KINH NGHIỆM DẠY HỌC - NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY MÔN HÓA HỌC BẰNG CÁCH GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG THỰC TẾ

Xuân Đông
Xuân Đông(7 tài liệu)
(0 người theo dõi)
Lượt xem 24
5
Tải xuống
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 33 | Loại file: DOCX
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 12/01/2014, 20:22

Mô tả: Đề tài nghiên cứu khoa học GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY VÀ HỌC MÔN HOÁ HỌC BẰNG VIỆC GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG THỰC TIỄN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN BÀI HỌC A/ ĐẶT VẤN ĐỀ I/ CƠ SỞ LÝ LUẬN Phân môn hoá học trong trường trung học phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển trí dục của học sinh. Mục đích của môn học là giúp cho học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh những tri thức, hiểu biết về thế giới, con người thông qua các bài học, giờ thực hành Học hoá để hiểu, giải thích được các vấn đề thực tiễn thông qua cơ sở cấu tạo nguyên tử, phân tử, sự chuyển hoá của các chất bằng các phương trình phản ứng hoá học Hóa học là khởi nguồn, là cơ sở phát huy tính sáng tạo ra những ứng dụng phục vụ trong đời sống của con người. Hoá học góp phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm phương hại đến đời sống, tinh thần của con người Để đạt được mục đích của môn hoá học trong trường phổ thông thì ngoài việc phải tiếp thu đầy đủ những kiến thức từ trên lớp, từ sách giáo khoa, từ các thầy cô, học sinh còn cần tự mình sưu tầm và tìm hiểu những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống thường ngày. Vận dụng những kiến thức đã học được để giải thích những hiện tượng đó, nhờ vậy mà học sinh được củng cố kiến thức sâu sắc hơn, các em thấy học môn Hóa dễ hiểu, thiết thực, gần gũi với đời sống và lôi cuốn hơn. II/ CƠ SỞ THỰC TIỄN III/ THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 1 Lớp: 08SHH Đề tài nghiên cứu khoa học GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh 1/Thực trạng: Trước tình hình học hoá học phải đổi mới phương pháp dạy học đã và đang thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy. Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả và tiến bộ là phải phát huy tính thực tế, giáo dục về môi trường, về tư tưởng vừa mang bản sắc dân tộc mà không mất đi tính cộng đồng trên toàn thế giới, những vấn đề cũ nhưng không cũ mà vẫn có tính chất cập nhật và mới mẽ, đảm bảo: tính khoa học – hiện đại, cơ bản; tính thực tiễn và giáo dục kỹ thuật tổng hợp; tính hệ thống sư phạm. Tuy nhiên mỗi tiết học có thể không nhất thiết phải hội tụ tất cả những quan điểm nêu trên, cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, đừng quá lạm dụng khi lượng kiến thức không đồng nhất . * Thực tế giảng dạy cho thấy: Môn hoá học trong trường phổ thông là một trong môn học khó, nếu không có những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận. Đã có hiện tượng một số bộ phận học sinh không muốn học hoá học, ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễn của hoá học. Nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức đối tượng giáo dục: Chưa đặt ra cho mình nhiệm vụ và trách nhiệm nghiên cứu, hiện tượng dùng đồng loạt cùng một cách dạy, một bày giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không ít. Do phương pháp ít có tiến bộ mà người giáo viên đã trở thành người cảm nhận, truyền thụ tri thức một chiều. Giáo viên nên là người hướng dẫn học sinh chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức hoá học. 2/ Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên để việc giảng dạy môn hoá học đạt hiệu quả cao hơn tôi đã mạnh dạn cải tiến nội dung, phương pháp trong các bài giảng hoá học: SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 1 Lớp: 08SHH Đề tài nghiên cứu khoa học GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh Một trong những điểm tôi đã làm là “Nâng cao hiệu quả dạy và học môn hoá học bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học”. Có những vấn đề hoá học có thể giúp học sinh giải thích những hiện tượng trong tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, thậm chí hiểu được những dụng ý khoa học hoá học trong những câu ca dao – tục ngữ mà thế hệ trước để lại và có thể ứng dụng trong thực tiễn đời sống thường ngày chỉ bằng những kiến thức rất phổ thông mà không gây nhàm chán, xa lạ; lại có tác dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong môn học; làm cho hoá học không khô khan, bớt đi tính đặc thù và phức tạp. Trong phạm vi đề tài tôi kkông có tham vọng giải quyết mọi vấn đề trong thực tiễn có thể để “Nâng cao hiệu quả dạy và học môn hoá học bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học” mà chỉ nêu lên một vài suy nghĩ, đề suất của cá nhân coi đó là kinh nghiệm qua một số ví dụ minh hoạ, với mong muốn góp phần tạo ra và phát triển phương pháp dạy hoá học hiệu quả cao hơn qua các bài giảng hoá học. B/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Từ cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học, tôi đã thấy rằng: “Nâng cao hiệu quả dạy và học môn hoá học bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học” sẽ tạo hứng thú, khơi dậy niềm đam mê; học sinh hiểu được vai trò và ý nghĩa thực tiễn trong học hoá học. Để thực hiện được, người giáo viên cần nghiên cứu kỹ bài giảng, xác định được kiến thức trọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các vấn đề thực tế liên quan phù hợp với từng học sinh ở thành thị, nông thôn …; đôi lúc cần quan tâm đến tính cách sở thích của đối tượng tiếp thu, hình thành giáo án theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, phải mang tính hợp SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 1 Lớp: 08SHH Đề tài nghiên cứu khoa học GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh lý và hài hoà; đôi lúc có khôi hài nhưng sâu sắc, vẫn đảm nhiệm được mục đích học môn hoá học. Tuy nhiên, thời gian giành cho vấn đề này là không nhiều, “nó như thứ gia vị trong đời sống không thể thay cho thức ăn nhưng thiếu nó thì kém đi hiệu quả ăn uống ”. I/ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN: “Nâng cao hiệu quả dạy và học môn hoá học bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học” bằng cách: 1. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày, thường sau khi đã kết thúc bài học. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng đó, học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó? Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài học mới tiếp theo. 2. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường qua các phương trình phản ứng hoá học cụ thể trong bài học. Cách nêu vấn đề này có thể sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học. Giáo viên có thể giải thích để giải toả tính tò mò của học sinh. Mặc dù vấn đề được giải thích có tính chất rất phổ thông. 3. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thay cho lời giới thiệu bài giảng mới. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ, có thể là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình học tập. 4. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông qua các bài tập tính toán. Cách nêu vấn đề này có thể giúp cho học sinh trong khi làm bài tập lại lĩnh hội được vấn đề cần truyền đạt, giải thích. Vì muốn giải được bài toán hoá đó học sinh phải hiểu được nội dung kiến thức cần huy động, hiểu được bài toán yêu cầu gì? Và giải quyết như thế nào? SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 1 Lớp: 08SHH Đề tài nghiên cứu khoa học GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh 5. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông qua những câu chuyện ngắn có tính chất khôi hài, gây cười có thể xen vào bất cứ thời gian nào trong suốt tiết học. Hướng này có thể góp phần tạo không khí học tập thoải mái. Đó cũng là cách kích thích niềm đam mê học hoá. 6. Tiến hành tự làm thí nghiệm qua các hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường ở địa phương, gia đình … sau khi đã học bài giảng. Cách nêu vấn đề này có thể làm cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hay tự tái tạo lại kiến thức qua các thí nghiệm hay những lúc bắt gặp hiện tượng, tình huống đó trong cuộc sống. Giúp học sinh phát huy khả năng ứng dụng hoá học vào đời sống thực tiễn. 7. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường từ đó liên hệ với nội dung bài giảng để rút ra những kết luận mang tính quy luật. Làm cho học sinh không có cảm giác khó hiểu vì có nhiều vấn đề lý thuyết nếu đề cập theo tính đặc thù của bộ môn thì khó tiếp thu được nhanh so với gắn nó với thực tiễn hàng ngày. II/ CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC THỰC HIỆN: 1/ Để tổ chức thực hiện được giáo viên có thể dùng nhiều phương tiện, nhiều cách như: bằng lời giải thích, hình ảnh, đoạn phim, … có thể tiến hành dạy trong hoàn cảnh dùng máy chiếu hay không dùng máy chiếu … Điều này cần phụ thuộc vào điều kiện ở mỗi trường, căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể và phong cách dạy khác nhau để huy động tối đa. Vì hiệu quả giáo dục với nội dung đề tài này, có những kinh nghiệm có thể áp dụng cho người này nhưng có những phong cách không thể áp dụng cho giáo viên khác. Vì phong cách dạy “nó như tính cách của mỗi con người không thể ai cũng giống ai” nhưng đảm bảo được nội dung dạy học theo yêu cầu của chương trình. SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 1 Lớp: 08SHH Đề tài nghiên cứu khoa học GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh 2/ Một số ví dụ minh họa thông qua một số hiện tượng trong thực tiễn trong số hàng nghìn, hàng vạn hiện tượng, tình huống thực tiễn có thể áp dụng: * Ví dụ 01: Vai trò của Ozon trong đời sống và công nghiệp như thế nào? Ozon có khả năng “cải tạo” nước thải, có thể khử các chất độc như: Phenol, hợp chất Xianua, nông dược, chất trừ cỏ, các hợp chất hữu cơ gây bệnh … có trong nước thải và Ozon có thể tác dụng với các ion kim loại (sắt, thiếc, chì, mangan…) Biến nước thải thành nước sạch vô hại. Trên tầng cao khí quyển 10 − 30km quanh Trái đất, Ozon tồn tại thành một tầng khí quyển riêng, có khả năng hấp thụ tia tử ngoại phát ra từ mặt trời. Vì các tia tử ngoại làm cho người, động thực vật bị đột biến gen, gây bệnh nan y … Gần đây do công nghiệp phát triển, các nhà máy xuất hiện khí thải, động cơ phản lực … thải vào khí quyển một lượng bụi và khí ô nhiểm, thì Ozon lại góp phần oxi hoá chất gây ô nhiểm, cũng chính vì vậy tầng Ozon bị mỏng dần. Trong vòng 50 năm gần đây lượng Ozon mỏng đi khoảng 1%, có một số nơi tầng Ozon bị thủng và gây ra không ít hiện tượng như: bảo, lũ lụt, cháy rừng, bệnh nan y … Áp dụng: Đây là vấn đề có liện quan đế giáo dục môi trường và qua bài học, học sinh hiểu được tầm quan trọng của Ozon, vừa có ý thức bảo vệ môi trường và kích thích sự tìm hiểu về vấn đề này. Giáo viên có thể đưa vào bài giảng về phần Oxi (lớp 8 và lớp 10). * Ví dụ 02: Vì sao khi luộc rau muống nên cho vào trước một ít muối ăn (NaCl)? Do nhiệt độ sôi của nước ở áp suất 1at là 100 o C, nếu ta thêm NaCl thì lúc đó làm cho nhiệt độ của nước muối khi sôi (dung dịch NaCl loãng) là > 100 o C. Do nhiệt độ sôi của nước muối cao hơn của nước nên rau chín nhanh hơn, thời gian SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 1 Lớp: 08SHH Đề tài nghiên cứu khoa học GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh luộc rau không lâu nên rau ít mất vitamin. Vì vậy khi đó rau muống sẽ mềm hơn và xanh hơn. Áp dụng: Vấn đề này có thể có học sinh biết nhưng có học sinh không để ý và nếu được biết đến thì các em có thể tiến hành thí nghiệm ngay trong mỗi buổi nấu ăn, góp phần tạo thêm kinh nghiệm cho học sinh, rất thiết thực. Có thể đưa hiện tượng này vào trong bài: một số muối quan trong ở lớp 9, hợp chất muối clorua ở lớp 10 và hợp chất quan trọng của Natri ở lớp 12. * Ví dụ 03: Vì sao cồn có thể sát khuẩn? Cồn là dung dịch Ancol etylic (C 2 H 5 OH) có khả năng thẩm thấu rất cao, có thể xuyên qua màng tế bào tiến sâu vào trong gây đông tụ protein làm cho tế bào bị chết (Do protein là cơ sở sự sống của tế bào). Thực tế thấy rằng chỉ có cồn 75% là có khả năng sát trùng tốt nhất, vì nếu cồn > 75% thì nồng độ cồn quá cao làm cho protein bị đông tụ nhiều, làm protein trên bề mặt vi khuẩn đông cứng hình thành một lớp vỏ cứng ngăn không cho cồn thấm vào nên vi khuẩn không bị chết. Nếu cồn quá loãng (< 75%) thì hiệu quả sát trùng kém. Áp dụng: Trong y tế, cồn được sử dụng đại trà khi tiêm, rửa vết thương … nhưng có ít người quan tâm tại sao lại dùng cồn? Trong khi học, nếu học sinh được biết sẽ rất tốt cho cuộc sống. Giáo viên có thể đưa vấn đề này vào trong các tiết dạy về bài Ancol etylic (ở lớp 9 hay lớp 11). * Ví dụ 04: Tại sao không đựng dung dịch HF trong bình đựng bằng thủy tinh? Dung dich HF, tuy là axit yếu nhưng có tính chất đặc biệt là ăn mòn được thuỷ tinh. Do thành phần của thuỷ tinh chính là SiO 2 , khi cho dung dịch HF vào thì có phản ứng: 2 4 2 4 2SiO HF SiF H O+ → ↑ + SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 1 Lớp: 08SHH Đề tài nghiên cứu khoa học GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh Áp dụng: Đây là vấn đề bắt buộc trong quá trình dạy về Flo và tính chất của dung dịch HF (lớp 10), giúp học sinh giải đáp được bài tập, mà trong thực tiễn tránh đựng dung dịch HF trong bình thuỷ tinh khi gặp. * Ví dụ 05: Làm thế nào để khắc được thuỷ tinh? Muồn khắc thuỷ tinh, người ta nhúng thuỷ tinh vào sáp nóng chảy, lấy ra cho nguội, dùng vật nhọn tạo hình, chữ … cần khắc nhờ lớp sáp (nến) mất đi, rồi nhỏ dung dịch HF vào thuỷ tinh sẽ bị ăn mòn ở những nơi đã bị cạo đi lớp sáp. 2 4 2 4 2SiO HF SiF H O + → ↑ + Nếu không có dung dịch HF, ta có thay bằng dung dịch H 2 SO 4 đặc và bột CaF 2 (màu trắng). Nhúng thuỷ tinh vào sáp nóng chảy, lấy ra cho nguội, dùng vật nhọn tạo hình, chữ … cần khắc nhờ lớp sáp (nến) mất đi, rồi rắc bột CaF 2 vào chổ cần khắc, cho thêm H 2 SO 4 đặc vào và lấy tấm kính khác hoặc bìa cứng đặt lên trên khu vực khắc, sau 1 thời gian thuỷ tinh cũng sẽ bị ăm mòn những nơi cạo lớp sáp. Do: 2 2 4 4 2 2 ( ) 2CaF H SO Ca HSO HF + → + (dùng bìa cứng che) 2 4 2 4 2SiO HF SiF H O + → ↑ + Áp dụng: Đây là vấn đề thực tế với những gia đình, xí nghiệp kinh doanh và sản xuất thuỷ tinh . Không những cung cấp cho học sinh phương pháp khắc thuỷ tinh mà còn giải thích hiện tượng đó. Giúp học sinh sẽ nhớ đến bài học khi gặp vấn đề này. Thậm chí đây là cơ sở cho việc học nghề, khơi dậy niềm đam mê học tập và khám phá, càng tốt hơn nếu học sinh được tiến hành thí nghiệm. Giáo viên có thể đề cập đến trong bài giảng về Flo, dung dịch HF hoặc trong tiết thực hành (ở lớp 10). * Ví dụ 06: Vì sao lại không dùng xăng pha chì nữa? Xăng pha chì là thêm Tetraetyl chì có tác dụng tiết kiệm 30% xăng dầu khi sử dụng. Nhưng khí cháy trong động cơ, chì oxit bám vào các ống xả, thành xi SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 1 Lớp: 08SHH Đề tài nghiên cứu khoa học GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh lanh nên thực tế xăng còn hoà tan thêm vào Dibrom etan thì chì oxit sẽ bị chuyển thành Chì bromua (PbBr 2 ), dễ bay hơi, thoát ra khỏi xi lanh, ống xả, thải vào không khí làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Vì chì sẽ ở trong môi trường khí, tồn tại trong thực vật, động vật nên khi tiếp xúc với khí thải, động thực vật bị bệnh sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người. Ngoài ra hơi Brom bay ra gây nguy hiểm tới đường hô hấp, làm bỏng da. Hiện nay, nước ta đã không sử dụng xăng pha chì. Áp dụng: Hiện nay, nước ta không còn sử dụng xăng pha chì nữa, nhưng không ít một bộ phận học sinh và nhân dân không hiểu vì sao. Nên thông qua bài học liên quan, giáo viên có thể làm rõ tại sao. Vấn đề này có thể xen trong tiết dạy về dầu mỏ (ở lớp 9 hoặc lớp 11). * Ví dụ 07: Tục ngữ Việt Nam có câu: “Nước chảy đá mòn”, câu này mang hàm ý của khoa học hoá học như thế nào? Trong đá thông thường chủ yếu là CaCO 3 nên trong nước sẽ tồn tại phương trình điện ly: 2 2 3 3 (*)CaCO Ca CO + − + ƒ Khi nước chảy sẽ cuốn theo các ion 2 2 3 , Ca CO + − , theo nguyên lý chuyển dịch cân bằng hoá học thì cân bằng (*) chuyển dịch theo phía chống lại sự giảm nồng độ 2 2 3 , Ca CO + − (chiều thuận) nên theo thời gian nước chảy qua đá sẽ mòn dần. Có thể giải thích bổ sung thêm nguyên nhân khác: Vì trong nước có lẫn khí CO 2 nên sẽ xảy ra phản ứng: ( ) 3 2 2 3 2 CaCO CO H O Ca HCO+ + → . Khi nước chảy sẽ cuốn Ca(HCO 3 ) 2 trôi theo, qua thời gian đá sẽ bị mòn dần. Áp dụng: Hiện tượng này thường thấy ở những phiến đá ở những dòng chảy đi qua. Nếu không để ý, trong xây dựng sẽ có ảnh hưởng không ít. Góp phần hiểu được dụng ý của khoa học của câu tục ngữ, làm cho hoá học trở nên gần gủi, có SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 1 Lớp: 08SHH Đề tài nghiên cứu khoa học GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh hồn văn hơn. Giáo viên có thể xen vấn đề này trong khi dạy đến phần về muối CaCO 3 (ở lớp 9, lớp 11 hay lớp 12). * Ví dụ 08: Cao dao Việt Nam có câu: “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ, Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên” Câu này mang hàm ý của khoa học hoá học như thế nào? Câu ca dao nhắc nhở người làm lúa: Vụ chiêm khi lúa đang trổ đòng đòng mà có trận mưa rào, kèm theo sấm chớp thì sẽ rất tốt và cho năng suất cao sau này. Do trong không khí có ~ 80% khí N 2 và ~ 20% khí O 2 , khi có chớp (tia lửa điện) sẽ tạo điều kiện cho N 2 hoạt động: 3000 2 2 N 2 o C O NO+ → Sau đó: 2 2 2 2NO O NO+ → Khí NO 2 sẽ tan vào trong nước mưa: 2 2 2 3 4 2 4NO O H O HNO+ + → 3 3 HNO H NO + − → + Nhờ hiện tượng này, hàng năm làm tăng 6 − 7 kg N cho mỗi mẫu đất. Ngày nay, người ta đã điều chế Ure [(NH 2 ) 2 CO] từ không khí để chủ động bón cho cây trồng. Trong nền nông nghiệp hiện đại cần phải dùng nhiều phân bón và nhiệm vụ của nghành công nghiệp hoá chất “hướng về không khí đòi lương thực” là càng lớn. Áp dụng: Đây là một câu ca dao mang một ý nghĩa thực tiễn, thấy rõ trong đời sống. Vấn đề này có thể xen vào trong tiết dạy phân đạm (ở lớp 9 hay lớp 11). Tạo cho học sinh khu vực làm nông nghiệp có thể tiện kiểm nghiệm trong đời sống, tự quan sát. * Ví dụ 09: Hiện tượng tạo hang động và thạch nhũ với những hình dạng phong phú đa dạng như thế nào? SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 1 Lớp: 08SHH . nó thì kém đi hiệu quả ăn uống ”. I/ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN: Nâng cao hiệu quả dạy và học môn hoá học bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có. B/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Từ cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học, tôi đã thấy rằng: Nâng cao hiệu quả dạy và học môn hoá học bằng việc giải thích các hiện tượng

— Xem thêm —

Xem thêm: KINH NGHIỆM DẠY HỌC - NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY MÔN HÓA HỌC BẰNG CÁCH GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG THỰC TẾ, KINH NGHIỆM DẠY HỌC - NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY MÔN HÓA HỌC BẰNG CÁCH GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG THỰC TẾ, KINH NGHIỆM DẠY HỌC - NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY MÔN HÓA HỌC BẰNG CÁCH GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG THỰC TẾ

Lên đầu trang

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.093801975250244 s. Memory usage = 13.99 MB