Sinh lý học người và động vật tập 1 trịnh hữu hằng, đỗ công huỳnh

Robin
Robin(7965 tài liệu)
(4 người theo dõi)
Lượt xem 185
42
Tải xuống
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 227 | Loại file: PDF
1

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 30/12/2013, 17:01

Mô tả: NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2006, 228 Tr. Từ khoá: Sinh lý học, Màng tế bào, Nhân tế bào, Mạng lưới nội bào tương, cơ quan cảm giác, Sinh lý cơ, Sinh lý dây thần kinh, thần kinh cấp cao, . Tài liệu trong Thư viện điện tử ĐH Khoa học Tự nhiên có thể được sử dụng cho mục đích học tập và nghiên cứu cá nhân. Nghiêm cấm mọi hình thức sao chép, in ấn phục vụ các mục đích khác nếu không được sự chấp thuận của nhà xuất bản và tác giả. MỤC LỤC Chương 1 MỞ ĐẦU 7 1.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của sinh lý học . 7 1.1.1 Đối tượng của sinh lý học 7 1.1.2 Các phương pháp nghiên cứu của sinh lý học 7 1.1.3 Nhiệm vụ của sinh lý học . 8 1.2 Các chuyên ngành cơ bản của sinh lý học và vị trí của sinh lý học trong các ngành khoa học khác nhau . 9 1.2.1 Các chuyên ngành sinh lý học 9 1.2.2 Vị trí của sinh lý học trong các ngành khoa học 10 1.2.3 Lược sử sinh lý học 11 1.3 Những khái niệm cơ bản trong sinh lý học . 13 1.3.1 Đặc điểm của tổ chức sống 13 1.3.2 Cơ thể là một khối thống nhất và thống nhất với môi trường 19 1.3.3 Sự điều hoà chức năng của cơ thể 21 Chương 2 SINH LÝ TẾ BÀO . 24 2.1 Màng tế bào . 24 2.1.1 Thành phần hoá học của màng . 24 2.1.2 Mô hình cấu trúc màng . 27 2.1.3 Chức năng của màng tế bào . 29 2.2 Nhân tế bào 35 2.2.1 Màng nhân 35 2.2.2 Hạch nhân . 36 2.2.3 Nhiễm sắc thể . 36 2.3 Các siêu cấu trúc của bào tương 36 Sinh lý học Người và Động vật Tập 1 Trịnh Hữu Hằng Đỗ Công Huỳnh 2.3.1 Mạng lưới nội bào tương 36 2.3.2 Ribosom . 37 2.3.3 Bộ Golgi . 38 2.3.4 Ty thể 39 2.3.5 Lysosom . 40 2.3.6 Không bào 41 Chương 3 SINH LÝ CÁC CƠ QUAN CẢM GIÁC . 42 3.1 Ý nghĩa và quá trình phát triển 42 3.1.1 Ý nghĩa . 42 3.1.2 Sự tiến hoá 42 3.1.3 Phân loại các cơ quan cảm giác 43 3.1.4 Tính chất hoạt động của các thụ quan 44 3.2 Cơ quan cảm giác da và nội tạng 46 3.2.1 Các thể thụ cảm và chức năng chung của da 46 3.2.2 Cảm giác xúc giác 48 3.2.3 Cảm giác nhiệt độ . 49 3.2.4 Cảm giác đau 50 3.2.5 Cảm giác nội tạng . 51 3.2.6 Cảm giác bản thể 51 3.3 Cơ quan cảm giác khứu giác (Mũi) . 52 3.3.1 Cấu tạo 52 3.3.2 Sự phát triển . 53 3.3.3 Cảm giác khứu giác 54 3.3.4 Độ nhạy cảm . 54 3.4 Cơ quan cảm giác vị giác (Lưỡi) . 55 3.4.1 Cấu tạo và phát triển của gai vị giác 55 3.4.2 Cảm giác vị giác . 56 3.5 Cơ quan cảm giác thính giác và thăng bằng (Tai) . 57 3.5.1 Sự phát triển của cơ quan thính giác – thăng bằng . 57 3.5.2 Cấu tạo và chức năng của tai (hỡnh 3.8) 58 3.5.3 Cảm giác thính giác 61 3.5.4 Cảm giác thăng bằng (hay cảm giác tiền đình) 66 3.6 Cơ quan cảm giác thị giác (Mắt) . 70 3.6.1 Quá trình phát triển 70 3.6.2 Cấu tạo của mắt 71 3.6.3 Hệ thống quang học của mắt 75 3.6.4 Cảm giác thị giác 77 Chương 4 SINH LÝ CƠ VÀ DÂY THẦN KINH . 85 4.1 Sinh lý cơ . 85 4.1.1 Sự tiến hoá chức năng của cơ . 85 4.1.2 Các hình thức vận động khác nhau ở động vật 85 4.1.3 Cấu trúc – chức năng cơ vân 86 4.1.4 Cấu trúc và đặc điểm chức năng của cơ trơn . 100 4.2 Sinh lý dây thần kinh . 101 4.2.1 Cấu trúc và đặc điểm của sợi thần kinh 101 4.2.2 Dẫn truyền hưng phấn trong các sợi thần kinh . 103 4.2.3 Dẫn truyền hưng phấn từ sợi thần kinh sang sợi cơ . 108 Chương 5 SINH LÝ THẦN KINH 110 5.1 Sự tiến hoá của hệ thần kinh trung ương . 110 5.1.1 Sự phát triển chủng loại . 110 5.1.2 Sự phát triển cá thể . 115 5.1.3 Tế bào thần kinh . 116 5.1.4 Các synap trong hệ thần kinh trung ương 119 5.2 Các trung khu thần kinh và tính chất của chúng . 123 5.2.1 Các trung khu thần kinh . 123 5.2.2 Tính chất của các trung khu thần kinh . 124 5.3 Nguyên tắc hoạt động của hệ thần kinh trung ương 128 5.3.1 Khái niệm về phản xạ . 128 5.3.2 Sự điều phối các quá trình phản xạ 130 5.4 Chức năng từng phần của hệ thần kinh trung ương 133 5.5.1 Tuỷ sống . 133 Chương 6 SINH LÝ HOẠT ĐỘNG THẦN KINH CẤP CAO .191 6.1 Khái niệm về hoạt động thần kinh cấp cao và ý nghĩa của môn học sinh lý hoạt động thần kinh cấp cao . 191 6.1.1 Khái niệm chung 191 6.1.2 Ý nghĩa . 192 6.2 Phân loại các phản xạ không điều kiện và có điều kiện 193 6.2.1 Phản xạ không điều kiện 193 6.2.2 Phản xạ có điều kiện . 193 6.3 Các phương pháp nghiên cứu hoạt động thần kinh cấp cao 195 6.3.1 Phương pháp nghiên cứu phản xạ có điều kiện kinh điển của Pavlov . 195 6.3.2 Phương pháp thao tác hay sử dụng công cụ . 197 6.4 Cơ chế hình thành phản xạ có điều kiện . 199 6.4.1 Những biểu hiện của quá trình thành lập phản xạ có điều kiện . 199 6.4.2 Vị trí hình thành đường liên hệ thần kinh tạm thời . 200 6.4.3 Cơ chế hình thành các phản xạ có điều kiện 200 6.5 Các quá trình ức chế trong hoạt động thần kinh cấp cao 204 6.5.1 Ức chế không điều kiện 204 6.5.2 Ức chế có điều kiện 205 6.6 Giấc ngủ 206 6.6.1 Các dạng ngủ 207 6.6.2 Các biểu hiện khi ngủ . 208 6.6.3 Chu kỳ ngủ và ý nghĩa của giấc ngủ 209 6.6.4 Các thuyết về giấc ngủ . 211 6.7 Hoạt động định hình 213 6.8 Đặc điểm hoạt động thần kinh cấp cao ở người 214 6.8.1 Sự có mặt hệ thống tín hiệu trong hoạt động thần kinh cấp cao ở người . 214 6.8.2 Đặc điểm tác dụng sinh lý của tiếng nói 215 6.9 Các loại thần kinh 217 6.9.1 Các tiêu chuẩn phân loại 217 6.9.2 Các loại thần kinh và đặc điểm của chúng . 218 6.9.3 Các loại hoạt động thần kinh riêng biệt ở người 219 6.10 Rối loạn trong hoạt động thần kinh cấp cao 220 6.10.1 Một số bệnh loạn thần kinh chức năng 220 6.11 Cảm xúc . 222 6.11.1 Khái niệm về cảm xúc 222 6.11.2 Các loại cảm xúc 222 6.11.3 Cơ sở sinh lý của cảm xúc 222 6.12 Trí nhớ . 223 6.12.1 Khái niệm về trí nhớ . 223 6.12.2 Các loại trí nhớ . 223 6.12.3 Các cấu trúc não liên quan với trí nhớ . 224 6.12.4 Cơ chế hình thành trí nhớ . 225 5 Lời nói đầu Mọi hệ thống sống từ phân tử - tế bào đến cơ thể, quần thể được hình thành trong quá trình tiến hoá, đều có một hệ thống cấu tạo chặt chẽ, hợp lý cùng với một hệ thống chức năng hoàn chỉnh, thích hợp để đảm bảo cho nó luôn luôn cân bằng, thích nghi, tồn tại và phát triển. Sinh lý học là môn học có nhiệm vụ nghiên cứu về các hệ thống chức năng đó từ vi mô đến vĩ mô nhằm tìm hiểu và giải thích cho được những cơ chế điều hoà và tự điều hoà của các quá trình sống. Chức năng của từng tế bào là bộ phận của các mô. Chức năng của các mô là bộ phận của cơ quan. Chức năng của cơ quan là bộ phận của cả cơ thể. Hệ thống các chức năng đó đảm bảo cho cơ thể luôn luôn là một khối toàn vẹn thống nhất ở bên trong (nội môi) và thống nhất với môi trường sống bên ngoài (ngoại môi). Ngay từ khi xuất hiện và sống thành xã hội riêng, loài người đã phải đối mặt với nhiều quy luật của tự nhiên. Để tồn tại và phát triển, con người không những phải tìm tòi khám phá những bí mật của thiên nhiên mà đồng thời phải tìm hiểu về những quy luật, cơ chế các quá trình sống của chính mình. Lý do đó đã đòi hỏi sự ra đời rất sớm của Sinh lý học. Trải qua một thời gian dài phát triển , sinh lý học đã đạt được rất nhiều thành tựu, giúp cho con người hiểu biết và ngày càng sống tốt hơn. Tuy nhiên những bí mật của các quy luật sống vẫn đang còn là thách thức lớn đối với nhân loại. Và do vậy sinh lý học vẫn luôn là một ngành học với rất nhiều nhiệm vụ nặng nề mang tính cấp bách, phải tiếp tục tìm tòi để tiếp cận và làm sáng tỏ mọi cơ chế còn chưa biết của sự sống. Các giải thưởng Nobel hàng năm về Sinh lý học - y học - sinh học là những minh chứng về điều đó. Rõ ràng sự hiểu biết về cơ chế các quá trình sống đã giúp cho sự chẩn đoán và điều trị bệnh tật của người và động vật ngày càng tốt hơn, có hiệu quả hơn. Nó cũng giúp cho sự ra đời và phát triển của nhiều ngành khoa học mới như Phỏng sinh học (Bionic), Tin học và máy tính thông minh, Ergonomie, Tâm lý học, và nhiều lĩnh vực khác phục vụ cho lợi ích của con người như thuần hoá động vật trong chăn nuôi, biểu diễn xiếc, bảo vệ và phát triển động vật quý hiếm. Tổng kết được đầy đủ những thành tựu và sự hiểu biết của loài người về hệ thống chức năng của cơ thể từ mức độ in Vitro, in Situ đến in Vivo là một công việc rất khó khăn. Dựa vào các nguồn tài liệu tham khảo của nhiều nhà khoa học, cùng với một số kinh nghiệm nghiên cứu giảng dạy của mình, chúng tôi biên soạn cuốn sách "Sinh lý học người và động vật" để góp thêm vào kho tàng kiế n thức chung. Cuốn sách dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập của sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh của trường Đại học Khoa học Tự nhiên. Đồng thời cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho các ngành có liên quan ở các trường Sư phạm, Y học, Nông nghiệp (ngành Chăn nuôi - Thú y), Lâm nghiệp, Thuỷ sản, Triết học, Tâm lý học, Giáo dục học, Thể dục thể thao . Nội dung cuốn sách được trình bày trong 14 chương và chia thành hai tập: Tập I: bao gồm các chương: Chương 1: Mở đầu Chương 2: Sinh lý tế bào Chương 3: Sinh lý các cơ quan cảm giác Chương 4: Sinh lý cơ và dây thần kinh 6 Chương 5: Sinh lý thần kinh Chương 6: Sinh lý hoạt động thần kinh cấp cao Tập II: bao gồm các chương: Chương 7: Sinh lý nội tiết Chương 8: Sinh lý sinh dục và sinh sản Chương 9: Sinh lý máu Chương 10: Sinh lý tuần hoàn Chương 11: Sinh lý hô hấp Chương 12: Sinh lý tiêu hoá Chương 13: Chuyển hoá vật chất và năng lượng. Điều hoà thân nhiệt Chương 14: Sinh lý bài tiết Kiến thức khoa học nói chung và sinh lý học nói riêng vô cùng phong phú, rộng lớn và đòi hỏi phải luôn cập nhật. Do vậy, dù rất cố gắng, chắc chắn cũng không tránh khỏi những thiếu sót và bất cập khi biên soạn. Chúng tôi chân thành tiếp thu và rất vui mừng nhận được những ý kiến đóng góp của mọi người sử dụng sách với lòng mong muốn để lần xuất bản sau được hoàn thiện hơn. CÁC TÁC GIẢ 7 Chương 1 MỞ ĐẦU Sinh lý học người và động vật cũng như các khoa học sinh học khác, nghiên cứu về thế giới vật chất sống. Tuy nhiên, trong hướng nghiên cứu chung này, sinh lý học có đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng đối với các hiện tượng sống. 1.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của sinh lý học 1.1.1 Đối tượng của sinh lý học Sinh lý học người và động vật là khoa học nghiên cứu về các quá trình diễn ra trong các cơ thể sống nhằm bảo đảm sự tồn tại của chúng trong thế giới vật chất bao quanh. Sinh lý học có nhiệm vụ phát hiện những quy luật về các chức năng của cơ thể toàn vẹn, cũng như chức năng của các hệ thống cơ quan, các cơ quan, các mô và các loại tế bào trong mối liên hệ giữa chúng với nhau và trong mối liên hệ giữa cơ thể với môi trường sống, bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Đời sống các động vật được các nhà sinh học nghiên cứu theo các phương diện khác nhau, tìm hiểu các quá trình thích nghi của động vật với môi trường sống, nghiên cứu về quá trình tiến hoá, về đặc điểm loài, về tập tính . Sinh lý học nghiên cứu về những quy luật của các quá trình chuyển hoá vật chất, tuần hoàn, hô hấp, hoạt động của cơ, hệ thần kinh và các chức năng khác của cơ thể. Hoạt động của con người - một thành viên của xã hội được các nhà khoa học xã hội nghiên cứu về nhiều mặt, còn sinh lý học thì tìm hiểu xem những gì diễn ra trong cơ thể con người, trong hoạt động của họ. Ví dụ, nghiên cứu về các em học sinh, các nhà giáo dục học nghiên cứu về quá trình đào tạo, về phương pháp giáo dục để nâng cao hiệu quả đào tạo . Các nhà tâm lý học nghiên cứu về sự chú ý, về trí nhớ, về đặc điểm cá thể, về sự phát triển quá trình tư duy của các em. Còn các nhà sinh lý học thì nghiên cứu xem bộ não các em làm việc như thế nào, các tế bào thần kinh tiếp nhận, xử lý và giữ thông tin như thế nào . 1.1.2 Các phương pháp nghiên cứu của sinh lý học Sinh lý học là khoa học thực nghiệm. Các thí nghiệm được tiến hành trên các động vật nuôi trong phòng thí nghiệm như chó, mèo, thỏ, chuột, ếch . cũng như trên khỉ, trên các động vật nông nghiệp như bò, lợn, dê ., trên chim và người khoẻ mạnh. Từ trước đến nay trong sinh lý học có hai phương pháp nghiên cứu, đó là phương pháp cấp diễn và phương pháp trường diễn. Trong các thí nghiệm cấp diễn, động vật được gây mê để phẫu thuật với m ục đích là làm cho con vật bất động, không chú ý đến các nguyên tắc bảo đảm cho con vật tiếp tục sống sau nghiên cứu. Trong thí nghiệm cấp diễn trên động vật, người ta phẫu thuật, bộc lộ các cơ quan cần nghiên cứu và cùng với chúng là các mạch máu, các dây thần kinh. Một số thí nghiệm cấp diễn trên cơ quan hoặc mô cô lập, hoạt động sống của chúng được duy trì bằng các cách khác nhau để bảo đảm quá trình chuyển hoá vật chất bình thường, ví dụ, cho dòng máu được bão hoà oxy chạy đến mô hay cơ quan cô lập hay tiếp lưu bằng dung dịch thay cho máu. Trong các thí nghiệm với các tế bào (thần kinh, cơ), thì đặt chúng trong các dung dịch đặc biệt. Ưu điểm của phương pháp cấp diễn là cho phép quan sát được một cách trực tiếp, cụ 8 thể các quá trình diễn biến ở từng cơ quan, bộ phận của cơ thể được nghiên cứu. Nhược điểm của phương pháp này là nghiên cứu được tiến hành ngay sau khi cơ quan, mô được nghiên cứu bị phẫu thuật tách rời khỏi cơ thể, nghĩa là nghiên cứu trong điều kiện không bình thường. Trong các thí nghiệm trường diễn, động vật được phẫu thuật trước trong điều kiện vô trùng và nghiên cứu được tiến hành sau khi con vật đã hồi phục hoàn toàn. Do đó, nghiên cứu có thể tiến hành trong thời gian dài (trong nhiều tháng, nhiều năm) và trong những điều kiện sinh lý bình thường. Ví dụ, muốn nghiên cứu sự bài tiết dịch vị, người ta phẫu thuật tạo lỗ dò dạ dày ở chó. Sau một thời gian vết mổ đã lành lặn mới lấy dịch vị qua lỗ dò để nghiên cứu. Nhược điểm của phương pháp trường diễn là khi phẫu thuật có thể để lại những hậu quả không tốt, ví dụ làm xê dịch vị trí các cơ quan nằm lân cận, tạo sẹo, do đó làm mất một phần chức năng của cơ quan được nghiên cứu. Hiện nay trong sinh lý học người ta sử dụng phương pháp quan sát các chức năng bằng vô tuyến điện và ghi các hoạt động của các cơ quan được nghiên cứu ở người và động vật bằng các hệ thống ghi xa, do đó có thể theo dõi hoạt động của các cơ quan cần nghiên cứu trên những khoảng cách rất xa trên mặt đất và trong vũ trụ. Trong phương pháp ghi xa, các dụng cụ thu - phát tín hiệu có thể gắn ở ngoài hoặc đặt vào bên trong cơ thể mà không làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của đối tượng nghiên cứu, nên có thể theo dõi chức năng của não, tim, mạch máu, hệ thống hô hấp, hệ cơ xương và nhiều cơ quan khác trong điều kiện sinh lý bình thường. Ngày nay trong sinh lý học người ta còn sử dụng phương pháp mô hình để nghiên cứu các chức năng của cơ thể người và động vật. Mô hình, đó là những dụng cụ lý học, bắt chước chức năng, được xây dựng trên cơ sở lý thuyết toán học, theo đề xuất của các nhà khoa học để nghiên cứu các quá trình sinh lý hay thực hiện các chức năng trong điều kiện tự nhiên. Việc sử dụng các mô hình lý học cho phép kiểm tra ngoài cơ thể các giả thuyết sinh lý học. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc đề xuất cách giải quyết mới phù hợp với những quy luật tự nhiên của các chức năng được nghiên cứu, giúp phát hiện những quy luật sinh lý mới. Hiện nay người ta đã chế tạo được các mô hình điện tử về hoạt động của hệ thần kinh, của tế bào thần kinh, của các cơ quan cảm giác, của cơ vân v.v . Việc mô hình hoá có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, trên cơ sở nghiên cứu người ta đã chế tạo được các máy có thể thay thế cho lao động chân tay và lao động trí óc của con người. Trong y học đã sử dụng những máy thay thế tạm thời chức năng của một số cơ quan như máy thay thế hoạt động của tim - phổi, máy thận nhân tạo v.v . Tuy nhiên cần thấy rằng các mô hình, các máy hiện có là những mô hình được đơn giản hoá chức năng của các cơ quan trong cơ thể sống. Chúng hoạt động bằng các quá trình điện tử, còn trong cơ thể sống diễn ra quá trình sinh lý – hóa sinh rất phức tạp. Dẫu sao những phương pháp thí nghiệm mới dựa trên các thành tựu của các ngành khoa học hiện đại như điện tử, điều khiển học, tự động hoá cho phép chúng ta nghiên cứu sâu hơn các quá trình sinh lý trong điều kiện tự nhiên, cho phép phát hiện những quy luật sinh lý mới, cho phép tạo ra các phương tiện có thể thay thế lâu dài các cơ quan của cơ thể không còn khả năng hoạt động nữa. 1.1.3 Nhiệm vụ của sinh lý học Nhiệm vụ của sinh lý học hiện nay là tiếp tục phát hiện những quy luật hoạt động của hệ thần kinh và các cơ quan khác trong cơ thể để có thể đề xuất những phương pháp điều khiển tất cả những biểu hiện sống của cơ thể và trước hết là các quá trình chuyển hoá vật chất và năng lượng, hoạt động tinh thần và tập tính. Do đó, sinh lý học có thể tham gia vào việc giải thích bản chất của những hiện tượng sống, nghiên cứu những đặc điểm lý - hoá của sự sống, đặc biệt là quá trình chuyển hoá vật chất, quá trình di truyền và sự biến đổi các chức năng của cơ thể. Có thể tóm tắt các nhiệm vụ của sinh lý học thành hai nhiệm vụ chính như sau: 9 Nghiên cứu các quy luật thực hiện các chức năng bình thường trong cơ thể sống trong điều kiện sống luôn biến động và phát triển. Nghiên cứu sự phát triển chức năng của cơ thể sống theo quá trình tiến hoá, theo phát triển chủng loại và phát triển cá thể và mối liên quan giữa các chức năng. Việc phát hiện những quy luật thực hiện các chức năng bình thường của cơ thể người và động vật có ý nghĩa rất lớn về lý thuyết, bởi vì nhờ đó mà phát hiện được những hướng nghiên cứu mới cũng như các cơ chế chưa được rõ trong hoạt động của cơ thể, của các cơ quan và hệ thống cơ quan. Đặc biệt quan trọng là việc nghiên cứu chức năng của từng tế bào (mức tế bào), thành phần của tế bào (mức dưới tế bào), cũng như cách sắp xếp và cấu trúc của các phân tử của vật chất sống (mức phân tử). Ngoài ý nghĩa lý thuyết, các quy luật sinh lý học còn có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng trong nhiều lĩnh vực kinh tế quốc dân (công nghệ vi tính, điều khiển học, công nghệ sinh học .). 1.2 Các chuyên ngành cơ bản của sinh lý học và vị trí của sinh lý học trong các ngành khoa học khác nhau 1.2.1 Các chuyên ngành sinh lý học Sinh lý học người và động vật được chia ra thành các hướng khác nhau, trong đó một số hướng đã trở thành một ngành khoa học mới độc lập. Hiện nay sinh lý học được chia ra: sinh lý học chung, sinh lý học từng phần, sinh lý học tiến hoá và sinh thái, sinh lý học so sánh, sinh lý học người và sinh lý học các động vật nông nghiệp. Sinh lý học chung nghiên cứu những chức năng cơ bản của tất cả các sinh vật, nghiên cứu những quy luật chuyển hoá vật chất và năng lượng, nghiên cứu bản chất và sự tiến hoá của các dạng kích thích, nghiên cứu mối liên quan giữa cơ thể và môi trường xung quanh và các biểu hiện khác nhau của sự sống. Sinh lý từng phần nghiên cứu các chức năng riêng biệt, ví dụ, tuần hoàn, tiêu hoá, hô hấp, các hệ cảm giác và vận động, chức năng của hệ thần kinh . Sinh lý học tiến hoá và sinh thái chuyên nghiên cứu lịch sử phát triể n và sự hình thành các chức năng trong quá trình tiến hoá của thế giới động vật và những biến đổi thích nghi của chúng liên quan với điều kiện sống. Sinh lý học so sánh nghiên cứu sự phát triển chủng loại và phát triển cá thể các chức năng ở các nhóm động vật khác nhau nhằm tìm những nét chung và riêng của chúng. Sinh lý học người nghiên cứu chức năng của từng tế bào, từng cơ quan và hệ thống cơ quan trong mối liên hệ giữa chúng với nhau và giữa cơ thể với môi trường sống cũng như nghiên cứu sự điều hoà chức năng nhằm bảo đảm cho cơ thể tồn tại và phát triển, thích ứng được với sự biến đổi của môi trường sống. Sinh lý học người được phân ra thành các chuyên ngành: sinh lý học y học, sinh lý học lứa tuổi, sinh lý học lao động và thể dục- thể thao, sinh lý dinh dưỡng, sinh lý hàng không và vũ trụ . Sinh lý y học nghiên cứu chức năng của các tế bào, chức năng của các cơ quan và hệ thống cơ quan, nghiên cứu sự điều hoà chức năng để bảo đảm cho cơ thể tồn tại và phát triển một cách bình thường và thích ứng với sự biến đổi của môi trường sống. Những kiến thức của sinh lý y học giúp cho việc giải thích và xử lý những rối loạn chức năng của cơ thể trong tình trạng bệnh lý, từ đó có thể đề xuất những biện pháp nhằm bảo đảm và nâng cao sức khoẻ của con người. Sinh lý y học còn cung cấp cho các thầy thuốc những phương pháp chẩn đoán 10 chức năng và phương tiện kiểm tra trạng thái của bệnh nhân, giúp điều khiển được độ sâu của gây mê trong phẫu thuật, giúp chế tạo máy hô hấp và tuần hoàn nhân tạo, chế tạo chân tay giả, chế tạo máy kích thích tim, chế tạo dụng cụ thu-phát thông tin (radiopiluli) để đặt trong các cơ quan. Sinh lý lứa tuổi nghiên cứu trước hết những đặc điểm chức năng ở trẻ em lứa tuổi trước học đường và tuổi học đường và ở những người có tuổi. Những kiến thức của chuyên ngành này giúp cho việc giải quyết những vấn đề thực tiễn của giáo dục học, trong việc tổ chức hợp lý giờ học và thời gian biểu trong ngày, trong tuần. Nghiên cứu những đặc điểm chức năng của thanh - thiếu niên sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất các luật lao động và điều kiện lao động. Những hiểu biết về chức năng của cơ thể người có tuổi giúp cho việc đề xuất các biện pháp chăm sóc sức khoẻ của những người có tuổi và kéo dài tuổi thọ của con người. Sinh lý lao động và thể dục-thể thao nghiên cứu sự hình thành những kỹ năng định hướng nhanh, giải quyết hợp lý và thực hiện tốt những phối hợp vận động cần sự chính xác cao. Trước đây sinh lý lao động tập trung nghiên cứu về sự tiêu hao năng lượng trong lao động thể lực, còn hiện nay chú ý đến các quá trình tự động hoá trong sản xuất, nên tập trung nghiên cứu hệ thống "con người - máy móc", nghiên cứu về con người điều khiển máy móc, kỹ thuật phức tạp. Còn sinh lý thể dục - thể thao thì chuyên nghiên cứu về dự trữ của cơ thể cho phép vận động viên đạt được thành tích tối đa. Sinh lý dinh dưỡng nghiên cứu về tiêu hao năng lượng trong những điều kiện khác nhau, nghiên cứu về các chế độ dinh dưỡng, về các quá trình chuyển hoá các chất dinh dưỡng trong cơ thể. Những kiến thức sinh lý dinh dưỡng cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất chế độ dinh dưỡng hợp lý cho con người trong những điều kiện sống và làm việc khác nhau. Sinh lý học hàng không và vũ trụ hay sinh lý học trong những điều kiện khắc nghiệt nghiên cứu về sự xây dựng lại các chức năng của cơ thể con người cho phù hợp với những điều kiện khắc nghiệt nhân tạo hay tự nhiên. Ví dụ, sinh lý hàng không và vũ trụ nghiên cứu ảnh hưởng của những yếu tố có hại cho cơ thể như sự quá tải, tốc độ, tác dụng của không trọng lượng và stress tâm lý . Sinh lý học các động vật nông nghiệp nghiên cứu chức năng của các động vật nông nghiệp, nghiên cứu các cơ chế điều hoà tự nhiên các chức năng đó, cũng như nghiên cứu đặc điểm tiêu hoá và chuyển hoá vật chất để chế biến thức ăn hợp lý nhằm bảo đảm tă ng năng suất chăn nuôi (thịt, sữa, trứng, lông . ). Sinh lý học các động vật nông nghiệp còn nghiên cứu tập tính của các động vật nhằm giúp cho việc phân bố thời gian chăm sóc trong ngày để có thể hình thành hoạt động định hình của các động vật trong đàn. 1.2.2 Vị trí của sinh lý học trong các ngành khoa học Sinh lý học là một ngành của sinh học, do đó nó liên quan trước hết với các ngành của sinh học, đặc biệt là hình thái học - khoa học nghiên cứu về cấu trúc và chức năng của cơ thể trong quá trình phát triển chủng loại và phát triển cá thể; với giải phẫu học - khoa học nghiên cứu về cấu tạo của cơ thể người và động vật và những quy luật phát triển của cơ thể; với mô học - khoa học nghiên cứu về cấu trúc hiển vi và siêu hiển vi các mô của cơ thể và với tế bào học - khoa học nghiên cứu về cấu trúc và chức năng của tế bào. Sinh lý học cũng liên quan với nhiều ngành khoa học tự nhiên như lý học, hoá học. Những thành tựu nghiên cứu về sinh lý học thường được bắt nguồn từ những thành tựu của

— Xem thêm —

Xem thêm: Sinh lý học người và động vật tập 1 trịnh hữu hằng, đỗ công huỳnh , Sinh lý học người và động vật tập 1 trịnh hữu hằng, đỗ công huỳnh

Lên đầu trang

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.61152815818787 s. Memory usage = 17.71 MB