Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng, đói nghèo

Kira
Kira(23338 tài liệu)
(406 người theo dõi)
Lượt xem 7
0
Tải xuống 5,000₫
(Lịch sử tải xuống)
Số trang: 29 | Loại file: DOC
0

Gửi bình luận

Bình luận

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 21/01/2014, 10:42

Mô tả: HALLEY COMET GROUPMỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU 2I, MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ MỨC ĐỘĐÁP ỨNG PHÚC LỢI CHO CON NGƯỜI 3II. BẤT BÌNH ĐẲNG 41, Các thước đo bất bình đẳng 42, Các mô hình về sự bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế 63. Bất bình đẳng về thu nhập giữa các nước và trong từng nước 104. Bất bình đẳng giới 135. Bất bình đẳng về sức khỏe 146. Bất bình đẳng về giáo dục 16III. NGHÈO ĐÓI 171. Bản chất của nghèo 172. Nghèo khổ về thu nhập 183. Nghèo tổng hợp 204. Đói và nghèo 215. Cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo 24IV. CÁC CHÍNH SÁCH LÀM GIẢM BẤT BÌNH ĐẲNG Ở VIỆT NAM 261HALLEY COMET GROUPLỜI MỞ ĐẦUChúng ta đang sống trong một thế giới đầy rẫy những bất bình đẳng về cơ hội,trong từng nước, cũng như giữa các nước. Ngay cả những cơ hội cơ bản để được sốngcũng được phân bố rất không đồng đều. Trong khi có chưa đến 0.5% số trẻ em sinh raở Thụy Điển phải chết trước khi tròn một tuổi thì có đến gần 15% số trẻ em sinh ra ởMôdămbich không thể vượt qua ngưỡng tuổi này. Ngay ở En Xavando, tỷ lệ tử vong ởtrẻ sơ sinh trong số con cái của những bà mẹ có trình độ chỉ là 2% nhưng với con cáicủa những bà mẹ thất học thì lên đến 100%. Ở Eritoria, diện tiêm chủng đối với trẻ emtrong 20% dân số giàu nhất đạt gần 100% nhưng đối với 20% dân số nghèo nhất chỉ là50%.Những trẻ em này không thể chịu trách nhiệm về những hoàn cảnh sinh ra chúng,nhưng chính những hoàn cảnh đó đã góp phần định hình rất lớn cho cuộc sống củachúng- và khả năng mà chúng đóng góp vào sự phát triển của chính quốc gia đó.Và ngày nay, bên trong mục tiêu của mỗi quốc gia thì tăng trưởng không còn làmục tiêu hàng đầu nữa mà bây giờ, tất cả các quốc gia đều hướng tới mục tiêu “pháttriển bền vững” tức phát triển phải có tính toàn diện- nó phải cân đối một cách thànhcông giữa các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu về xã hội và môi trường. “Phát triểnthực sự” mnag nhiều ý nghĩa hơn nhiều so với việc chỉ đơn giản là tăng trưởng kinhtế. Giữa các quốc gia và thậm chí là giữa các cá nhân, nhận thức về phát triển có thểkhác nhau, nhưng thông thường phát triển vượt ra ngòai mục tiêu tăng mức thu nhậptrung bình và bao hàm cả những vấn đề như: tự do, bình đẳng, y tế, giáo dục, môitrường an toàn và nhiều vấn đề khác nữa.Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đó, dưới sự giúp đỡ của Th.s PhạmVăn Linh, nhóm chúng tôi- HALLEY COMET GROUP đã tiến hành nghiên cứu đềtài “ Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng,đói nghèo” với những ví dụ thực tế trên toàn thế giới nói chung và ở Việt Nam nóiriêng, cũng như những chính sách của Chính phủ để thực thi quan điểm này.Do kinh nghiệm và năng lực có hạn nên chúng tôi không thể tránh khỏi những saisót, rất mong thầy giáo và các bạn đóng góp, cho ý kiến để chúng tôi sửa chữa, bổsung hoàn thiện bài viết hơn.Xin chân thành cảm ơn!2HALLEY COMET GROUPI, MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNGPHÚC LỢI CHO CON NGƯỜI.Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu chung của tất cả các nước trên thế giới hiện nay.Tuy nhiên, từ những năm 70 trở lại đây, tăng trưởng không còn là mục tiêu duy nhấttrong chiến lược phát triển con người của các quốc gia mà sự ưu tiên đó đã đượcchuyển hướng sang các mục tiêu kinh tế, xã hội lớn hơn như xóa đói giảm nghèo, giảmsự chênh lệch về thu nhập. Xuất phát từ thực tế là tăng trương kinh tế chỉ làm tăngphúc lợi xã hội cho người ngèo, trong khi đó đời sống của phần lớn dân cư khôngđược cải thiện, cùng với việc nghiên cứu các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển, cácnhà kinh tế đều thống nhất về nguyên nhân chính của việc tăng trưởng kinh tế nhanhnhưng không đi đôi với cải thiện, nâng cao phúc lợi cho đa số dân chúng những ngườinghèo xuất phát từ phân phối thu nhập.Có thể nói tăng trưởng (GDP) là điều kiện cần nhưng chưa đủ để làm cho phúclợi xã hội được phân phôi rộng rãi hơn. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển bền vững củamột quốc gia, chính phủ các nước không chỉ cần gia tăng tốc độ phát triển mà còn phảiquan tâm trực tiếp đến việc “ phân phối thu nhập” Để đánh giá ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế nếu mức độ đảm bảo phúc lợi xãhội cho người dân, cần nghiên cứu phương thức phân phối thu nhập để biết đượcnguồn gốc và giá trị của thu nhập mà người dân có được. Có hai phương thức phânphối thu nhập là: phân phối thu nhập theo chức năng và phân phối lại thu nhậpPhân phối theo chức năng có liên quan đến sự phân chia thu nhập theo các yếutố sản xuất khác nhau như lao động ( theo trình độ khác nhau) máy móc thiết bị, vốnsản xuất, đất đai…Được xác định chủ yếu dựa vào quyền sở hữu các yếu tố sản xuấtvà vai trò của từng yếu tố trong quá trình sản xuất. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫnđến mức độ phúc lợi khác nhau giữa các nhóm dânPhân phối lại thu nhập thường được thực hiện qua đánh thuế thu nhập, cácchương trình trợ cấp và chi tiêu công cộng của chính phủ nhằm giảm bớt mức thu nhậpcủa người giàu và nâng cao thu nhập của người nghèo. Nhưng đây không phải làphương thức cơ bản để nâng cao thu nhập của đại bộ phận dân cư.3HALLEY COMET GROUPII. BẤT BÌNH ĐẲNG1, Các thước đo bất bình đẳng Đường cong LORENZT: Trên đồ thị:- Đường chéo 45 độ thể hiện sự phân phối thu nhập “ hoàn toàn công bằng”- Đường Lorenzt: thể hiện mối quan hệ định lượng thực sự giữa tỷ lệ % thu nhậpvà tỷ lệ % trong tổng thu nhập- Khoảng cách giữa đường chéo 45% và đường Lorenzt cho biết mức độ bất bìnhđẳng- Đường Lorenzt càng cách xa đường 45 độ thì mức độ bất bình đẳng càng lớn,và ngược lại.- Hạn chế của đường cong Lorenzt là không lượng hóa được mức độ bất bìnhđẳng và trong trường hợp so sánh hai cách phân phối thu nhập ( 2 quốc gia ),nếuđường Lorenzt tương ứng với hai quốc gia đó cắt nhau thì không thể xếp hạng sự bấtbình đẳng.4HALLEY COMET GROUPĐường màu xanh: đường bất bình đẳng tuyệt đối.Đường màu đỏ: đường Lorenzt.Hệ số GINI- Hệ số gini là thước đo được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu thực nghiệm,được tính bằng tỷ số giữa diện tích được giới hạn bởi đường Lorenzt và đường 45 độvới diện tích tam giác nằm bên dưới đường 45 độ- Công thức tính như sau: Hệ số GINI (G ) = Diện tích ( A ) /(Diện tích ( B )-Về lý thuyết, hệ số GINI nhận giá trị biến thiên từ 0 đến 1, song về thực tế,GINI nhận giá trị trong khoảng lớn hơn 0 và nhỏ hơn 1 ( 0< G < 1 )- Dựa vào những số liệu thu nhập được, Ngân hàng thế giới cho rằng trong thựctế giá trị của hệ số GINI thay đổi trong phạm vi hẹp hơn: từ 0,2 đến 0,6. Với nhữngnước có thu nhập thấp hệ số GINI biến động từ 0,3 đến 0,5, những nước có thu nhậpcao từ 0,2 đến 0,4.- Hạn chế: Tuy hệ số GINI đã lượng hóa được mức độ bất bình đẳng về phânphối thu nhập, nhưng các nhà kinh tế nhận thấy rằng hệ số GINI cũng mới chỉ phảnánh được mặt tổng quát nhất của sự phân phối, trong một số trường hợp chưa đánh giáđược những vấn đề cụ thể.5HALLEY COMET GROUP2, Các mô hình về sự bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế* Mô hình chữ U ngược của Simon KuznetsSimon Kuznets, nhà kinh tế học Mỹ năm 1995 đã đưa ra một mô hình nghiên cứumang tính thực nghiệm nhằm xem xét giữa thu nhập và tình trạng bất bình đẳng trongphân phối thu nhậpÔng đã đưa ra giả thiết rằng: Bất bình đẳng sẽ tăng ở giai đoạn ban đầu và giảmở giai đoạn sau khi lợi ích của sự phát triển được lan tỏa rộng rãi hơn.-Giai đoạn kém phát triển: G thấp.- Giai đoạn phát triển trung bình: G tăng cao.- Giai đoạn phát triển: G thấp.G tăng là do các nước hầu hết đang trong quá trình phát triển trung bình chính vìthế mà G thế giới tăng.- Ở các nước kém phát triển: G từ 0,3 đến 0,5.Các nước phát triển trung bình: G từ 0,4 đến 0,6.Các nước phát triển: G từ 0,2 đến 0,4.Vì vậy, các nước phát triển trung bình và các nước phát triển cần ưu tiên nhiềucho vấn đề giải quyết phúc lợi.Tuy nhiên Mô hình chữ U ngược còn có những hạn chế là không giải thích được2 vấn đề quan trọng: Thứ nhất, những nguyên nhân cơ bản nào tạo ra sự thay đổi bấtbình đăng trong quá trình phát triển. Thứ hai, phạm vi khác biệt giữa các nước về xuthế thay đổi này trong điều kiện họ sử dụng các chính sách khác nhau tác động đếntăng trưởng và bất bình đẳng?6HALLEY COMET GROUP* Mô hình tăng trưởng trước, bình đẳng sau của A.LEWISMô hình A.Lewis nghiên cứu về phân phối thu nhậpMô hình cũng nhất trí với Kuznets về nhận xét cho rằng sự bất bình đẳng sẽ tănglên lúc đầu và sau đó giảm bớt khi đã đạt được mức độ phát triển nhất định. Nhưngtiến thêm một bước , mô hình đã giải thích được nguyên nhân của xu thế này.Trước hết, sự bất bình đẳng tăng lên ở giai đoạn đầu bởi vì cùng với việc mởrộng quy mô sản xuất công nghiệp, số lượng lao đông được thu hút vào làm việc ở khuvực này ngày càng tăng thêm nhưng tiền công của công nhân nói chung vẫn ở mức tốithiểu. Như vậy, trong khi mức tiền công của công nhân không thay đổi thì thu nhậpcủa các nhà tư bản vừa tăng lên do quy mô mở rộng, vừa tăng lên do lao động củacông nhân đưa lại. Ở giai đoạn sau bất bình đẳng giảm bớt do khi lao đông dư thừađược thu hút hết vào khu vực thành thị( sản xuất công nghiệp và dịch vụ ), khi đó, laođộng trở thành yếu tố khan hiếm trong sản xuất. Nhu câu lao đông ngày càng tăng lênđòi hỏi phải tăng tiền lương như vậy sẽ dẫn đến giảm bớt sự bất bình đẳng.7HALLEY COMET GROUPTrong mô hình này thì sự bất bình đẳng không chỉ là kết quả của tăng trưởngkinh tế mà còn là điều kiện cần thiết của tăng trưởng. Sự bất bình đẳng ở đây cũng cónghĩa là các nhà tư bản và nhóm người có thu nhập cao sẽ nhận được nhiều hơn.Không chỉ có sự bất bình đẳng đóng góp vào tăng trưởng mà các nhà kinh tếtrong mô hình này còn cho rằng các cố gắng để phân phối lại thu nhập “ một cách hấptấp, vội vã” cũng dẫn đến nguy cơ bóp nghẹt tăng trưởng kinh tế.Theo quan điểm của Lewis, bất bình đẳng là điều kiện để người giàu tăng tíchlũy, tăng đầu tư, do đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên cũng có quan điểmcho rằng: một mức độ phân phối lại hợp lý thực sự có thể tăng cường tiết kiệm và thúcđẩy tăng trưởng kinh tế. Khi thu nhập tăng, tỷ lệ tiết kiệm tăng, trong trường hợp nàybất bình đẳng tăng sẽ dẫn đến tiết kiện tăng, bất bình đẳng giảm sẽ kìm hãm tiết kiệm.Hoặc khi thu nhập tăng, tỷ lệ tiết kiệm biên giảm dần, khi đó nếu bất bình đẳng giảmsẽ làm tăng tiết kiệm trong nền kinh tế. Điều này được rút ra từ các số liệu nghiên cứucủa các nước đang phát triển, ở những nước này có xu hướng là, khi người giàu tăngthu nhập, nhu cầu tiêu dùng của họ tăng cao ( hướng vào những hàng hóa xa xỉ ). Vìthế, xu hướng tiết kiệm biên rất thấp và tỷ lệ tiết kiệm trung bình của họ có thể thấphơn những người kém giàu có hơn. Như vậy rõ ràng với những nước đang phát triển thì việc giảm bất bình đẳng sẽthúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tiết kiệm đầu tư. Hay nói cách khác có thể kếthợp giữa công bằng và tăng trưởng kinh tế.* Mô hình tăng trưởng đi đôi với bình đẳng của H.Oshima.Ý tưởng cơ bản của sự tăng trưởng đi đôi với bình đẳng dựa vào cách đặt vấn đề:- Có thể hạn chế dự bất bình đẳng ngay từ giai đoạn đầu của tăng trưởng đượckhông? Oshima đã xuất phát từ đặc điểm sản xuất nông nghiệp ở Châu Á, đó là sản xuấtlúa nước có tính thời vụ cao và cho rằng quá trình tăng trưởng cần được bắt đầu từ khuvực nông nghiệp. Chính trong quá trình này sẽ dẫn đến hạn chế sự bất bình đẳng trongqua trình tăng trưởng. Theo Oshima, trước hết khoảng cách thu nhập giữa nông thônvà thành thị sẽ được cải thiên ngay từ giai đoạn đầu. Việc tập trung phát triển khu vực8HALLEY COMET GROUPnông thôn dựa trên chính sách cải cách ruộng đất, dựa trên sự trợ giúp của nhà nước vềgiống, kỹ thuật, đồng thời việc mở rộng và phát triển các ngành nghề đã làm cho thunhập ở khu vực nông thôn được tăng dần. Tiếp đó là quá trình cải thiện dần khoảngcách thu nhập giữa thu nhập có quy mô lớn và xí nghiệp có quy mô nhỏ ở thành thị,cũng như giữa nông trại lớn và nông trại nhỏ ở nông thôn- Vậy điều này đã tác đông như thế nào đến tăng trưởng?Theo Oshima, tiết kiệm sẽ được tăng lên ở các nhóm dân cư, kể các nhóm có thunhập thấp nhất, vì thu nhập ở họ dần dần thỏa mãn các khoản chi và khi đó họ bắt đầutiết kiệm để trả nợ các khoản vay đầu tư trước đó và tiếp tục đầu tư phát triển sản xuấtvà đầu tư giáo dục đào tạo cho con em họ.* Mô hình phân phối lại cùng tăng trưởng kinh tế (của ngân hàng thế giới WB).Quan điểm này về cơ bản cũng cho rằng: Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bìnhđẳng hay tăng trưởng kinh tế đi đôi với giải quyết các vấn đề phúc lợiPhân phối lại cùng với tăng trưởng kinh tế là cách thức phân phối lại các thànhquả của tăng trưởng kinh tế sao cho cùng với thời gian, phân phối thu nhập cần đượccải thiện hoặc ít nhất là không xấu đi trong quá trình tăng trưởng vẫn tiếp tụcGiải pháp phân phối lại thu nhập được xem là quan trọng, nó bao gồm chính sáchphân phối lại tài sản và chính sách phân phối lại từ tăng trưởngCần phải có những chính sách phân phối lại tài sản vì: Nguyên nhân cơ bản củatình trạng bất công trong phân phối thu nhập của các cá nhân hầu hết các nước đangphát triển là do sự bất công trong sở hữu tài sản, gần 20% dân số nhận được hơn 50%thu nhập vì 20% này có thể đã sở hữu và kiểm soát trên 70% các nguồn lực sản xuất,đặc biệt là vốn vật chất,đất đai, thậm chí cả vốn nhân lực. Chính sách đã được áp dụngphổ biến ở các nước đang phát triển để phân phối lại tài sản là chính sách cải cáchruộng đất, chính sách nhằm tăng cường cơ hội giáo dục cho nhiều người. Tuy nhiêntrong thực tế, các chính sách nói trên như chính sách cải cách ruộng đất chỉ thực sự làcông cụ có tác động đối với phân phối lại thu nhập khi có sự kết hợp với các chínhsách tín dụng nông nghiệp nông thôn, chính sách tiêu thụ nông sản, chính sách côngnghệ.9HALLEY COMET GROUP3. Bất bình đẳng về thu nhập giữa các nước và trong từng nướcKhía cạnh tăng trưởng và phân phối thu nhập luôn là một chủ đề gây tranh cãi,bắt đầu từ giả thuyết hình chữ U ngược của Kurznets( 1955) về bất bình đẳng trongphân phối thu nhập gắn với quá trình tăng trưởng. Theo Kurznets, bất bình đẳng cóthể là một hệ quả của quá trình tăng trưởng. Thế nhưng, một khi xã hội đã phát triểntới một mức cao nhất định, mứuc độ bất bình đẳng sẽ giảm đi, lúc đó, thu nhập vàphúc lợi có xu hướng được phân phối công bằng hơn.Tuy vậy, nhiều kiểm định thực tế đã không nghiêng về giả thuyết này: bất bìnhđẳng về phân phối thu nhập không những khoong giảm đi mà còn tăng lên hoặc giữ ởmức cao ngay cả ở nhiều nền kinh tế phát triển như Anh, Mỹ. Để giải quyết bất lợinày, các nước phát triển đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau. Các nước có nền kinhtế thi trường tự do như Mỹ, Anh có phần thiên về áp dụng các biện pháp trực tiếp,trong khi các nước công nghiệp Châu Âu, cả hai loại biện pháp: trực tiếp( như thôngqua thuế thu nhập cá nhân, trợ cấp ) và gián tiếp( như cung cấp các dịch vụ giáo dục,y tế nhằm tạo cơ hội cho người có thu nhập thấp tham gia vào quá trình tăng trưởng)đều được thực hiện.Từ cuối thập kỉ 70 của thế kỉ 20 đến nay, tác đông của khía cạnh phân phối tớităng trưởng trở thành một chủ đề mang tính thời sự khi bàn về tăng trưởng của cácnước đang phát triển. Sử dụng mô hình tăng trưởng nội sinh, nhiều nghiên cứu gần đâyvề một số nước( Galor& Zria, Stighliz, Aghilon, Caroli và Garci- Denalosa, Barro) đãtìm ra mối quan hệ ngược chiều giữa bất bình đẳng trong phân phối thu nhập với tăngtrưởng kinh tế. Các chính sách nhằm tạo thu nhập bình đẳng hơn bằng cách phân phốicơ hội một cách công bằng hơn sẽ thúc đẩy tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo. Phân phối thu nhập công bằng hơn ở các nước đang phát triển đựoc coi là có lợicho tăng trưởng kinh tế trong dài hạn được giải thích qua bốn giả thuyết sau đây:- Thứ nhất, nhiều nghiên cứu gần đây cho rằng, nguời giàu ở các nước phát triểnchưa thực sự muốn tiết kiệm để đầu tư vào nền kinh tế trong nước. Xu thế dễ nhậnthấy là người giàu muốn tiêu dùng hàng hóa xa xỉ. Loại tiết kiệm và đầu tư này khôngđóng góp nhiều vào tăng tiềm lực sản xuất của quốc gia, thậm chí là một sự lãng phínguồn lựcvốn đã ít ỏi ở các nước này. Với hành vi tiêu dùng này, nếu chiến lựợc phát10

— Xem thêm —

Xem thêm: Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng, đói nghèo , Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng, đói nghèo , Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng, đói nghèo

Lên đầu trang

Mục lục

Tài liệu liên quan

Từ khóa liên quan

Đăng ký

Generate time = 0.11824297905 s. Memory usage = 13.97 MB