới Nguồn nước mới phải là nước ngọt, độ pa 6,5 - 7,0, hàm lượng muối Nhét <0,2% sạch, có đủ nước tưới trong mùa khô, thoát nước tốt, sau cơn mưa nước tiêu thoát ngay, không bị úng ngập sau mưa lũ. Gần nguồn điện: Vườn ươm cần có nguồn điện đều, điện áp đủ và ổn định. * Gần trục đường giao thông: Vườn ươm xe tải 5 tấn có thể ra vào vườn được, ít hoặc không phải đầu tư sửa đường. Diện tích, quy hoạch đất vườn ươm. Diện tích vườn ươm Diện tích đất vườn ươm bao gồm đất sản xuất và đất phụ trợ. Đất sản xuất gồm đất trực tiếp gieo hạt, nuôi cây và đất luân canh. Đất phụ trợ gồm: Hệ thống đường trong vườn, hệ thố ng tưới tiêu, đất lãnh luống, hệ thống nhà, kho, sân bãi và bờ rào .Diện tích đất phụ trợ được xác định theo quy mô của vườn. Ở Việt Nam hiện nay chưa có quy định chính thức, qua thực tiễn sản xuất cho thấy đất 62 phụ trợ vườn ươm loại nhỏ thường chiếm 40 - 45%, vườn ươm loại trung bình chiếm 30 - 40%, vườn ươm loại lớn chiếm 30% diện tích đất vườn ươm. Để tính diện tích đất sản xuất cần phải căn cứ vào nhu cầu mỗi năm về cây con, tuổi cây con số lượng cây con đủ tiêu chuẩn llm2 hay im của rạch gieo và chế độ canh tác. - Diện tích đất sản xuất trong trườ ng hợp sản xuất liên canh được tính theo công thức: - Diện tích đất sản xuất trong trường hợp sản xuất luân canh được tính. theo công thức: Trong đó: P: Là diện tích đất sản xuất cho một loại cây theo đơn vị (m 2 hoặc ha) N: Số lượng cây con phải sản xuất hàng năm (cây) n: Sản lượng cây con hợp lý trên một đơn vị diện tích (m 2 hoặc ha) A: Tuổi nuôi cây con. (Hệ số tuổi nuôi cây con ở vườn ươm được quy định: A=l Với những loài cây gieo ươm mỗi năm chỉ được một vụ; A=0,5 Với những loài cây gieo ươm mỗi năm được hai vụ). B: Tổng số các khu trong vườn ươm C: Số khu sử dụng để gieo ươm hàng năm. Nếu sản xuất nhiều loài cây, tính diện tích đất cho từng loài, căn cứ vào di ện tích đất sản xuất để tính đất vườn ươm, từ đó tính diện tích đất phụ trợ theo quy định cho từng loại vườn. 3.3.2. Quy hoạch đất vườn ươm Quy hoạch vườn ươm là phân chia đất vườn ươm thành nhiều khu và đề xuất phương hướng sử dụng một cách hợp lý nhằm lợi dụng triệt để đất và các điều kiện khác của v ườn. 3.3.2.1. Quy hoạch đất sản xuất Đất vườn ươm được chia thành các khu: Khu gieo hạt; khu nuôi cây; khu nghiên cứu thí nghiệm; khu dự trữ . Tuỳ theo đặc tính SVH loài cây, đặc điểm điều kiện tự nhiên và điều kiện quản lý kinh doanh mà bố trí cho hợp lý. Nên quy hoạch các khu theo hình chữ nhật, hay hình vuông. Nếu sản xuất thủ công chiều dài khu thường là 30 - 50 m; Nếu bằng cơ giới 63 chiều dài khu thường là 200 - 300m, chiều rộng thường bằng 1/3 đến 1/2 chiều dài. 3.3.2.2. Q uy h oạch đất p h ụ từ Hệ thống đường: Gồm đường chính, đường phụ, đường xung quanh vườn. + Đường chính chia vườn thành 2 - 4 khu và nối liền với trục giao thông bên ngoài. Nếu vườn lớn đường chính rộng 6 - 8 m. Nếu vườn nhỏ đến trung bình đường rộng 3 - 4m. + Đường phụ vuông góc với đường chính rộng 1 - 4 m. + Đường quanh vườn có thể để xe, máy móc quay vòng rộng 6 - 10m. Hệ thống tưới tiêu gồm: Mương dẫn, ống dẫn, giếng, bể, hệ thống vòi phun . bể thường đặt ở vị trí cao nhất của vườn. Hệ thống tưới tiêu không được cản trở đường giao thông trong vườn. Hệ thống hàng rào bảo vệ: Hàng rào có thể là hàng rào xanh, có thể là tường xây . Bề dày rộng 0,3 đến 0,5m cao 2m. Hoặc có thể đào sâu 1,2m rộ ng 1,5 - 1,8m. Nơi có gió hại nên trồng đai rừng chắn gió hại thường bố trí cách vườn lom. Nhà cửa kho sân phơi, nên bố trí ở nơi đất xấu, cao ráo và tiện đường giao thông. 3.4. KỸ THUẬT SẢN XUẤT CÂY CON 3.4.1. Kỹ thuật sản xuất cây con từ hạt 3.4.1.1. Kỹ thuật tạo bầu gieo ươm Bầu gieo ươm cấu tạo gồm 2 phần: Vỏ bầu và ruột bầu. * Vỏ bầu: Là khuôn giữ cho ruột bầu định hình và ổn định. Nên chọn vỏ bầu không gây cản trở sự trao đổi nước và không khí với môi trường xung quanh và không làm độc hại và mang sâu bệnh cho cây con, khi bằng và vận chuyển cây con không hay vỡ bầu, sau khi trồng vỏ bầu có khả năng tự hoại tốt trong đất, nguyên liệu rẻ tiền, tiện lọi . Các loại vỏ bầu: Vỏ bầu bằ ng P.E: Đây là loại vỏ bầu hiện nay đang được sử dụng rất phổ biến ở nhiều cơ sở sản xuất cây con trong cả nước, bởi vì tính ưu việt của nó là: Bền, định hình được ruột bầu tốt, gọn, nhẹ, khi bóng cây và vận chuyển cây đi xa tiện lợi và không dễ vỡ Tuy nhiên hạn chế lớn nhất của loại vỏ bầu này là không tự hoạ i được trong đất sau khi trồng, khó trao đổi nước và không khí với môi trường bên ngoài, dễ tạo ra hiện tượng bức nhiệt. Kích thước tuỳ thuộc vào tuổi nuôi cây mà định. Vỏ bầu bằng đất rơm: Thành phần gồm đất thịt + rơm rạ + phân chuồng hoài + lân được dùng khuôn đóng thành vỏ có kích thước tùy thuộc vào tuổi nuôi cây. 64 Tỷ lệ pha trộn: 100 kg đất + 3 kg rơm rạ + 2 kg phân chuồng loại trong đó có 5% phân lân. Loại vỏ bầu này có thành phần chất dinh dưỡng cho cây, dễ lưu thông nước, không khí, vật liệu sẵn. Tuy nhiên thời gian nuôi cây không được lâu, khi bóng cây, vận chuyển đi trồng, nặng và dễ vỡ nếu nuôi cây lâu rễ đâm xuyên qua vỏ bầu. Một số nơi còn sử dụng loại vỏ bầu bằng tre, nứa, đ an . Có thể tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương và thời gian nhàn rỗi để làm. Ngoài ra trên thế giới hiện nay một số nước tiên tiến còn sử dụng vỏ bầu bằng giấy, có nhiều tiện lợi song giá thành cao so với các loại vỏ bầu khác. * Ruột bầu: Là môi trường trực tiếp nuôi cây, thành phần ruột bầu gồm đất và phân bón. Đất làm ruột bầu th ường sử dụng loại đất có thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình, phân bón là phân hữu cơ đã ủ hoài (phân chuồng, phân xanh), phân vi sinh và phân vô cơ. Tuỳ theo tính chất đất, đặc tính sinh thái học của cây con mà tỷ lệ pha trộn hỗn hợp ruột bầu cho phù hợp. Ví dụ: Hỗn hợp ruột bầu để gieo ươm cây Keo là: 94% đất + 5% phân chuồng 10/0 supe lân. Hỗn hợp ruột bầu gieo ươm cây Mỡ là: 85% đất + 10% phân chu ồng + 4% đất hun + 1 % supe lân. Đất đóng bầu nên chọn đất cát pha hoặc thịt nhẹ đất tầng mặt có độ sâu từ 0 - 30 cm. Tốt nhất là lấy được đất dưới tán rừng Thông, Keo. Theo kinh nghiệm của một số cán bộ lâm nghiệp lấy đất ở nơi có nhiều phân giun đùn lên là tốt. Đất khai thác về cần được phơi ải, đập tơi nhỏ, sàng sạch cỏ rác, đ á sỏi . qua lưới sắt có đường kính lỗ sàng nhỏ 0,5 - 1 cm, thường khai thác và phơi ải đất trước 10- 15 ngày. Phơi ải đất: Phun một ít nước cho đất đủ ẩm, rải đất dày 5-7 cm lên nền phẳng ngoài trời, dùng một tấm vải mưa trong suốt phủ lên trên đống đất, lấy gạch hoặc khúc gỗ chặn kín mép của tấm vải mưa, để nguyên như vậy trong vòng 4-5 ngày là đủ. Bảo quả n đất: Đất ruột bầu sau khi đã xử lí xong, nếu chưa dùng đến ngay thì nên chất đống bảo quan trong kho đất. Nếu để ngoài trời thì lấy một tấm vải mưa phủ lên trên để tránh cho đất bị nhiễm lại mầm mống sâu, nấm bệnh hoặc cỏ dại. Kỹ thuật đóng và xếp bầu: Đất và phân để tạo hỗn hợp ruột bầu phải đượ c trộn đều trước khi đóng bầu. Ruột bầu không nên đóng quá chặt hoặc quá lỏng, ruột bầu phải đảm bảo độ xốp, độ ẩm. Độ xốp của ruột bầu 60 - 70%, kích thước bầu phải phù hợp với tuổi nuôi cây. Bảng 3-2. Quy định cỡ bầu cho từng loại cây TT Cỡ bầu (cm) Loài cây Tuổi cây 1 12 x 18 Thông nhựa, Hồi, Quế, Trám trắng 12 - 18 tháng 3 8 x 12 Thông đuôi ngựa, Mỡ, Lát hoa, Keo lai, Lim xẹt, Sa mộc 6 - 12 tháng 4 7 x 11 Keo tai tượng, Keo lá tràm 3 - 5 tháng 65 Hình 3.1: Trình tự các bước đóng bầu Trình từ các bước đóng bầu: Trộn hỗn hợp ruột bầu, kiểm tra độ ẩm của đất, mở miệng túi bầu, dồn đất vào bầu (Nén chặt 1/3 đáy bầu còn 2/3 bầu phía trên lỏng hơn), hoàn chỉnh bầu Xếp bầu: * Xếp bầu trên nền luống đất: Luống để xếp bầu phải có nề n phẳng. Tuỳ theo tình hình khí hậu, đất đai mà tạo mặt bằng đáy luống chìm hay bằng. Đáy luống chìm bố trí thấp hơn mặt vườn ươm 5 - 7 cm, chiều rộng đáy luống 1 - 1,2 m, chiều dài luống tuỳ theo các khu đất của vườn, có thể 5, 10, 15 m . Luống bằng được bố trí bằng mặt vườn ươm. Xếp bầu theo hàng tạo thành luống bầu theo đáy luống. Dùng đất tơi mị n vun xung quanh luống để cố định luống bầu. 66 3.4.2. Kỹ thuật xây bể nuôi cây Nuôi cây bằng bầu dinh dưỡng trên nền cứng, tưới nước cho cây theo phương pháp tưới thấm, do đó đòi hỏi bể phải được xây dựng bằng vật liệu không thấm nước (Gạch, cát xi măng .) đáy bể phải bằng phẳng, độ chênh cao giữa chỗ cao nhất và thấp nhất của đáy bể không vượt quá 0,5 cm và có lỗ để thoát nước. Kích thước c ủa bể tuỳ thuộc địa hình, kỹ thuật và vật liệu xây bể, nói chung kích thước thường có chiều dài 5 - 10 m, rộng 1,2 - 1,5 m, cao 10 - 15 chỉ, chiều dày thành bể 7 -12 cm, xung quanh đáy phía trong bể có khe rộng 2 cm, sâu 1 - 2 cm, nền đáy bể cao hơn rãnh đi lại 10 - 15 chỉ để dễ thoát nước. Xếp bầu vào bể nuôi cây: Bầu được xếp thành khối, mỗi khối khoảng 100 bầu, để bầu không nghiêng đổ, dùng thanh tre, nứa nhỏ nẹp bu ộc riêng từng khối. Để nước trong bể dễ lưu thông, các khối xếp cách nhau 5 cm và cách thành bể 5 cm. 3.4.3. Kỹ thuật gieo hạt. Công việc chuẩn bị trước khi gieo hạt. * Xử lý kích thích hạt: Nhằm tiêu độc, diệt sâu nấm, bệnh, phòng trừ chim kiến ăn hại, tạo điều kiện cho hạt nảy mầm nhanh, mạnh và đồng đều. - Xử lý hạt: Có thể dùng Fooc ma lin 0,15% ngâm trong 15- 30 phút sau đó vớt ra rửa sạch nhiều lần hong khô, nêu xử lý trước khi kích thích hạt 1 - 2 ngày. Loại thuốc này thường dùng với những loại hạt nhỏ. Dùng nước vôi trong 1 - 2% ngâm trong 24 - 36 giờ thường áp dụng với loại to hoặc vỏ dày. Dùng thuốc tím nồng độ 0,5% ngâm 2 giờ hoặc loại nồng độ 3% ngâm trong 30 phút. Dùng thuốc bột Corezan trộn lẫn với hạt tỷ lệ 0,2- 0,4 g/kg bịt kín 1 đêm .dùng cho loại hạt nhỏ hoặc vừ a. 67 - Kích thích hạt giống: Hầu hết tất cả các loại hạt giống đều cần thiết phải kích thích hạt nẩy mầm. Là biện pháp chủ yếu nhằm tác động vào vỏ hạt làm cho hạt dễ thấm nước và không khí để hạt xúc tiến quá trình hoạt động sinh lý trong nội bộ hạt, thúc đẩy sự hình thành rễ và mọc mầm. Có nhiều phương pháp kích thích hạt nẩy mầm tuỳ vào đặc đ iểm, tính chất vỏ hạt: Phương pháp dùng nhiệt độ: Nhiệt độ làm cho vỏ hạt nứt nẻ hoặc mềm ra, tạo điều kiện cho nước và không khí thấm qua vỏ vào trong hạt, tăng cường quá trình hoạt động sinh lý trong nội bộ hạt mạnh hơn. Có nhiều hình thức tạo nhiệt như dùng nước nóng, đốt hạt .Tuỳ theo cấu tạo của vỏ hạt, thành phần các chất ch ứa trong hạt mà sử dụng nhiệt độ cao, thấp, thời gian dài ngắn khác nhau. Ví dụ: Hạt có vỏ dầy, cứng hoặc vỏ khó thấm nước như: Trám, Lim, Xoan, Ràng ràng mít, Keo lá chăm, Keo tai tượng, Muồng đen, .Có thể ngâm nước nóng 95 - 100 0 C trong thời gian 6 - 8 giờ. Hạt có vỏ mỏng tương đối dễ thấm nước như một số loại Thông, một số loại Bạch đàn, . Ngâm nước nóng 40 - 45 0 C trong thời gian 6- 12 giờ. Các loại hạt có dầu như: Quế, Mỡ, Bồ đề, Ngâm nước ấm 35 - 40 0 C trong thời gian 6 giờ. Hạt có vỏ mỏng, dễ thấm nước như Cốt khí, Đậu thiều . Có thể ngâm nước thường 20 - 25 0 C trong thời gian 1 - 2 giờ. Trình tự các bước tiến hành xử lý kích thích hạt giống trước khi gieo: Bước 1: Vệ sinh sạch sẽ dụng cụ dùng xử lý hạt. Bước 2: Kiểm tra hạt, loại bỏ hạt lép, thối, mốc, hạt lẫn, sỏi . lẫn trong hạt. Bước 3: Ngâm hạt trong thuốc diệt trùng (diệt mầm mống sâu bệnh). Thường dùng thuốc tím KMnO 4 nồng độ 0,5% (5g pha cho 1 lít nước) ngâm trong 20 - 30 phút, sau đó vớt hạt rửa sạch thuốc tím) Bước 4: Ngâm hạt trong nước tuỳ theo từng loại hạt mà nhiệt độ và thời gian ngâm khác nhau. Với các hạt Thông, Sa mộc dùng nước nóng 40 - 45 0 C (2 sôi 3 lạnh) thời gian ngâm 4 - 6 giờ, duy trì nhiệt độ trong thời gian ngâm. Với hạt Lát dùng nước ấm 30 - 35 0 C (1 sôi 2 lạnh) thời gian ngâm 4 - 6 giờ. Với hạt Keo, Muông dùng nước sôi 100 0 C thời gian ngâm với Muồng 8 giờ, Keo 10 - 12giờ. Bước 5: Ủ hạt và rửa chua. Hết thời gian ngâm hạt, vớt hạt cho vào túi vải treo cho dốc nước trước khi đem ủ. Với hạt nhỏ đựng tối đa mỗi túi 0,3 - 0,5 kg, hạt vừa mỗi túi đựng 0,5 - 1 kg. Hàng ngày phải tiến hành rửa chua 1 - 2 lần bằng nước lã sạch hoặc nước ấm, cho tới khi hạt nứt nanh khoảng 1/3 tổng số hạt đem gieo (chú ý: Không được dùng nước bẩn, nước ao tù để xử lý hạt. Mỗi lần rửa chua đồng thời quan sát, kiểm tra để phát hiện những thay đổi của hạt). Trong suốt thời gian ủ phải giữ nhiệt độ từ 20 - 30 0 C (có thể dừng chum, vại, rơm, rạ, cỏ khô, phoi bào để ủ hạt). . Quế 1 - 3 12 - 18 Xuân hè 12 Hồi 11 -1 2 1 8 - 20 Vụ xuân, Vụ xuân hè 13 Mỡ 1 0-1 1 8 -1 0 Vụ xuân hè 14 Giẻ bốp 1 1-1 2 12 -1 4 Vụ xuân hè 15 Sấu 9-1 0 1 6-1 8 Vụ. 7- 8, 1 1-1 2 8 - 9 Vụ xuân, vụ thu 8 Thông nhựa 9 -1 1, 2 - 3 16 -1 8 Vụ xuân, Xuân hè 9 Thông đuôi 9 - 11 6 -1 0 Vụ xuân, Xuân hè 10 Muồng đen 10 -1 1 6 -

— Xem thêm —

Xem thêm: Tài liệu Giáo trình trồng rừng - Chương 3 ppt, Tài liệu Giáo trình trồng rừng - Chương 3 ppt, Tài liệu Giáo trình trồng rừng - Chương 3 ppt

Lên đầu trang
Đăng ký

Generate time = 0.102777004242 s. Memory usage = 13.95 MB