Vai trò của lực lượng sản xuất trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở việt nam

Yugi
Yugi (3169 tài liệu)
(23 người theo dõi)
Lượt xem 1
0
Tải xuống 5,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 68 | Loại file: DOC
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 06/01/2014, 15:04

Mô tả: ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ NGUYỄN THỊ THUỶ VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 1 HUẾ, 05 – 2011 ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ  KHOÏA LUÁÛN TÄÚT NGHIÃÛP CÆÍ NHÁN TRIÃÚT HOÜC VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: Th.S NGUYỄN THỊ PHƯƠNG NGUYỄN THỊ THUỶ Triết K31 2 Huế, 05/2011 Lời Cảm Ơn Hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến quý thầy, cô giáo trong khoa Lý luận chính trị, đặc biệt là cô giáo hướng dẫn, Th.S Nguyễn Thị Phương, bạn bè và người thân đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài. Tôi xin chân thành cảm ơn, Phòng tư liệu khoa Lý luận chính trị, Thư viện trường Đại học Khoa học Huế đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này. Sinh viên 3 Nguyễn Thị Thuỷ MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Lịch sử phát triển của xã hội là lịch sử vận động, phát triển, thay thế lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao. Sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là do sự tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng. Trong đó phải kể đến lực lượng sản xuất là một trong những nội dung cơ bản của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội được triết học Mác xem là yếu tố năng động nhất trong các yếu tố cấu thành phương thức sản xuất, quyết định xu hướng, tốc độ, nhịp độ vận động của quan hệ sản xuất, thông qua đó làm thay đổi kiến trúc thượng tầng. Suy đến cùng, sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội. Với vai trò trên, việc làm sáng tỏ nội dung của lực lượng sản xuất được xem là vấn đề quan trọng có tính cấp thiết, đặc biệt là đối với những người học tập và nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, do vậy việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật là vấn đề tất yếu và cần thiết. Việc xây dựng đó phải gắn liền với quá trình phát triển lực lượng 4 sản xuất trong mối quan hệ với quan hệ sản xuất, đó là “Quan hệ sản xuất phù hợp trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”. Với những nhận định đúng đắn, Đảng ta đã xác định phải gắn liền quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX(2001) đã đề ra đường lối kinh tế của nước ta là: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững”[23;89]. Trước những đòi hỏi khách quan của việc xây dựng, phát triển hoàn thiện lực lượng sản xuất trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam và phát huy có hiệu quả vai trò của lực lượng sản xuất. Việc triển khai đề tài “Vai trò của lực lượng sản xuất trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” là một yêu cầu cấp thiết và mang ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Có thể nói các vấn đề liên quan đến lực lượng sản xuất được nhiều nhà nghiên cứu, lý luận trong và ngoài nước quan tâm. Tuy nhiên, tùy theo mục đích nghiên cứu, mỗi tác giả có mỗi cách nhìn nhận, đánh giá, nghiên cứu ở từng góc độ và khía cạnh khác nhau. Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu về lực lượng sản xuất đều được đặt trong hệ thống nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật lịch sử nói chung, hình thái kinh tế - xã hội nói riêng. Ở Việt Nam, vấn đề này được các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các học viện, trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia cùng đông đảo các nhà khoa học nghiên cứu, ví dụ như: 5 - Nguyễn Trọng Chuẩn: “Góp vào vấn đề phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay”. Tạp chí Triết học số 2, năm 1990. Bài viết nêu lên vấn đề cơ bản của lực lượng sản xuất và các giai đoạn phát triển quan trọng của lực lượng sản xuất trong tiến trình lịch sử của xã hội loài người. Đồng thời, tác giả còn nêu lên các vấn đề nhằm phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta. - Trương Hữu Hoàn: “Vấn đề sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất xét từ tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất”. Tạp chí Triết học, số 1, năm 1994. Tác giả đã trình bày mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, tác giả đã xem xét vấn đề quan hệ sản xuất được gọi là phải phù hợp với cả tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất hay chỉ cần phù hợp với một trong hai yêu cầu đó là đủ. - Vũ Đình Cự: “Khoa học và công nghệ lực lượng sản xuất hàng đầu”. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1997. Trong cuốn sách, tác giả trình bày vai trò ngày càng to lớn của khoa học công nghệ và đã trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu. - Hồ Anh Dũng: “Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay”. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2002. Tác giả đã nêu lên con người là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất, đồng thời đưa ra giải pháp nhằm phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất. - Nguyễn Hữu Khiển: “Học thuyết Mác và hoàn thiện các yếu tố của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay”. Tạp chí Triết học, Số 3, năm 2009. Trong bài viết này tác giả đã dựa trên quan điểm của học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội nói chung, về phát triển lực lượng sản xuất nói riêng, để làm rõ một số nguyên tắc, phương châm cơ bản trong việc vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác nhằm phát triển và hoàn thiện các yếu tố của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay. Các công trình nghiên cứu trên là nguồn tư liệu quý báu để tôi học hỏi, hoàn thiện khóa luận của mình. 6 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của lực lượng sản xuất đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiên đại hóa ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát quá trình hình thành, phát triển và kết cấu của lực lượng sản xuất; Tìm hiểu quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ đó tập trung nghiên cứu vai trò của lực lượng sản xuất trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Viêt Nam. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu: Trình bày một cách tổng quát vai trò của lực lượng sản xuất trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. Đặc biệt là trong thời kỳ nước ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Nhiệm vụ nghiên cứu: Phân tích quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về khái niệm lực lượng sản xuất, kết cấu và tương quan của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất . Phân tích tính chất và vai trò của lực lượng sản xuất ở Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ đó rút ra những nhận định về phương pháp luận. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về lực lượng sản xuất, về hình thái kinh tế - xã hội. Phương pháp nghiên cứu: 7 Khóa luận sử dụng phương pháp biện chứng duy vật, kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp trừu tượng hóa, khái quát hóa; phương pháp kết hợp giữa logic và lịch sử. 6. Đóng góp của khóa luận Khóa luận góp phần làm sáng tỏ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về lực lượng sản xuất; vai trò của lực lượng sản xuất trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay. 7. Kết cấu của khóa luận Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo khóa luận gồm có 2 chương, 8 tiết. Chương 1 QUAN NIỆM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 1.1. Sự ra đời của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất là quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất. Trong quá trình này, sản xuất của con người kết hợp sức lao động của mình với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động tạo thành sức mạnh khai thác giới tự nhiên, làm ra sản phẩm cần thiết cho cuộc sống của mình. Là lực lượng tạo ra để cải tạo thế giới, là biểu hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Lực lượng sản xuất là một thể thống nhất giữa yếu tố người và yếu tố sự vật, trong đó con người đóng vai trò chủ thể, tích cực và quyết định nhất. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của lực lượng sản xuất gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người. Xã hội tồn tại và phát triển được là nhờ sản xuất vật chất. Do vậy, lịch sử xã hội của con người trước hết là lịch sử của hoạt động sản xuất vật chất. Khi phân tích quá trình phát triển của lịch sử nhân loại C.Mác đã phát hiện ra cái sự thật đơn giản là trước hết con người phải ăn, uống, ở, mặc rồi mới lo đến 8 việc chính trị, xã hội, văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo… Đúng vậy, ăn, uống, ở, mặc là những nhu cầu cơ bản, đầu tiên của con người, có nó con người mới tồn tại và phát triển được. Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu thỏa mãn những nhu cầu ấy. C.Mác cũng phát hiện ra, cái quy định hành vi lịch sử đầu tiên và cũng là động lực thúc đẩy con người hoạt động là nhu cầu và lợi ích. Nhu cầu của con người được hình thành một cách khách quan trong đời sống và rất phong phú đa dạng, hoạt động thực tiễn nhằm thỏa mãn nhu cầu này lại làm nảy sinh nhu cầu khác. Việc không ngừng nảy sinh nhu cầu mới là động lực thúc đẩy con người hoạt động, là động lực phát triển xã hội. Ở thời đại sống thành bầy đàn, hoạt động để tồn tại của con người còn mang tính chất thụ động, chỉ nhằm chiếm lĩnh những sản vật có sẵn trong tự nhiên để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của mình, thỏa mãn nhu cầu sinh tồn của mình. Và với việc thỏa mãn nhu cầu và sự tăng thêm ngày càng nhiều số lượng cá thể trong bầy đã làm cho lượng cầu của con người tăng lên nhanh chóng. Khi lượng cầu tăng đến một mức độ nhất định thì những sản vật có sẵn trong tự nhiên không còn đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của họ. Do đó, nhằm duy trì sự tồn tài và phát triển của mình, con người phải trực tiếp cải tạo giới tự nhiên tức là con người phải lao động. Bằng lao động và thông qua lao động, con người sản xuất ra đời sống xã hội của mình, trước hết là đời sống vật chất - một đời sống do chính con người tạo ra, khác về chất so với đời sống chỉ biết lợi dụng những gì có sẵn trong tự nhiên ở thời đại bầy đàn. C.Mác cho rằng hành vi lịch sử đầu tiên mà thông qua đó con người sáng tạo ra đời sống xã hội của mình nhằm tạo ra những tư liệu sinh hoạt tức sản xuất vật chất là lao động. Bằng lao động sản xuất vật chất, con người đã chứng minh mình là một sinh vật có tính loài, có ý thức, một sinh vật xã hội. Chính nhờ lao động mà con người mới tách khỏi thế giới động vật và đạt được nhiều thành tựu trong việc chinh phục tự nhiên. Trong tác phẩm “Hệ tư 9 tưởng Đức” C.Mác viết rằng: “Có thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo nói chung, bằng bất cứ gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra tư liệu sinh hoạt cho mình”[18; 268]. Để tiến hành một quá trình sản xuất vật chất, về cơ bản cần có ba yếu tố: hoạt động vật chất có mục đích của con người; những tư liệu vật chất cho chính hoạt động ấy và đối tượng vật chất khách quan mà hoạt động này hướng vào nhằm thay đổi chúng. Trong sản xuất vật chất, con người phải sử dụng các năng lực vốn có của mình, trước hết là những sức mạnh vật chất để tác động vào các đối tượng vật chất làm thay đổi tính chất, cấu trúc, hình thái của chúng. Bởi vì, con người không thể có bất kỳ sự trao đổi nào nếu như tự bản thân mình không có gì. Những sức mạnh vật chất vốn có này được C.Mác gọi là “năng lực thuộc về bản chất”. Trong các tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế - chính trị” và “Tư bản”, C.Mác đã chỉ ra năng lực đó của con người chính là sức lao động. Tuy sức mạnh này không giữ vai trò quyết định, song chúng luôn ảnh hưởng theo những mức độ khác nhau đến quá trình sản xuất vật chất. Về sau, lao động của con người ngày càng mở rộng và nâng cao lên thì những lực lượng đó sẽ thâm nhập sâu vào sản xuất vật chất và vai trò của chúng sẽ tăng lên. Mọi hoạt động của con người đều cần phải có đối tượng. Những hoạt động sản xuất vật chất đầu tiên của con người chỉ có thể lấy được từ giới tự nhiên, con người thường xuyên dựa vào giới tự nhiên để tìm kiếm đối tượng lao động cho mình, mà mọi hoạt động sản xuất vật chất riêng biệt đều có đối tượng cụ thể của nó. Song xét đến cùng, giới tự nhiên là nguồn cung cấp mọi đối tượng cho sản xuất. Như C.Mác đã khẳng định giới tự nhiên là môi trường tồn tại hoạt động của con người, “tự nhiên là thân thể của con người và con người là một thực tại của giới tự nhiên”. Về sau, con người mở rộng đối 10

— Xem thêm —

Xem thêm: Vai trò của lực lượng sản xuất trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở việt nam , Vai trò của lực lượng sản xuất trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở việt nam , Vai trò của lực lượng sản xuất trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở việt nam

Lên đầu trang

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.20000600814819 s. Memory usage = 13.98 MB